Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện Hạt nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện Hạt nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

GS. PHẠM DUY HIỂN LÊN TIẾNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN


GS Phạm Duy Hiển: 
Với điện hạt nhân, phải nói cho đúng!

(Quan điểm) - "Trước mắt, việc khởi công nhà máy ĐHN đầu tiên năm 2014 coi như hỏng? Muốn khởi công phải có tài liệu, có thiết kế, luận chứng… trong khi hiện tại chưa có gì. Nếu nỗ lực một cách nghiêm túc, sớm nhất là năm 2018 mới có thể khởi công. Tôi cho rằng càng chậm càng tốt vì đến năm 2030 sẽ có những loại lò phản ứng rất hiện đại".
Nhân việc Nhật Bản dừng lò phản ứng điện hạt nhân cuối cùng, GS Phạm Duy Hiển, chuyên gia hàng đầu về ĐHN tại Việt Nam bàn tới việc xây dựng nhà máy ĐHN ở Việt Nam..

Nhật Bản tạm dừng hạt nhân vì nghe dân

PV: – Thưa ông, vào sáng 16/9 Nhật Bản đã chính thức đưa ra thông tin dừng lò phản ứng điện hạt nhân cuối cùng tại Ohi và không đưa ra khung thời gian có thể tái khởi động, dù điện hạt nhân chiếm 30% nguồn cung năng lượng của đất nước này. Theo ông, đây có phải là quyết định dễ dàng với Nhật Bản? Và tại sao lãnh đạo nước này phải đưa ra quyết định như vậy?

GS Phạm Duy Hiển: - Đây là một vấn đề phức tạp, nhất là hiện nay đã có hiện tượng rò rỉ phóng xạ xung quanh nhà máy điện hạt nhân Fukushima. Theo kết luận của Chính phủ Nhật Bản, mức độ phóng xạ xung quanh nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã cao hơn tới 18 lần so với những báo cáo trước đó mà Công ty điện lực Tokyo Nhật Bản (Tepco) ghi nhận.

Việc Tepco mập mờ về thông tin như vậy khiến người dân càng thêm không yên tâm. Sự thực cũng phải thừa nhận rằng, họ đã cố gắng hết sức nhưng chuyện phóng xạ là tế nhị và nhạy cảm, còn dân thì không thể hiểu hết được.

Cho nên, nói tuyên truyền về hạt nhân chỉ là nói vậy thôi, chứ thực chất vấn đề phức tạp hơn rất nhiều. Tại sao điện hạt nhân lại bị phản đối nhiều như thế, là vì không có nhiều người hiểu biết về nó, trong khi đi tuyên truyền lại không chừng mực.

Nhật Bản đang gặp phải vấn đề như vậy. Nếu Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục điện hạt nhân, người dân không nghe, dù họ biết rõ, thiếu điện thì giá điện sẽ tăng lên.  Theo tôi, chắc chắn cuối cùng Nhật Bản sẽ cho một số lò chạy thôi nhưng muốn làm thế thì người dân địa phương phải đồng thuận.
 
Thủ tướng Nhật Bản  Shinzo Abe (mũ đỏ) thị sát nhà máy Fukushima 1 và hối thúc tập đoàn tháo dỡ hai lò phản ứng còn lại của nhà máy
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (mũ đỏ) thị sát nhà máy Fukushima 1 và hối thúc tập đoàn tháo dỡ hai lò phản ứng còn lại của nhà máy

PV: - Tại Việt Nam, sự việc Lâm Đồng nhắc đi nhắc lại rằng “sợ” điện hạt nhân thời gian gần đây khiến dư luận không khỏi lo ngại (lò phản ứng trong Trung tâm hạt nhân có công suất bằng 1/100 một lò hạt nhân xây dựng ở Ninh Thuận). Thưa ông, phản ứng của Lâm Đồng và dư luận thể hiện điều gì trong thái độ của người dân với điện hạt nhân? Khi tâm lý người dân chưa thật sẵn sàng như vậy, liệu Việt Nam có thể học theo Nhật Bản?

GS Phạm Duy Hiển: - Cách đây hơn một năm, khi tổng kết thảm họa Fukushima, người ta nói rằng: “Đừng nói với người dân rằng điện hạt nhân là an toàn, mà hãy nói hãy tin chúng tôi. Chúng tôi sẽ cố gắng làm cho nó an toàn”. Phải nói cho đúng để người dân tin. Điều này tôi cũng đã từng nói với những người có trách nhiệm, và cả những người nghiên cứu về ĐHN nhưng không biết người ta nghe đến đâu.

Trên thực tế, sau sự cố Fukushima, nhiều nước vẫn làm ĐHN chứ không phải quay lưng hẳn. Nhưng vấn đề làm như thế nào thì các nước được lưu ý rất kỹ.

ĐHN càng chậm càng tốt

PV:Bất chấp nhiều cảnh báo, ĐHN vẫn được coi như là lời giải cho việc thiếu năng lượng của Việt Nam trong 20 năm tới. Đến thời điểm này, theo ông đánh giá, Việt Nam đã làm được những gì và còn thiếu những gì để có thể phát triển điện hạt nhân một cách an toàn? Nhìn vào xu hướng thế giới như vậy, Việt Nam nên có những điều chỉnh như thế nào?

GS Phạm Duy Hiển: - Chính phủ Việt Nam đã ký kết với nước ngoài, quyết làm điện hạt nhân nên giờ rất khó biết phải nói thế nào. Nhưng chuyên gia nếu nói thì cũng phải nói cho đúng sự thật.

Nói nếu có sự cố thì Việt Nam có thể sẽ bị chia cắt ra làm đôi, trong khi xuất khẩu, kinh tế bị tê liệt ngay tức khắc và toàn bộ dải đất miền Trung sẽ bị ô nhiễm phóng xạ bao trùm trong nhiều năm nếu xảy ra một thảm họa hạt nhân như vụ Tchernobyl hay Fukushima cũng không chuẩn. Nói kiểu ‘an toàn tuyệt đối’ cũng là sai. 

Vậy Việt Nam cần phải làm gì? Chỉ có cách làm đúng luật, đúng khả năng, không được chạy theo tiến độ. Trước mắt, việc khởi công nhà máy ĐHN đầu tiên năm 2014 coi như hỏng? Muốn khởi công phải có tài liệu, có thiết kế, luận chứng… trong khi hiện tại chưa có gì.

Nếu nỗ lực một cách nghiêm túc, sớm nhất là năm 2018 mới có thể khởi công. Tôi cho rằng càng chậm càng tốt vì đến năm 2030 sẽ có những loại lò phản ứng rất hiện đại.

Hiện tại, Việt Nam phải đối diện với vấn đề: làm sao để có đủ nguồn nhân lực? Thách thức lớn nhất với chúng ta là vấn đề này.

Trong việc phục vụ cho chương trình ĐHN, phải đào tạo được: chuyên gia vận hành lò phản ứng (để vận hành một lò phản ứng như của Nga, phải cần ít nhất là 300 hoặc 400 người, trong đó phải có những người đứng đầu biết xử lý mọi tình huống, tức phải là những người có kinh nghiệm);

Chuyên gia thẩm định dự án và giám sát thi công; chuyên gia có kinh nghiệm ở các cơ quan pháp quy độc lập với nhà máy (phải làm trong nghề ít nhất 10 năm sau khi tốt nghiệp đại học). Hiện Việt Nam chưa có những người như vậy.
 
GS Phạm Duy Hiển: Làm ĐHN bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy.
GS Phạm Duy Hiển: Làm ĐHN bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy.

Về chuyện đào tạo trong nước, tuy Chính phủ đã chuẩn chi 3 ngàn tỷ đồng cho dự án này nhưng ai sẽ làm thầy? Trong thế hệ “trẻ” hiện nay chưa ai từng kinh qua những trường đào tạo về hạt nhân nghiêm chỉnh, những chuyến xuất ngoại vài ba tuần lễ chỉ đủ để cưỡi ngựa xem hoa.

Vậy làm sao họ có thể đào tạo các chuyên gia ĐHN? Mà trong chương trình lại thấy đào tạo cả thạc sỹ, tiến sỹ nữa? Tiến sĩ chỉ là những người nghiên cứu, chứ vào nhà máy ĐHN để làm gì ở đó?!.

Tôi nghĩ lúc này, không còn cách nào khác, chúng ta phải đối diện thẳng với việc cấp tốc làm thế nào để cho có người làm ĐHN.  Chúng ta cứ làm đi rồi sẽ thấy ta không làm nổi theo tiến độ đã đề ra, không thể đến năm 2020 đã có điện hạt nhân.

Nhiều người nghĩ rằng họ có thể làm được đủ mọi việc. Nhưng với ĐHN, khi bắt đầu vào những việc cụ thể, người ta mới thực sự thấy không giống như khi xây dựng đề án trên giấy.

Ngay từ đầu tôi đã nói điều này và đến bây giờ những người trực tiếp làm ĐHN đang phải đối mặt với chính vấn đề đó. Rất nhiều cán bộ trước đây hào hứng khi Quốc hội thông qua chủ trương làm ĐHN nhưng bây giờ bắt đầu hiểu ra rằng những cảnh báo trước đây là có thật.

Trước đây, trong giới khoa học, có lẽ chỉ mình tôi không ủng hộ việc làm ĐHN, bây giờ đã có nhiều người thừa nhận những lo ngại là có căn cứ.

PV:Một chuyên gia về năng lượng đã tính toán, nếu Việt Nam thay đổi nền kinh tế tiêu thụ năng lượng vô lối, không hiệu quả như hiện nay, rồi tính toán lại nhu cầu điện năng thực tế, có thể Việt Nam sẽ không cần viện tới điện hạt nhân. Ông nghĩ như thế nào về thông tin này? Liệu có nên coi đây là một gợi ý đáng cân nhắc để giải bài toán năng lượng ở Việt Nam mà không phải bằng mọi giá phát triển điện hạt nhân dù hoàn cảnh thực tế chưa phù hợp?

GS Phạm Duy Hiển: - Có chứ nhưng người ta không muốn làm. Đã có số liệu chứng minh Việt Nam sử dụng năng lượng không hiệu quả nhất thế giới. Năm ngoái tăng trưởng kinh tế chỉ có 5,3% trong khi điện xài đến 12,5%, tức là điện hơn gấp đôi tăng trưởng. Tại sao trong cùng một đất nước mà điện năng ở TP Hồ Chí Minh chỉ tăng 7%/năm, tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, trong khi Hà Nội lại tăng đến 17%/năm, Quảng Ninh 21%?

Thông thường khi các nhà quy hoạch xây dựng lộ trình phát triển điện phải căn cứ để GDP tăng thêm 1% điện phải tăng thêm bao nhiêu %, con số này được gọi là hệ số đàn hồi (HSĐH). Chính hệ số này nói lên hiệu quả sử dụng điện của nền kinh tế. Nó càng bé, nền kinh tế càng hiệu quả, đất nước càng hiện đại.

Khát điện như Trung Quốc mà họ cũng thấy rằng HSĐH suýt soát 1 là quá lãng phí. Nhận ra mối nguy, trong kế hoạch 2006-2010 họ kiên quyết giảm tốc độ tăng trưởng điện xuống trong khi vẫn bảo đảm tăng trưởng kinh tế mạnh.

Riêng trong hai năm 2008-2009, lượng điện thương phẩm của Trung Quốc chỉ tăng 6%/năm trong khi GDP tăng gần 10%/năm. Hai con số này ngược hẳn với ta: GDP tăng chưa đầy 6%/năm nhưng điện lại tăng đến 13%/năm.

Việt Nam cần xác định đúng thủ phạm gây lãng phí điện năng và có biện pháp xử lý. Năm 2010 và 2011, khi kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp phá sản khiến cho tiêu thụ điện giảm hẳn, hệ số đàn hồi điện/GDP giảm xuống còn 1,8 (2010) và 1,6 (2011). Điều này chứng tỏ thủ phạm chính gây lãng phí điện năng nằm trong khối sản xuất, xây dựng, chứ không phải trong khối hộ gia đình.

Vậy làm thế nào để xử lý tình trạng lãng phí điện như trên? Theo tôi, phải áp tiêu chí tiêu thụ điện năng vào trách nhiệm của lãnh đạo các tỉnh và công khai hóa cho mọi người đều biết. Tiêu thụ điện năng phải được xem như tiêu chí ưu tiên khi xét duyệt các dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Những công nghệ lạc hậu tiêu tốn điện năng phải tìm cách loại bỏ dần v.v... Ai vi phạm trong khâu xét duyệt dự án sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nói như vậy không phải là để tháo lui ĐHN, bây giờ chúng ta đang trong tình thế buộc phải đi tới. Thế nhưng phải đi tới cho đúng, bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy cóc rồi ngã nhào. 

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trao đổi!

GS.Trần Đại Phúc: Báo động đỏ nhân lực Điện hạt nhân VN
Bích Ngọc (Thực hiện)
Nguồn: Đất Việt
 
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

THẢM HỌA FUKUSHIMA CẢNH BÁO GÌ CHO VIỆT NAM

Thảm họa Fukushima cảnh báo gì cho Việt Nam 

22-09-2013 
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

Nhà máy điện nguyên tử Fukushima , Nhật Bản sau thảm họa động đất- sóng thần hồi tháng 3 năm 2011 vẫn còn tiếp tục gặp sự cố mà gần nhất là 300 tấn nước nhiễm xạ bị rò rĩ ra biển gây xôn xao dư luận.

Điều đó lại được nêu ra như một cảnh báo đối với dự án điện hạt nhân theo kế hoạch bắt đầu triển khai vào sang năm tại tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam.

Trong chuyên mục Khoa học- Môi trường kỳ này, chúng tôi mời quí thính giả theo dõi trình bày những thông tin liên quan với chuyên gia điện hạt nhân Nguyễn Khắc Nhẫn, Nguyên Giám đốc trường Cao đẳng Điện học và Trung tâm Quốc gia Kĩ thuật Sài Gòn ( nay là Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh)Nguyên Cố vấn Nha Dự báo, Kinh tế và Chiến lược EDF,Nguyên Giáo sư Viện Kinh tế, Chính sách Năng lượng và Đại học Bách khoa Grenoble.
Trước hết ông nói đến lý do vì sao tình hình tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima vẫn còn nguy hiểm 

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn : Tình hình ở nhà máy ĐHN Fukushima vẫn còn hết sức nguy hiểm. Thảm họa tuy xảy ra đã quá 2 năm rưỡi trời, nhưng vẫn tiếp tục đe dọa Nhật bản và luôn cả thế giới.

Hiện nay có khoảng 3000 công nhân đang phục vụ tại công trường. Theo Tepco (Tokyo Electric Power Company), 2/3 trong số này rồi đây có khả năng bị ung thư tuyến giáp.

Các lò phản ứng 1-2-3 bị tai nạn được khống chế, đưa về trạng thái dừng lạnh, dưới 100° C, từ tháng 12/2011. Tepco tích cực trong công việc khử nhiểm, bao phủ và ưu tiên xử lý hồ chứa các thanh nhiên liệu của lò số 4 (đặt ở độ cao 30 m). Vào thời điểm sự cố, lò này, may là đang ngưng hoạt động, và tâm lò đã được tháo gỡ.Điều đáng lo sợ nhất là hồ nước này đang chứa 1331 thanh nhiên liệu đã sử dụng đầy chất độc. Theo Giáo Sư Hiroaki Koide của Đại học Kyoto, chuyên gia về an toàn và quản lý chất thải phóng xạ, nỗi tiếng ở Nhật trong phong trào chống đối ĐHN, số lượng Cesium 137 trong hồ nước tuơng đương với phóng xạ của 10.000 quả bom nguyên tử Híroshima ! (1)
Nếu nay mai rủi ro có động đất mạnh hay bão tố, hồ nước bị hư hại, thì phóng xạ sẽ thoát ra ngoài nhanh chóng và lan rộng khắp nhiều vùng, tùy theo hướng gió, có thể đe dọa nhiều nước khác.

Tepco tăng cường các hệ thống chống đỡ và xây dựng một siêu cấu trúc phía trên và bên cạnh tòa nhà của lò số 4 để triển khai các thiết bị cần thiết, với mục đích đưa nhiên liệu đi cất nơi khác, an toàn hơn.

Trong tương lai, Tepco sẽ cố gắng lấy ra các thanh nhiên liệu nóng chảy (corium) ở đáy các lò 1,2 và 3. Đó là một dạng magma tạo thành vào lúc bắt đầu thảm họa, khi mà các thanh nhiên liệu nóng chảy trên 2800°C tại tâm các lò phản ứng trộn lẫn với các chất khoáng hay kim loại của lò. (Thép nóng chảy ở 1400°-1500°C). Thùng lò ( cuve ) và vỏ lò (enceinte de confinement ) bị đâm thủng nên không còn cách gì cấm phóng xạ thoát ra ngoài.

Lâu nay, mỗi giờ , Tepco phải tưới 5 m3 nước lạnh vào vào mỗi lò 1-2-3 để duy trì nhiệt độ dưới 50°C. Như thế có nghĩa là mỗi ngày, hàng trăm tấn nước chảy qua hệ thống mở ( circuit ouvert ) làm lạnh bị nhiễm xạ. Để bảo vệ lớp nước giếng, Tepco phải bơm thường trực mỗi ngày khoảng 700 m3 nước, trong số này 300 m3 được khử nhiểm trước khi tưới lại vào hệ thống.

Hàng ngày còn 400 m3 phải tạm tích trữ trong gần 1000 thùng rất lớn ( cao 11 m, đường kính 112m ) được xây cạnh nhà máy ĐHN. Những thùng này sẽ có thể bị rò rĩ sau 5 năm vì xây dựng cấp tốc và cũng vì các chỗ nối ( joint) làm bằng cao su.

Gần đây, 300 tấn nước bị nhiễm xạ nặng, chảy ra biển làm xôn xao dư luận Nhật bản.

Đó cũng là một cảnh cáo, để thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đừng vội quên Fukushima, một tai biến rùng rợn còn tiếp diễn lâu năm.

Ngày 21/8 Cơ quan điều độ hạt nhân ARN ( Autorité de Régulation du Nucléaire ) của Nhật đã nhìn nhận sự cố quan trọng và đã đưa lên cấp 3 của thang INES ( International Nuclear Event Scale ). Tepco cho biết liều phóng xạ cạnh 2 thùng nước có chỗ lên đến 220-1800 mSv/ h, (2) con số hết sức nguy hiểm, so với tiêu chuẩn 1 mSv/1 năm, mà mỗi người dân có thể chấp nhận được. ( Ngày 14/3/2011, ba ngày sau tai biến, cạnh vỏ bọc lò số 3, con số đo được lên đến 167 Sv/h ! )

Các chuyên gia cho biết mỗi ngày, đại dương đón nhận hàng triệu triệu becquerels, tương đối thấp hơn con số 60 triệu tỷ becquerels (2) tung lên khí quyển và 27 triệu tỷ becquerels đổ xuống biển trong những tuần đầu sau thảm họa. Trong các đồng vị của phóng xạ, itium, Cobalt, Strontium 90 ( chu kì 29 năm) và Césium 137 ( chu kì 30 năm) là đáng sợ nhất.

Hiện nay thủy lượng có thể chứa là 300.000 m3 và dự trù sẽ tăng lên 450.000 m3 trong thời gian tới. Nhưng Tepco không thể tiếp tục xử lý sự cố bằng cách xây dựng mãi mãi những thùng chứa nước nhiễm xạ như thế được. Tiền và đất đâu để, cứ vài ngày, xây thêm hồ Olympique, hay thùng chứa nước ? Những biện pháp đưa ra không thích hợp chút nào với tình trạng vô cùng khẩn cấp và nguy hiểm.

Ngày 15/9 nhiều báo chí như tờ Nikkei, Sankei Shimbun, Manichi Shimbun đã cực lực đả kích Tepco và Chính phủ. Tình cờ, cùng ngày này, lò số 4 của nhà máy Ohi bị ngưng vận hành vì lý do bảo trì. Đó là lò phản ứng chót còn phép hoạt động trong số 50 lò của Nhật.

Dư luận đã phản đối mạnh mẽ việc Thủ tướng Shinzo Abe muốn cho các nhà máy ĐHN của Nhật từ từ hoạt động trỏ lại. Tôi hy vọng kể từ nay, Nhật bản sẽ không sản xuất một kWh ĐHN nào nữa cả.

Tepco muốn xây dựng một bức tường khổng lồ dài 1.600 m với chiều sâu 20 đến 40 m, bao vây 4 lò, với mục đích ngăn chận nước chảy vào lớp giếng và thải ra biển. Máy làm đông ( congélateur) khổng lồ này sẽ tiêu thụ một lượng điện rất lớn. Ta còn nhớ ở Tchernobyl, cái hòm ( sarcophage ) đầu tiên, xây cấp tốc năm 1986, bị hư hỏng và người ta đang xây cái hòm thứ hai bằng sắt và bê tông ( 257 chiều dài, 108 m chiều cao ) trị giá hơn 1 tỷ đôla. Bao kín một lò mà tốn kém như thế.

2 Về kinh phí, nên biết rằng chính phủ Nhật vừa mới chi thêm 360 triệu euros cho việc xử lý nước nhiễm xạ, và trước đó, đã cấp cho Tepco 30 tỷ euros để bồi thường nạn nhân và xử lý nhà máy Fukushima.

Chẳng có một công nghệ quái lạ và tệ hại như ĐHN : tiền đập phá lại cao hơn kinh phí xây dựng và thời gian tháo gỡ gấp 10 lần lâu hơn khi xây cất ! Tepco đã tuyên bố phải 40 năm mới tháo gỡ xong nhà máy ĐHN Fukushima.

Gia Minh: Xin GS cho biết quan điểm về công việc khử nhiễm ở Nhật Bản?

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn :Chặt tỉa hàng chục ngàn cây, rút ra vài cm đất trên diện tích 120.000 ha nông nghiệp, rửa sạch hơn 600.000 tòa nhà lớn nhỏ, lưu trữ hơn 30 triệu m3 cặn bã phóng xạ, đó là một công trường khổng lồ ! Hiện nay chỉ mới 15% – 20% công việc được thực hiện. Người ta làm việc quá vất vả và cẩu thả, rất ít hiệu quả. Nước để rửa lấy một phần từ sông, sau đó từ biển. Cũng nên nhớ rằng chất phóng xạ có thể lan tỏa dễ dàng, thông qua việc đi vào các dòng nước.

Nhân công bắt đầu khan hiếm do nguy hiểm và lương thấp. Diện tích đất bị nhiễm xạ sự thật lớn hơn nhiều so với vùng cấm vào. Đó là chưa kể hàng ngàn tấn vật liệu cũng bị nhiễm phóng xạ trong số hàng triệu tấn đổ nát, do động đất và sóng thần gây ra.

So với Tchernobyl, vùng đất ở Nhật bản ít bị ảnh hưởng, do sự phát tán ra đại dương, nhưng ngược lại, Fukushima gây nhiễm xạ ở biển lớn hơn nhiều, chưa từng thấy trong lịch sữ. Đừng quên rằng hải sản là thành phần chính cung cấp thức ăn cho người Nhật. Hiện nay, 40% lượng cá trong vùng cấm vẫn còn không đảm bảo cho việc tiêu thụ.

Thực vật thủy sinh có thể mang các chất phóng xạ đi rất xa. Từ nay đến 3 hay 4 năm sau, Cesium 137, dù bị pha loãng bởi các dòng hải lưu mạnh, có thể đi đến nước Mỹ! Một GS Đại học Hawai tiên đoán rằng bờ biển Mỹ có khả năng bị ô nhiễm nặng hơn ở Nhật, vì phóng xạ có thể tập trung (reconcentration) nơi đây. Coi như lá rụng về cội, vì chính công ty Général Electric của Mỹ đã bán cho Nhật những lò của nhà máy ĐHN Fukushima, cách đây 40 năm !

Jota Kanda từ trường Đại học Tokyo, cho biết sự rò rỉ của nhà máy Fukushima tiếp tục với 0,3 terabecquerels ( TBq ) mỗi tháng, các con sông thông qua việc rửa trôi đất, thải ra biển 1,8TBq/ tháng, đó là chưa tính đến Cesium 137 nằm dưới đáy biển. Cả dây chuyền thức ăn bị ô nhiễm.

Rừng núi cũng lưu trữ một lượng chất phóng xạ đáng kể. Cesium, thành phần quan trọng cho thực vật, xâm nhập vào cây cối dễ dàng, thông qua lá. Cây cối, một khi hấp thụ một lượng lớn các chất phóng xạ rơi xuống, sẽ bảo vệ đất và sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng chỉ làm chậm quá trình ô nhiễm đất. Đó là sự nguy hiểm của hiệu ứng chậm, theo Pierre-Marie Badot từ trường Đại học Franche – Comte, bởi dân chúng sẽ ít cảnh giác hơn.

Hiện nay chưa có nhiều kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của chất phóng xạ đối với cây cối và hệ thực vật ở Fukushima. Theo Anders Moller từ Đại học Paris-Sud và Timothy Mousseau từ Đại học Caroline du Sud, số lượng động vật về lâu về dài sẽ giảm dần do ảnh hưởng của liều lượng nhỏ chất phóng xạ. Ở Tchernobyl, sự đột biến của các loài tăng lên từ 2 đến 20 lần! Các nhà nghiên cứu ở đại học Okinawa, trong đó có Joji Otaki, khẳng định rằng các chất phóng xạ đã gây nên sự hủy hoại về gen và sinh lý. Tỉ lệ dị tật ở bướm trong vòng bán kính 200 km xung quanh nhà máy Fukushima vào khoảng 30%.

Nhật bản đang gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội, môi trường. Hai năm rưỡi trời sau tai biến, vẫn còn hơn 300.000 người di tán. Sự chậm chạp trong quá trình tái thiết một phần là do sự đấu đá bên trong của các đảng phái chính trị, một phần cũng do sự dối trá, che đậy của Tepco.

Theo IRSN ( Institut de Radioprotection et de Sureté Nucléaire ) của Pháp, khoảng 7000 đến 8000 trường hợp ung thư tuyến giáp còn liên quan đến iode phóng xạ ở Tchernobyl. Nạn nhân chủ yếu là trẻ em vào thời điểm xảy ra sự cố, cách đây 27 năm. Cần từ 4 đến 5 năm để khẳng định việc chẩn đoán. Đến nay chúng ta vẫn không thể biết số người chết hoặc tàn tật suốt đời vì Tchernobyl : hàng ngàn, theo các tổ chức chính phủ và lobby hạt nhân – hay đúng hơn là hàng triệu, theo các nguồn khác.

Còn quá sớm để ước lượng số nạn nhân ở Nhật Bản. Một nghiên cứu gần đây của Đại học Fukushima, thực hiện trên 300.000 người còn trẻ trong vùng xảy ra thảm họa, đã gây hoang mang trong dư luận : 40% trong số 96.000 trẻ em khi kiểm tra tuyến giáp đã cho thấy có u hoặc hạch.

Hàng triệu dân Nhật phải sống suốt đời trong sự sợ hãi, với một kẻ thù vô hình, không gây đau đớn nhưng tiềm tàng một mối nguy hiểm to lớn.

Gia Minh: Pháp rút bài học Fukushima như thế nào, thưa GS ?

3
Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn :Các Cơ quan quản lý về an toàn hạt nhân của Pháp không còn loại trừ những tình huống đặc biệt như trước. Fukushima đã quét sạch sự tin tưởng mù quáng của các kỹ sư, những người mà bây giờ phải hình dung những điều không tưởng tượng nổi.

Theo Jacques Repussard, Tổng giám đốc IRSN, lập luận theo kiểu xác suất không còn chấp nhận được nữa, nếu xét kĩ hậu quả to lớn đối với dân chúng và các vùng đất đai. Phương pháp xác định (déterminisme) dù đắt tiền hơn, phải được xem như ưu tiên. Mặt khác, cũng cần phải giảm công suất của các lò. Mỹ có dự án sản xuất lò với công suất dưới 200 MW.

An toàn là vấn đề của tất cả mọi người. Ta không thể tự tin, chỉ dựa vào sự kiểm tra của các cơ quan an toàn. Từ nay nước Pháp phải chuẩn bị để đối phó với một thảm họa rùng rợn.

Ngay sau Fukushima, EDF (Electricité de France), CEA (Commissariat à l’Energie Atomique) và AREVA đã nhận được chỉ thị tăng cường độ an toàn và khả năng chịu đựng của các nhà máy ĐHN.

EDF phải trang bị cho mỗi lò phản ứng một tòa nhà an toàn, một nguồn nước lạnh riêng, một nhóm các máy diesel cho sự trợ giúp cuối cùng, một lực lượng phản ứng nhạy bén về hạt nhân tại 4 địa điểm, nhằm có thể can thiệp nhanh chóng trong trường hợp xảy ra tai nạn nghiêm trọng. Kinh phí tối thiểu, vào khoảng 10 tỉ euro, chắc chắn sẽ gây ra sự tăng giá đáng kể của mỗi kWh. Điều này khiến cho năng lượng tái tạo ngày càng hấp dẫn.

Theo cuộc điều tra mới nhất, 42% dân Pháp cho biết họ lo ngại về 19 nhà máy ĐHN của Pháp, chứa cả thảy 58 lò PWR.

Ông Pierre-Franck Chevet, tân chủ tịch Cơ quan an toàn hạt nhân (ASN ) Pháp vừa cho biết rằng có thể 5 hay 10 lò của EDF sẽ phải ngưng hoạt động cùng một thời điểm, nếu có rủi ro hay vì thiết bị. Ông phản đối việc kéo dài thời gian vận hành của các lò đến 60 năm.

Chính phủ Pháp vừa công bố 34 kế hoạch trung hạn trong chiến lược phục hồi công nghiệp, theo 4 hướng chính : chuyển tiếp năng lượng (transition énergétique), công nghệ số ( gồm giáo dục điện tử) , vận tải, công nghệ y sinh. Điều đáng chú ý nhất là năng lượng tái tạo được đề cao thay vì hạt nhân, không có ai khuyến khích. Trong bản xếp hạng quốc tế những nước cạnh tranh giỏi, Pháp tụt xuống hạng thứ 23, phần lớn cũng vì hạt nhân thu hút quá mạnh nguồn tài chính quốc gia, không cho phép đổi mới kịp thời.

Patrick Momal, của viện IRSN, cựu kinh tế gia của Ngân hàng thế giới, đã tính toán cái giá kinh khủng của một tai nạn nghiêm trọng như thảm họa Fukushima ở Pháp. Nó lên đến 430 tỉ euro, tức 20% PIB của nước này ! Nên so sánh với giá tạm thời 1000 tỉ đôla ở Fukushima. Với tình huống thảm họa này, các vùng đất bị ô nhiễm sẽ bị cấm sử dụng trong vòng hàng thập kỉ, Chính phủ sẽ phải xử lý các tình huống vô cùng phức tạp, với việc di tản của hàng trăm ngàn hay hàng triệu người. Xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sẽ bị tê liệt, ngành công nghiệp du lịch bị phá tan, sản xuất điện trở nên bấp bênh, hậu quả về vệ sinh y tế thêm trầm trọng. Nếu tính đến rủi ro này trong bài toán về giá thành của mỗi kWh, thì ĐHN không thể nào rẻ hơn Năng lượng tái tạo.

Năm 2007, IRSN cũng đã tính đến nhiều tình huống thảm họa cho nhà máy ĐHN Dampierre ở Loiret. Một trường hợp được đánh giá khoảng 5800 tỉ euro, một con số khổng lồ để chứng tỏ rằng EDF có xu hướng đánh giá thấp chi phí các sự cố. Chi phí này bao gồm chi phí xã hội, do việc di tản bắt buộc đối với 5 triệu người, trong một vùng rộng đến 87.000 km2, chi phí tái định cư, khử nhiễm, xử lý chất thải phóng xạ. Tổng kinh phí thay đổi tùy theo các điều kiện thời tiết. Gió bay đến các vùng đông dân sẽ gây nên tình huống xấu nhất !

Gia Minh: Theo GS, thảm họa Fukushima có ảnh hưởng gì đến chương trình điện hạt nhân của Việt Nam không ?

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn :Tôi vô cùng lo sợ cho đất nước và đồng bào vì thảm họa Fukushima không làm lay chuyển quyết định của chính phủ VN quá tham vọng với chương trình ĐHN quá tham vọng.

Việt Nam không có khả năng về nhân sự, công nghệ, tài chính và cũng không có văn hóa an toàn để đối đầu với một sự cố cấp 7 ( thang INES) như Tchernobyl hay Fukushima.

Chúng ta không thể yên tâm, tiếp tục dựa trên các tính toán về xác suất để tối thiểu hóa mức nguy hiểm. Đừng bao giờ quên rằng trong thời gian 50 năm qua, thế giới đã chứng kiến 5 lần nóng chảy lò phản ứng: 1 ở Three Mile Island, 1 ở Tchernobyl và 3 ở Fukushima ! Đó là chưa nói đến nhiều tai nạn khác ở cấp độ thấp hơn. Cả 3 sự cố trên, chủ yếu là do ở con người, chứ không phải vì công nghệ.

Các cơ quan trách nhiệm Việt Nam đừng quên rằng một cuộc cách mạng năng lượng đang diễn ra trên thế giới và ĐHN bây giờ đã lỗi thời !

Viện dầu mỏ và năng lượng mới của Pháp (Ifpen) vừa công bố một phát hiện có tính đột phá.

Đó là khí hidro tự nhiên thoát ra một cách liên tục từ bề mặt các lục địa, rải rác ở rất nhiều nơi.

Hướng năng lượng mới này hội tụ tất cả các ưu điểm : không carbon, do đó sạch sẽ và rẻ tiền. Mặt khác, khí hidro tự nhiên có khả năng giải quyết tốt đẹp nhược điểm của Năng lượng tái tạo về tính chất không liên tục.

Trong lúc người ta đầu tư mạnh vào lưới điện thông minh (Smart grid) thì ta tiếp tục khuếch trương hệ thống theo mô hình cổ điển. Bill Gates, ngày 9/9 vừa qua, đã cho lên mạng một ổ nhện dây, hết sức rườm rà và nguy hiểm trên một trụ điện của ta.

Với sự tăng cường khai thác khí đốt và dầu schiste từ khoảng 10 năm nay, ta có thể nói rằng Mỹ đã khơi mào cho cuộc cách mạng năng lượng. Họ đã kich hoạt trở lại ngành công nghiệp và làm thay đổi cân bằng năng lượng của họ. Mỹ đang trở thành nước sản xuất số một thế giới về khí đốt.

Rồi đây họ có thể đạt được sự độc lập về năng lượng.

Tại nhiều nước châu Âu, như Pháp, khai thác khí schiste vẫn còn bị cấm là phải, vì lí do liên quan đến phương pháp hình thành khe nứt bằng nước ( fracture hydraulique). Phương pháp này tiêu tốn quá nhiều nước và gây ô nhiễm trầm trọng lớp nước giếng.

Kể từ sự cố Three Mile Island năm 1979, Mỹ không xây dựng thêm một nhà máy ĐHN nào cả. Tchernobyl và Fukushima cho họ hiểu rằng nguyên tử vô cùng nguy hiểm, cần phải liên tục tăng mức độ an toàn, nên rốt cuộc, không thể nào kinh tế bằng năng lượng hóa thạch hay tái tạo như các lobby tuyên truyền láo để ăn tiền. Tôi sẵn sàng chứng minh điều này với bất cứ chuyên gia nào trên thế giới.

Đức, rất thông minh và sáng suốt, đã quyết định từ bỏ ĐHN vào năm 2022, mặc dù phải hi sinh hàng trăm tỉ euro. Ngược lại, họ củng cố vị trí số một thế giới trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và mặt trời. Lãnh thổ ta có ít tia sáng mặt trời, ít gió, ít nước, ít sinh khối hơn nước Đức hay sao ?

Nhân loại từ hai ba thế kỉ qua, bị phỉnh phờ, giới hạn trong việc sử dụng năng lượng vì quá tin tưởng ở kĩ thuật tân tiến. Tại sao phải đi xa, phí tiền bạc và thì giờ để đào mỏ thật sâu, lấy than, dầu khí, uranium, rồi chuyên chở hàng trăm hay hàng ngàn km nhiên liệu, biến chế tốn kém, trước khi sử dụng.

Tạo hóa đã cho ta nhiên liệu thiên nhiên, không đòi hỏi một xu nhỏ nào, rải rác khắp nơi, để mỗi làng, mỗi thành phố, mỗi nhà, mỗi cá nhân có thể khai thác, làm ra điện nếu cần. Với hạt nhân, lộ trình vô cùng phức tạp và tốn kém hơn cả. Vài chục năm sau, phải tháo gỡ, lại đi tìm đất tốt, trở lại đào sâu, chôn cất, mà ngàn đời chất thải phóng xạ vẫn còn đó, không hết nguy hiểm ! Xây cất những nhà máy đồ sộ rồi lại phải truyền tải, phân phối với bao lãng phí trên những đường dây dài.

Với Năng lượng tái tạo, mỗi khu vực, mỗi vùng có thể hoàn toàn độc lập.

Xin mời các Bạn đọc cuốn sách vừa mới xuất bản của Al Gore, Nobel Hòa Bình 2007 : Le futur. Six logiciels pour changer le monde.

Ta cứ thổi phồng nhu cầu và mức tiêu thụ điện để chứng minh rằng ta có lý, một hai cần phải có gấp ĐHN.

Theo kế hoạch, đến 2030, ĐHN sẽ chiếm 10% của tổng sản lượng điện quốc gia. Chỉ vì 10% này mà ta phải cống hiến lãnh thổ cho phóng xạ hạt nhân tung hoành hay sao ? Nếu phân tích tỉ mỉ, ta có thể nói rằng ĐHN sản xuất ra chỉ đủ để cung cấp cho lãng phí năng lượng, vô cùng to lớn của ta ( trên 30% ) !

Trong giai đoạn chuyển tiếp và trong lúc ta đang triệt để khai thác mạnh Năng lượng tái tạo, ai cấm ta dùng than, khí như Đức, Mỹ, Trung quốc và các nước khác ?

Các cường quốc từ bỏ hạt nhân, nhưng vì họ muốn lấy lại hàng ngàn tỷ đôla đã lỡ dại đầu tư, từ nửa thế kỉ nay, nên tiếp tục ca tụng ĐHN để họ bán lò cho các nước đang phát triển, như các tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE), Thổ Nhĩ Kì., Bangladesh, Belarut và Việt Nam.

Ta sẽ mất độc lâp, tự chủ, phải nhập cảng máy móc, thiết bị tinh vi, chưa nói đến chuyên gia, nhiên liệu uranium làm giàu 3,5%. Sau này phải gửi chất thải phóng xạ đi ngoại quốc để xử lý. Nếu có cơn khủng hoảng chính trị hay uranium trên thị trường quốc tế, ta đành bó tay ngồi ngắm các lò ngủ im hay sao ?

Qua đường biển, Nhật đã mang tiến xuất khẩu phóng xạ nhiều nhất thế giới. Việt Nam nên tránh xa kỉ lục vô phước này.

Ta đi lùi mà cứ tưởng đi tới ! Thay vì gửi sinh viên du học các ngành có triển vọng cho đất nước, ta lại phung phí tiền bạc, khuyến khích họ đi lạc vào con đường hoàn toàn bế tắc của hạt nhân !

Lò phản ứng chung quy chỉ là một nồi nấu nước sôi mà thôi !

Các cụ với các lò bánh mì, các bà và các cô ở quê nhà. nướng bánh, nấu cơm thoải mái, nhanh chóng hơn các kỹ sư hạt nhân, không phí của và thì giờ mà cũng không sợ gì nguy hiểm cả.

Để thay lời kết luận, tôi đề nghị các Bạn tìm hiểu thái độ trái ngược của hai Thủ tướng Nhật. Nato Kan đang giữ chức vụ Thủ tướng lúc xảy ra thảm họa Fukushima. Tuy bị chỉ trích, phải nhìn nhận rằng ông đã trực tiếp chỉ huy việc xử lý sự cố một cách can đảm và thông minh. Kinh nghiệm của ông hết súc quý báu. Trong bài phát biểu gởi đến hôi nghị do Hàn lâm viện y học tổ chức ở New-York ngày 11-12/3/2013, nguyên Thủ tướng Nato Kan đã thú thật rằng ông đã nghĩ đến việc phải di tản 50 triệu dân của Tokyo và các vùng lân cận, nếu phóng xạ tiếp tục lan tràn đến thủ đô !

Lời kêu gọi đầy nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm, đáng kính trọng của ông, đối với thế giới là: Muốn có an toàn cao nhất thì không nên xây cất nhà máy ĐHN. Thay vào đó, ông đề nghị triệt để khuyếch trương Năng lượng tái tạo, tăng gia hiệu suất và tiết kiệm năng lượng.

Ngược lại, tân Thủ tướng Shinzo Abe, quá lạc quan, thiếu khiêm tốn và suy xét, đã quyết tâm muốn cho các nhà máy ĐHN hoạt động trở lại, mặc dù có sự phản đối rất mạnh của dân chúng.

Vừa qua, ở Buenos Aires, để Tokyo được phép tổ chức Thế vận hội năm 2020, ông Shinzo Abe cả gan tuyên bố ẩu rằng tình hình ở Fukushima không có vấn đề và hoàn toàn dưới sự kiểm soát ( la situation est sous contrôle ! ) ( Eisuke Matui, Giám đốc của Viện nghiên cứu Y khoa và môi trường Gifu của Nhật đă lên tiếng phản đối lời tuyên bố vô trách nhiệm này )

Tôi sẽ hết lo sợ cho đất nước và đồng bào ngày nào Chính phủ Việt Nam lớn tiếng ủng hộ lập trường sáng suốt, khôn ngoan của nguyên Thủ tướng Nato Kan !
__________________


(1) Bom Hiroshima : 6/8/1945 – uranium làm giàu 80%
( 4.500 kg – dài 4,5m – đường kính 75 cm)
20.000 tấn TNT ( Trinitrotulène )
(2) Một số đơn vị cần biết:
Becquerel (Bq) : tác động phóng xạ đo bằng Becquerel (số hạt nhân phóng xạ tự phân huỷ
(désintégration) trong mỗi giây là 1 Curie)
1 Ci (Curie) = 37.109 Bq
Gray (Gy): liều hấp thu phóng xạ bởi một cơ thể hay một vật thể
1 Gy = 1joule/kg = 100 rad
Sievert (Sv): liều tương đương phóng xạ dùng để đo tác động sinh vật trên cơ thể. Đó là một đơn vị đề phòng phóng xạ
1 Sv (Sievert) = 100 rem (Tchernobyl: 800-1600 rems)
(chiếu phổi: 0.1 mSv)) (1 Sv =1000 mSv)

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

ĐIỆN HẠT NHÂN TIẾP TỤC BỊ CHỈ TRÍCH NHÂN DỰ ÁN ĐÀ LẠT

Trọng Thành - rfi

Trung tuần tháng 8/2013, báo chí trong nước đưa tin về phản ứng lo ngại của chính quyền tỉnh Lâm Đồng đối với dự án xây dựng một cơ sở hạt nhân cách trung tâm thành phố Đà Lạt 10 km. Nhìn nhận về nỗi lo ngại trước dự án hạt nhân Đà Lạt – một mắt xích cơ bản trong chủ trương chuẩn bị nhân lực cho các nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) tương lai của Việt Nam – là một dịp trở lại với các câu hỏi : Liệu lựa chọn năng lượng hạt nhân có thực sự hữu ích ? Và trong trường hợp bất khả kháng, cần phải hành động như thế nào để ĐHN không trở thành một thảm họa ?

Về chủ đề này, Tạp chí Khoa học RFI trước hết xin giới thiệu với quý vị tiếng nói của Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn của Nha Kinh tế - Dự báo - Chiến lược của tập đoàn điện lực Pháp EDF. Từ mươi năm nay, Giáo sư Nhẫn dành rất nhiều tâm lực đặc biệt cho việc nghiên cứu về vấn đề ĐHN và năng lượng nói chung, nhằm đưa ra những tư vấn mang tính cảnh báo về nguy cơ của việc theo đuổi con đường phát triển ĐHN một cách mù quáng.
Toàn bộ phỏng vấn với Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn
(12:20)


RFI : Theo tin trong nước, Việt Nam đang có dự án xây cất Trung tâm nghiên cứu hạt nhân ở Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, trị giá nửa tỷ USD, do Nga giúp đỡ công nghệ. Giáo sư đã từng nhiều lần lên tiếng về chương trình ĐHN của Việt Nam. Vậy xin Giáo sư cho biết quan điểm về Trung tâm này ? 

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn : Vì tôi hoàn toàn không đồng ý với chương trình ĐHN của Việt Nam, tôi rất tiếc phải nói rằng việc xây cất Trung tâm hạt nhân ở Đà Lạt, gắn liền với chương trình này, là không cần thiết lắm, phí tiền của dân mà không đem lợi ích gì cho nước nhà. Lẽ cố nhiên, đối với Viện Năng lượng nguyên tử, có trách nhiệm lớn trong chương trình ĐHN, tôi thông cảm với những lý do mà ông Viện trưởng, TS Trần Chí Thành, đã đưa ra. Theo ông Viện trưởng, thì Trung tâm có bổn phận phục vụ các nhà khoa học, các trường đại học và các cơ sở liên quan đến việc khai thác các nhà máy ĐHN.

Ta không có nhân lực thì phải có cơ sở để làm thí nghiệm và đào tạo một số cán bộ ở trong nước, chứ không thể hoàn toàn ỷ lại ngoại quốc, điều ấy dễ hiểu thôi, không có gì đáng trách móc lắm.

Điện hạt nhân đã lỗi thời và rất nguy hiểm

Vì thế trước tiên, cho phép tôi trả lời câu hỏi chính là : Tại sao tôi không ủng hộ chương trình ĐHN ?

Từ 10 năm nay, qua trên 40 bài tôi viết và trả lời phỏng vấn, tôi đã có dịp trình bày những lý do tại sao Việt Nam không nên làm ĐHN.

Tôi xin vắn tắt lại như sau : ĐHN đã lỗi thời, không an toàn, rất nguy hiểm cho hàng chục thế hệ con cháu sau này. ĐHN không kinh tế như người ta tuyên truyền láo, nó sẽ đắt hơn năng lượng tái tạo, khi ta xây cất xong các nhà máy. Hiện nay giá thành điện gió ở Âu Châu đã cạnh tranh được rồi.

Điện Hạt Nhân – ĐHN - là Điện Hại Nước, Điện Hại Non. Non Nước và dân ta có tội gì đâu, mà phải sống trong sự đe dọa thường trực của phóng xạ giết người, gây bệnh hoạn suốt đời, sau biết bao tang thương của những cuộc chiến tranh tàn ác để lại. Vì một chiến lược sai lầm, không phù hợp với cuộc cách mạng năng lượng thế giới đang diễn ra (smartgrid, Năng lượng tái tạo, tiết kiệm và hiệu quả năng lượng...), nếu rủi ro, trong chớp nhoáng, Việt Nam có thể bị điêu tàn, kinh tế sụp đổ, ngành du lịch, xuất khẩu tê liệt !

Trở lại vấn đề dự án Trung tâm hạt nhân Đà Lạt. Tại Hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 10 vừa diễn ra tại Vũng Tàu, ông Lê Đình Tiến - Thứ trưởng Bộ KHCN - phát biểu như sau : Chúng ta đang thiếu nhân lực, cán bộ năng lượng nguyên tử, cán bộ giỏi về ĐHN. Hiện nay, các cán bộ trong nước đang gặp khó khăn trong việc thẩm định kết quả tư vấn cho hai nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận do chúng ta đang rất thiếu chuyên gia, thiếu đội ngũ làm việc cho cơ quan pháp quy để đảm bảo an toàn an ninh cho hạt nhân, thiếu đội ngũ cán bộ xây dựng nhà máy ĐHN. Việc quản lý chất thải nhà máy ĐHN cũng đang là vấn đề quan trọng đang tranh cãi chưa đưa ra được hướng đi.

Như thế thì tại sao ta phải xây dựng cấp bách nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận ? Rồi xây tiếp một loạt 14 lò đến năm 2030 ? Chưa gì mà có người đã hãnh diện cho Việt Nam, sẽ được xếp vào hàng thứ 15 trong số 33 nước có ĐHN trên thế giới !

Đầu tư khổng lồ, kết quả mờ mịt

Trên nguyên tắc, với 500 triệu đôla, ta có thể cấp ít nhất 50.000 học bổng cho các kỹ sư đã tốt nghiệp, du học ở ngoại quốc, khỏi cần xây cất Trung tâm này. Tuy nhiên, nếu làm 14 lò với tham vọng xây dựng nền tảng cho một công nghiệp hạt nhân, thì sẽ cần thêm hàng chục tỷ đô la để đầu tư vào nhiều cơ sở nghiên cứu khác, một Trung tâm có nghĩa lý gì ?

Diện tích đất trong dự án (Đà Lạt) lên đến 107 ha, tha hồ mà xây cất. Càng nhiều Trung tâm như vậy, giá điện càng tăng nhanh !

Nên biết rằng trước khi EDF (Electricité de France – Công ty điện lực quốc gia Pháp) bắt đầu xây cất các nhà máy ĐHN vào năm 1957, Pháp đã có lò Zoe – EL1 (1948), EL2 (1952). Sau đó, liên tiếp từ 1956 trở đi đến 1978, Pháp không ngừng xây cất gần 30 lò nghiên cứu và đào tạo, rải rác ở nhiều Trung tâm của CEA. Hiện nay chỉ 15 lò nghiên cứu còn hoạt động.

Như thế có nghĩa là, nếu ta quyết tâm chọn con đường hạt nhân, đầy chông gai hiểm trở, theo tôi, hoàn toàn bế tắt, thì ta sẽ phung phí hàng chục, rồi hàng trăm tỷ đôla của dân còn nghèo khổ. Nó sẽ thu hút tất cả nguồn sinh lực và tài chính quốc gia, không cho phép ta đầu tư vào những lĩnh vực then chốt khác : Năng lượng tái tạo, tiết kiệm và tăng gia hiệu suất năng lượng, chưa kể các lĩnh vực ưu tiên, như giáo dục, nghiên cứu, y tế, xã hội...Và ta sẽ càng khó đuổi kịp các nước biết nhìn xa ngó rộng, biết đầu tư đúng nhịp tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày nay.

Chương trình ĐHN Pháp quá mạnh, nay cũng bị kẹt ! Pháp muốn khai thác nhanh Năng lượng tái tạo như Đức mà không đủ điều kiện, nhất là về tài chính. Đức rất khôn ngoan, đã tiên phong đầu tư vào lĩnh vực tái tạo từ hơn 20 năm nay !

Pháp : Cường quốc hạt nhân dần chuyển sang năng lượng xanh

Để có một ý niệm về tầm quan trọng của lĩnh vực nghiên cứu hạt nhân, tôi xin phép vắn tắt giới thiệu Trung tâm hạt nhân của Pháp nêu trên : CEA (Commisariat à l'Energie Atomique et aux Energies Alternatives). Hai chữ Energies Alternatives (các năng lượng mới) mới thêm vào cách đây vài năm, chứng tỏ sự chuyển hướng của Pháp trong lĩnh vực năng lượng. CEA, nỗi tiếng trên thế giới, có cả thảy 5 cơ sở dân sự (Saclay, Fontenay- aux- Roses, Grenoble, Marcoule và Cadarache) và 5 cơ sở quân sự. Với một ngân sách lên đến 4,7 tỷ euros và 16.000 nhân viên có trình độ rất cao, phục vụ ở 53 đơn vị, CEA hợp tác chặt chẽ với 500 xí nghiệp.

Riêng về CEA Grenoble, trước kia gọi là CENG (Centre d'Etudes Nucléaires Grenoble), được GS Louis Néel, Nobel Vật lý, thành lập năm 1956, tôi được biết rõ hơn cả vì đã tu nghiệp hạt nhân ở nơi đây.

CENG có cả thảy 12 phòng thí nghiệm, dành cho nghiên cứu vật lý cơ bản, vật lý chất rắn, nhiễu xạ nơtron, nhiệt độ thấp, cộng hưởng từ, máy gia tốc. Các phòng thí nghiệm khác đảm trách vật lý hạt nhân, truyền nhiệt, đặc tính hóa học của chất rắn và luyện kim, đặc tính hóa học dưới bức xạ, ứng dụng chất phóng xạ và điện tử. Cộng với 3 lò hạt nhân : Mélusine, Siloé, Siloette, CENG đã đào tạo hàng ngàn kỹ sư cho EDF.

Từ 2002 đến 2012, CEA Grenoble đã phá gỡ 3 lò nêu trên. Vì thế hiện nay, CEA Grenoble hoàn toàn phi hạt nhân và 4 hướng nghiên cứu chính là công nghệ micro-nano, năng lượng mới, công nghệ sinh học và nghiên cứu cơ bản.

Quá trình diễn biến khoa học và kỹ thuật của CENG cho phép tôi nói rằng : Việt Nam đi lùi hơn nửa thế kỉ mà không biết !

Vì cớ gì, người ta đi tới, mình đi lùi, người ta đi ra, mình đi vào ?

Lúc bắt đầu chương trình ĐHN, Pháp đã có một nền tảng công nghiệp cơ điện vững chắc, ngoài EDF và CEA. Lực lượng nguyên tử của họ ngày nay có thêm Areva, một xí nghiệp hùng mạnh, bao sân toàn bộ chu kỳ hạt nhân, từ mỏ uranium đến khâu xử lý chất thải phóng xạ. Nên biết rằng từ 1957 đến 2010, Pháp đã đầu tư cả thảy khoảng 300 tỷ đô la vào lĩnh vực hạt nhân dân sự.

Liệu ta có đủ nhân lực và tài chính để ồ ạt xung phong vào một công nghiệp đang xuống dốc mạnh không ?

Dù sao, theo tôi, xây dựng Trung tâm hạt nhân Đà Lạt bây giờ thì cũng quá muộn rồi, so với lịch trình của một chương trình ĐHN quá tham vọng của ta, sang năm đã khởi công.

Dù sao, theo tôi, xây dựng Trung tâm hạt nhân Đà Lạt bây giờ thì cũng quá muộn rồi, so với lịch trình của một chương trình ĐHN quá tham vọng của ta, sang năm đã khởi công.

Nếu nâng cao hiệu suất sử dụng điện, không cần ĐHN
Giáo sư Phạm Duy Hiển : Hiện nay có một mâu thuẫn như thế này : Chúng ta nói là Việt Nam thiếu điện. Tất nhiên hai năm nay, thì đỡ hơn rất nhiều, vì có một số tổ máy vào, không đến nỗi bị cúp điện như cách đây 3, 4 năm. Nhưng mà tôi vẫn giữ một quan điểm là Việt Nam rất lãng phí điện. Chúng tôi có những công trình nghiên cứu nói rõ những cái đó. Việt Nam lãng phí vào loại nhất thế giới. Nói ra điều này ít ai tin được, bởi vì một nước nghèo như Việt Nam, làm sao lại lãng phí đến mức như vậy ?!

Nhưng mà hãy hỏi các nhà nghiên cứu có tìm hiểu kỹ về vấn đề này, thì so sánh theo những tiêu chí nhất định, thì đúng như vậy. Hệ số đàn hồi của Việt Nam là luôn luôn lớn hơn 2, mà các nước xung quanh chỉ hơn 1. Như vậy đề làm được một đô la hay một euro, chúng ta phải tiêu thụ lượng điện gấp đôi các nước xung quanh. 5% tăng trưởng GDP hàng năm, thì tiêu thụ điện tăng tới 12%. Như thế hệ số đàn hồi lớn hơn 2. Hiện nay chưa giải được bài toán đó. Thực ra những người có thẩm quyền cũng biết việc này và cũng đặt kế hoạch đến 2020, làm sao Hệ số đàn hồi chỉ còn 1 thôi.

Cho nên quyết sách rất quan trọng. Nếu giải quyết được vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng điện… Cứ làm đúng như các nước xung quanh, thì mức tiêu thụ năm 2020 không phải là con số dự kiến như khi đưa ra Quốc hội, lúc đề nghị duyệt chương trình ĐHN. Nếu Việt Nam đề cao hơn nữa hiệu quả sử dụng điện năng, thì theo tôi chưa cần phải làm ĐHN. Cứ đẩy lùi chương trình này lại.

Cái này chứng minh không khó và không phải ít người thấy. Nhưng mà tại sao không thể làm được ? Thì thực ra tôi thấy cũng rất là khó hiểu ?!

Dân các nước dân chủ thường phản đối cơ sở hạt nhân gần dân cư

RFI : Hiện nay tỉnh Lâm Đồng không đồng ý về việc xây cất Trung tâm ở Đà Lạt, do sợ hạt nhân và có đề nghị nên tìm một địa điểm khác cách xa Đà Lạt 30 km. Xin Giáo sư cho biết suy nghĩ của Giáo sư về vấn đề này ? 

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Tỉnh Lâm Đồng không đồng ý thì cũng có lý, tuy mức độ nguy hiểm của Trung tâm thấp hơn nhiều so với lò ĐHN.

Muốn so sánh, lấy ví dụ lò nghiên cứu Triga Đà Lạt 250 kW nhiệt của Mỹ viện trợ năm 1963. Sau đó vào năm 1984, hợp tác với Nga, công suất nhiệt đã được nâng lên 500 kW. Công suất điện lò Ninh Thuận là 1000 MW, tức gần 3000 MW nhiệt !

Rủi ro về ô nhiễm phóng xạ phần lớn là do sự cẩu thả hay sai lầm của nhân viên khai thác. Còn lạ gì về những nhược điểm của ta : Thiếu tác phong công nghiệp, tác phong xã hội, văn hóa an toàn. Thảm họa Tchernobyl hay Fukushima là do ở con người chứ không phải ở thiết bị.

Ngày nay ở các nước dân chủ, nhất là ở Âu Châu, phần đông các thành phố, làng, xã nhỏ hay lớn đều tìm mọi cách để từ chối việc cấp đất để xây cất nhà máy Điện hay cơ sở hạt nhân, dù có mua chuộc họ với tiền bạc đi nữa.

Cũng vì lẽ ấy mà các công ty điện lực như EDF, đề nghị kéo dài thời gian vận hành các lò từ 30 đến 40, 50 hay 60 năm ! Theo tôi, gia hạn như thế rất tốn kém và nguy hiểm.

Sở dĩ ngày xưa, các phòng thí nghiệm hạt nhân được xây dựng ở trung tâm thành phố, phần lớn cũng vì các chuyên gia thiếu kinh nghiệm và coi thường mức độ nguy hiểm của phóng xạ. Dân chúng thì không có thông tin chính xác để chống đối mạnh như ngày nay.

Ngay ở CENG tại thành phố Grenoble, ngày 7-11-1967, một thanh nhiên liệu đă bị nóng chảy ở lò nghiên cứu Siloé làm thoát ra 55.000 curies trong hồ nước và 2.000 curies trên khí quyển. Cũng ở Grenoble, tại lò RHF (Réacteur à Haut Flux) của Viện Laue-Langevin, ngày 19-7-1974, 2500 curies Antimoine 124 bị rò rỉ trong hồ nước, gây ô nhiễm ở lớp nước giếng.

Trưng cầu dân ý về ĐHN Việt Nam

RFI : Giáo sư có thêm ý kiến gì vấn đề này ?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Theo tôi, cần phải có cuộc trưng cầu dân ý về chương trình ĐHN của Việt Nam. Như thế mới là dân chủ !

Timothy Mitchell, Giáo sư Đại học Columbia (New York), trong cuốn sách « Carbon Democracy » (Năng lượng và nền Dân chủ) vừa xuất bản, đã chứng minh sự liên hệ mật thiết giữa dân chủ và năng lượng. Qua các thế kỉ 18, 19 và 20, ta thấy các tập đoàn, xí nghiệp, lobby, giàu mạnh trên thế giới, đã lợi dụng đồng tiền, uy tín và quyền lực của họ, gây áp lực và ảnh hưởng lớn trong cơ cấu chính quyền, các tổ chức xã hội, nghiệp đoàn, để khai thác và phát triển công nghiệp than, dầu, khí, rồi ĐHN.

Sau thảm họa Fukushima, họ thừa biết rằng thời kỳ oanh liệt của hạt nhân đã qua rồi (60 năm tròn, như chu kỳ dài hạn của nhà kinh tế Nga Kondratieff), nên đã mạnh dạn chuyển hướng đầu tư sang Năng lượng tái tạo.

Những nước không muốn trưng cầu dân ý, che đậy thông tin chính xác về ĐHN, sẽ làm mất giá trị và ý nghĩa của hai chữ dân chủ. Ở Pháp, nhờ sự tranh đấu vững mạnh của các tổ chức phi chính phủ (ONG), giai đoạn xấu xí này đã chấm dứt từ lâu.

Bài học đi trước thời đại của nước Áo

Nước Áo đã cho thế giới một bài học dân chủ có một không hai trong lĩnh vưc ĐHN, mà ít người biết đến. Từ 1972 đến 1977, nước này xây cất xong nhà máy ĐHN Zwentendorf (lò nước sôi BWR 730 MW), cách thủ đô Vienne 60 km, cạnh bờ sông Danube. Ngay sau đó, trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1978 (tức trước sự cố Three Miles Island ở Mỹ năm 1979), số phiếu chống ĐHN thắng với tỷ số eo hẹp 50,5% ! Tuy vậy, chính phủ vẫn ra lệnh tuyệt đối cấm không cho nhà máy này vận hành ! Nó đã trở thành một Viện bảo tàng và cũng là một địa điểm đang sản xuất điện mặt trời ! Đáng phục hơn nữa là năm 1999, luật ghi rõ trong hiến pháp - Nước Áo không hạt nhân - được quốc hội đồng thanh biểu quyết.

Sau thảm họa Fukushima, tỷ lệ số dân Áo chống ĐHN vọt lên 80% và người cầm đầu nước này, Werner Faymann, đã long trọng đề nghị Cộng đồng Âu Châu nên từ bỏ ĐHN và đầu tư mạnh vào Năng lượng tái tạo.

Theo tôi, chỉ có Năng lượng tái tạo (không tốn tiền nhiên liệu, đừng bao giờ quên !) mới đem lại độc lập, hòa bình và dân chủ cho thế giới.

Mỗi lò hạt nhân sẽ làm ta kẹt ít nhất 50 năm để khai thác và 50 năm để tháo gỡ. Đó là chưa kể phải tiếp tục quản lý chất thải phóng xạ suốt hàng trăm thế kỉ liên tiếp!

Nếu một tai nạn lớn như thảm họa Tchernobyl hay Fukushima, xẩy ra trong số 14 lò, sẽ được xây cất ở các tỉnh Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Hà Tĩnh, thì lãnh thổ ta sẽ lâm nguy và bị cắt làm đôi, do phóng xạ bao trùm cả miền Trung. Dân chúng sẽ di tản ở đâu ? Chất thải phóng xạ giết đồng bào ngàn năm vẫn còn đó.

Ta đừng vội quên Fukushima. Chất độc phóng xạ tiếp tục tung hoành cả khu vực rộng lớn xấu số này. Hiện nay, Tepco đang gặp cơn khủng hoảng hết sức trầm trọng. Mỗi ngày Tepco tiếp tục đổ ra Thái Bình dương trên 300 tấn nước bị ô nhiễm ! Chính phủ Nhật đang hoang mang, vì những thùng chứa 200.000 tấn nước nhiễm phóng xạ đe dọa bị nứt. Vừa qua, 300 tấn nước rất độc hại đã thoát khỏi một thùng nước bị hỏng. Sự cố đã được nâng lên cấp số 3 trên thang INES (International Nuclear Event Scale). Tepco cũng như Rosatom của Nga đã nhiều lần bị chỉ trích về sự thiếu nghiêm túc và nói láo, ta cứ tin tưởng ở hai chữ an toàn của họ thì có ngày sẽ thất vọng và hối tiếc.

Nước Áo vô cùng sáng suốt đã hỏi ý kiến dân trước khi xẩy ra 3 biến cố khủng khiếp nhất : Three Miles Island, Tchernobyl và Fukushima.

Vì vận mệnh thiêng liêng của tổ quốc và sự sống còn của đồng bào, một lần nữa, tôi thiết tha đề nghị Chính phủ Việt Nam tổ chức gấp một cuộc trưng cầu dân ý, trước khi khởi công. Nếu không, những ai lấy quyết định hôm nay, ngày mai đâu còn đó mà chịu trách nhiệm với non sông ? ».

An toàn là đòi hỏi số một

Trở lại với chủ trương xây dựng một trung tâm hạt nhân tại Đà Lạt. Ngoài các mục tiêu nghiên cứu cơ bản và sản xuất các đồng vị phóng xạ phục vụ cho y tế và một số ngành kinh tế, dự án Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Đà Lạt nằm trong chương trình đào tạo nhân lực cho kế hoạch phát triển ĐHN tại Việt Nam, trước mắt với việc xây dựng hai nhà máy hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận, với công nghệ và tín dụng của Nga và Nhật Bản, dự kiến sẽ bắt đầu cung cấp điện từ năm 2020. Việc khởi sự một trung tâm đào tạo nhân lực hạt nhân vào thời điểm sắp khởi công xây dựng nhà máy hạt nhân đầu tiên (năm 2014) cho thấy Việt Nam đang lúng túng trong chủ trương phát triển năng lượng hạt nhân, mà việc đào tạo vốn có những đòi hỏi rất cao. Một số nhà quản lý và chuyên gia trong nước cảnh báo, một mặt, Việt Nam chưa xây dựng xong chương trình đào tạo ở bậc đại học cho các ngành nghề trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử - với ước tính cần khoảng hơn 4.000 kỹ sư, chuyên viên… từ sau năm 2020 -, mặt khác, các ngành học này khó thu hút được sinh viên, đặc biệt các sinh viên có năng lực khá, giỏi. 

Bên cạnh những ý kiến phê phán triệt để chủ trương phát triển ĐHN như của Giáo sự Nguyễn Khắc Nhân trong phần trình bày phía trên, tại Việt Nam, sau khi chương trình hạt nhân chính thức được thông qua, một số chuyên gia trước có quan điểm phản đối, nay chấp nhận chủ trương chính thức của Nhà nước, nhưng tiếp tục bảo vệ quan điểm : Để ĐHN không trở thành một tai họa, điều tiên quyết số một là phải đào tạo được một đội ngũ nhân lực đủ để tham gia xây dựng, vận hành và bảo đảm an toàn các nhà máy trong tương lai.
Chúng tôi xin giới thiệu với quý vị tiếng nói của Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện phó Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, hiện là chủ tịch hội đồng khoa học cục Kiểm soát và an toàn bức xạ, hạt nhân Việt Nam.

Phỏng vấn với Giáo sư Phạm Duy Hiển
(11:49)
 

Giáo sư Phạm Duy Hiển : « Sau tai nạn Fukushima, thì trên thế giới có tổng kết lại là tại sao nó xẩy ra. Thì người ta rút ra mấy cái kết luận như thế này : Cái an toàn của ĐHN nó không phải là tự trong máy móc thiết bị đã được cài sẵn, mà vấn đề là cái an toàn đó nó được thể hiện qua đội ngũ về chuyên môn cũng như về quản lý. Do đó cho nên, Việt Nam muốn làm ĐHN, thì như chúng tôi đã nói rất nhiều lần là cái công tác đào tạo con người là việc hết sức quan trọng. Mà tôi nghĩ rằng Nhà nước cũng đã quan tâm đến chuyện đó. Do đó cho nên, việc xây dựng cái trung tâm nghiên cứu hạt nhân, với Trung tâm nghiên cứu hạt nhân cái lò phản ứng công suất hơn 10 MW là nằm trong chủ trương ấy.

Hiện nay, Nhà nước, Quốc hội rất muốn là có ĐHN sau 2020, nhưng mà trên thực tế tiến độ đó là khó thực hiện được, bởi vì ngay đến bây giờ phía Việt Nam vẫn chưa nhận được những tài liệu thiết kế cần thiết, thậm chí những tài liệu kỹ thuật, luận chứng của các đối tác cũng chưa có. Là bởi vì, như tôi nói nhiều năm trước, việc làm ĐHN không đơn giản như thế, như khi ta quyết định xây dựng một nhà máy đóng giày… Đặc biệt sau vụ Fukushima, mọi người đều thấy rằng an toàn ĐHN là vấn đề rất lớn.

Nhân lực có trình độ cao không chỉ trong kỹ thuật mà cả trong quản lý 

GS Phạm Duy Hiển : Cho nên không thể làm mà đốt cháy giai đoạn được. Thực chất vấn đề này chúng tôi đã dự đoán trước từ nhiều năm, thậm chí từ cách đây 10 năm. Thế và cũng căn cứ vào tình hình chung ở rất nhiều nước trên thế giới, nói chung trong thời gian những năm gần đây, có lẽ loại trừ Trung Quốc là một nước có lẽ cũng đặc biệt, còn tất cả các nước khác làm ĐHN đều trễ tiến độ, so với lại dự kiến ban đầu, thậm chí trễ rất nhiều. Tất cả đều là do chuyện con người bây giờ, người ta lo cho chuyện an toàn, không thể chấp nhận, không thể bỏ qua bất cứ sai sót nào. Và cái đó nó cũng đặt ra một thách thức cho Việt Nam. Là muốn làm được như vậy, thì phải có đội ngũ, phải có những người am hiểu, chứ không phải lúc nào cũng thuê nước ngoài được cả.

Thế thì trở lại vấn đề nhân lực cho Việt Nam. Nhân lực có trình độ cao không phải chỉ trong lĩnh vực học thuật, chuyên môn, kỹ thuật, mà còn cả về quản lý, lo lắng cho công tác an toàn. Và việc chỉ đạo, lãnh đạo từ phía cấp cao của Nhà nước. Chúng ta thấy, như vụ Fukushima hiện nay. Ngay vụ rò rỉ phóng xạ, Thủ tướng chính phủ phải đứng ra giải quyết.

Đội ngũ nhân lực chưa sẵn sàng thì chưa thể xây dựng và vận hành nhà máy ĐHN

GS Phạm Duy Hiển : Bây giờ gần đây nói thêm, cũng có chuyện là trong nước cũng có chính sách là tuyên truyền cho người dân biết về ĐHN. Nhưng mà các nước người ta tổng kết về tuyên truyền như thế này : Anh tuyên truyền cho ĐHN, thì anh không thể nói được là ĐHN là an toàn, vì nó không đúng nữa rồi. Khắp nơi nó xẩy ra chuyện này, chuyện khác, nhất là vụ Fukushima. Tuyên truyền (thực chất) cho ĐHN thì phải nói như thế này : ''Bà con hãy tin tưởng vào chúng tôi ! Chúng tôi sẽ cố gắng làm cho ĐHN an toàn đến mức có thể được''. Đấy là câu tổng kết mà tôi cho là rất có giá trị.

Như vậy có nghĩa là, thực chất mọi người phải làm thế nào để cho nó an toàn, và tuyên truyền có nghĩa là thể hiện cho đồng bào, nhân dân thấy là chúng tôi đã cố gắng hết sức để làm cho nó an toàn. Đó là tình hình của Việt Nam ta hiện nay, khi đã có quyết định là làm ĐHN, thì có lẽ cách tốt nhất là phải nói như vậy.

Mà nói như vậy có nghĩa là phải có hành động. Có hành động là mọi biện pháp để có được đội ngũ bảo đảm an toàn cho ĐHN. Tôi nói với tư cách của một người được giao nhiệm vụ làm ngành hạt nhân này từ 35 năm nay ở trong nước. Trước đây tôi không có nhất trí với việc làm sớm và làm ồ ạt ĐHN, nhưng bây giờ một khi chính phủ đã quyết, thì chúng tôi phải nói rất mạnh đến vấn đề là nhân lực của ta chưa thật sẵn sàng và phải hết sức tập trung vào đào tạo được nhân lực đó. Và chừng nào đội ngũ nhân lực đó mà chưa sẵn sàng, thì chưa có thể làm, chưa có thể cho vận hành, xây dựng nhà máy ĐHN được.

----

Trong nhiều năm, trước khi được Quốc hội thông qua, chương trình ĐHN của Việt Nam bị nhiều ý kiến phê phán dữ dội của các chuyên gia trong và ngoài nước, về mặt nguyên tắc. Sau khi đã trở thành một chủ trương chính thức tại Việt Nam vào năm 2009, chương trình phát triển ĐHN tiếp tục bị chỉ trích trong vận hành cụ thể, đặc biệt sau khi giới chuyên gia thu nhận được rất nhiều bài học đắt giá về những sai lầm của con người trong việc quản lý phóng xạ sau thảm họa Fukushima. Sự lúng túng của chính phủ trong việc thực hiện chương trình phát triển ĐHN như dự kiến là một dịp để đặt lại vấn đề : Trong bối cảnh tổng mức tiêu thụ điện toàn quốc thấp hơn nhiều so với dự kiến, liệu việc phát triển cấp tốc năng lượng hạt nhân có cần thiết ? Bên cạnh đó, nếu tổ chức được việc tiết kiệm điện thực sự hiệu quả và kiên quyết phát triển mạnh các loại năng lượng tái tạo, liệu Việt Nam có thể thu hẹp quy mô của ĐHN ?

Để có cơ sở đưa ra được những câu trả lời thỏa đáng cho những vấn đề kể trên, nhiều nhà khoa học cho rằng cần phải có những tính toán về dự báo tiêu thụ điện và phương hướng tiết kiệm điện, phát triển các năng lượng xanh mang tính minh bạch và khách quan hơn hiện nay

Các bài liên quan

Về chủ trương làm đường điện 750 kV tại Ninh Thuận

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Tôi không rõ ai đề xướng điện áp 750 kV (con số tiêu chuẩn là 765 kV). Thật hết sức vô lý !

Trên lý thuyết, khi đường dây dài quá 700 km hay 800 km, dùng điện siêu áp (ultra haute tension) 750 kV hay điện một chiều (courant continu) cao thế là phải.

Đường dây Bắc Nam của ta dài gần 1.500 km, xây dựng vào năm 1992, dùng điện xoay chiều 500 kV. Sở dĩ không dùng điện một chiều là vì dọc đường phải cung cấp điện cho nhiều thành phố, qua các trạm biến thế. Lúc bấy giờ ta không dùng 750 kV vì điện áp cao nhất của lưới điện quốc gia là 220 kV. Từ con số này vọt ngay lên 750 kV thì rất bất tiện cho việc khai thác. 

Từ các nhà máy điện hạt nhân ở miền Trung truyền tải đến lưới điện quốc gia (220 kV hay 500 kV) khoảng cách chẳng là bao, đâu cần phải dùng siêu điện áp 750 kV làm gì, tốn kém vô ích.

Không phải muốn tăng mức điện áp lúc nào cũng được ! Nhiều người tưởng lầm rằng điện áp hay điện thế (U) tăng cùng tỷ lệ với công suất điện (P), vì thế khi có nhiều nhà máy điện với công suất lớn, thì phải tăng mức điện thế theo ngay. Nhưng trên thực tế, điện thế U tỷ lệ với √ P chứ không phải với P, tức là mức tăng điện áp chậm hơn rất nhiều so với mức tăng công suất.

Nga đã sử dụng điện áp 750 kV từ lâu vì đất rộng và nhu cầu điện mênh mông. Hay có chuyên gia ngoại quốc nào đây quảng cáo láo để bán trang thiết bị cho ta ?

Điều này cũng dễ hiểu thôi vì thị trường hạt nhân đang xuống dốc mạnh. Nhiều nước, đã lỡ đặt lò, sau Fukushima, rút lui có trật tự. Chương trình khuếch trương điện lực của Nhật cũng có dự kiến sẽ xây cất thêm 14 lò trước thảm họa. Tội gì mà không bán hàng tồn kho cho Việt Nam ?

Lúc xưa, tôi phải tranh đấu mạnh với công ty Nippon Koei nên họ mới chịu trang bị đường dây Danhim Sàigòn dài 257 km, với điện áp 220 kV thay vì 154 kV. Lý do là họ không làm đúng kỹ thuật và tôi cũng nghĩ rằng họ muốn bán thiết bị tồn kho, vì điện áp 154 kV đã lỗi thời !

Đầu những năm 1970, các kỹ sư EDF vì quá lạc quan, cũng đã có sai lầm trong dự báo chiến lược như ta. Họ đã tuyên bố rằng đến năm 2000 điện áp cao nhất của lưới điện EDF là 750 kV và tổng sản lượng điện của Pháp là 1.000 TWh !

Sau cơn khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên năm 1973, nhờ kế hoạch tiết kiệm năng lượng, mức tiêu thụ đã hạ thấp nhanh. Từ nhiều năm nay, tổng sản lượng điện của Pháp vẫn giữ con số 500 TWh và điện áp cao nhất 400 kV vẫn không thay đổi.

Có kịch bản khuyến khích khai thác triệt để Năng lượng tái tạo, tiết kiệm và tăng gia hiệu quả năng lượng để hạ tổng sản lượng điện Pháp xuống 400 TWh !

Ta nên hết sức thận trọng, cần phải nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ, không nên tung ra những con số thiếu chính xác, gây ra những lỗi lầm đáng tiếc trong việc kiến thiết quốc gia.

 
-->đọc tiếp...