Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bắc Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bắc Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Ngô Thị Hồng Lâm: GHI CHÉP TỪ TRỊNH NGUYỄN - TỪ SƠN - BẮC NINH


Ghi chép từ Trịnh Nguyễn
Ngô Thị Hồng Lâm

Theo các chuyên gia môi trường  đánh giá “Từ Sơn có nhiều làng nghề, từ đó gây ô nhiễm môi trường  nghiêm trọng. Bởi tất cả các hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước mưa đều cùng chung một hệ thống  tiêu thoát gây ô nhiễm cho lưu vực sông Thái Bình và sông Cầu”. Đảng và chính quyền thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh đã cho cưỡng chế GPMB lấy đất thực hiện dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải. 

Nhưng chủ trương này đã không được lòng dân chấp thuận và xẩy ra tranh chấp. Bởi lẽ theo bà con dân làng Trịnh Nguyễn trình bầy :

- Thứ nhất: Khu ruộng này là bờ xôi ruộng mật đã được đảng cấp cho những gia đình thuộc diện chính sách có công với đất nước trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

- Thứ hai: vị trí xây dựng nhà máy nằm ở  trên nguồn nước tưới tiêu cho toàn bộ cánh đồng ở phía sau nhà máy. Nếu nhà máy đi vào hoạt động thì toàn bộ cánh đồng ở phía sau nhà máy XLNT này sẽ không có nước tưới, dẫn đến toàn bộ diện tích này không thể canh tác được. Nhân dân không chống lại chủ trương xây dựng nhà máy xử lý nước thải, nhưng vì cần có ruộng để làm ra hạt gạo nuôi sống con người ,đề nghị chủ đầu tư cho dời nhà máy này xuống khu đồng phía dưới. Yêu cầu này đã không được đáp ứng.

- Thứ ba : quy trình khoa học thực hiện thu gom nước thải sinh hoạt, nước thải từ các làng nghề được thực hiện ra sao ? Có gom vào bể chứa hay không ? Chất thải sau xử lý sẽ đổ đi đâu ? Có tiếp tục một lần nữa làm xấu thêm môi trường hay không? Dự án được thực hiện trong bao lâu ? Nếu “Dự  án” này vẫn không đảm bảo được việc làm sạch môi trường thì ai? Cơ quan nào? là người chịu trách nhiệm trước đảng, trước chính quyền, trước nhân dân. Hay lại “hòa cả làng”.

Thứ tư : mức đền bù cho dân chỉ có 200 triệu/1sào (360m) là quá thấp, không đủ cho người dân tái tạo cuộc sống mới. Trong khi chủ trương của đảng “phải đảm bảo cuộc sống cho dân ổn định sau khi lấy đất !”. Giá cả đền bù không dược minh bạch công khai với dân.

Thế nhưng yêu cầu chính đáng của người dân làng Trịnh Nguyễn đã không được phía chính quyền và chủ đầu tư đầu tư đáp ứng và đã xẩy ra tranh chấp giữa nhân dân làng Trịnh Nguyễn và chủ đầu tư với sự ủng hộ tuyệt đối của chính quyền đã thực hiện một cuộc cưỡng bức dân quy mô bằng bạo lực để lấy đất, trấn áp người dân hết sức dã man. Người thì bị đánh ngất xỉu, các cháu bé bị thương do giầy đinh các cảnh sát cơ động dẫm lên.

Chưa hết, trong ngày về Trịnh Nguyễn tôi còn được nghe những nhân chứng là nạn nhân của vụ cưỡng bức lấy đất kể rằng : sau vụ cưỡng bức dân để lấy đất chính quyền còn hèn hạ o ép dân dân không được đi làm thuê, các cháu nhỏ không được nhà trường tiếp nhận cho học. Chị Đỗ Thị Hải, 66 tuổi là người dân Trịnh Nguyễn có con bị công an đánh gẫy tay. Bà Ngô Thị Đức, 73 tuổi đảng viên, vợ liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cũng vì đòi thực hiện quyền dân chủ của người dân “Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra” của một Nhà nước Do Dân và Vì Dân với việc xây dựng nhà máy nước thải tại Đồng Lỗ cũng đã bị đảng cấp trên trù dập khai trừ bà khỏi đảng !

Dã man hơn một kẻ giấu mặt đã tạt a-xit vào chị Đỗ Thị Thiêm,một người phụ nữ luôn đi đầu trong việc tố cáo chống tham nhũng tại địa phương này.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, không một làng xã nào của miền Bắc người dân không đi đầu ủng hộ chủ trương và lời kêu gọi của đảng góp sức người sức của cho mặt trận đánh thắng giặc ngoại xâm. Kết thúc cuộc chiến nh2 nào cũng có thương binh, cũng có liệt sĩ.Tình đoàn kết “Quân và Dân trong kháng chiến như cá với nước. Phát biểu của người dân Trịnh Nguyễn rất có trách nhiệm rằng : chúng tôi không chống lại chủ trương của chính quyền. Nhưng những chủ trương của chính quyền đặt ra cũng phải tôn trọng đời sống của người dân Trịnh Nguyễn.

Chính quyền Từ Sơn cần phải xem lại cách hành xử của mình với những người dân : Biết mình và biết người ! sai thì phải sửa, để khẩu hiệu “Ý đảng Lòng dân” đi vào thực tế chứ không chỉ là khẩu hiệu xuông treo trong phòng máy lạnh. Không thể áp đặt bắt dân phải từ bỏ cuộc sống của mình với giá đền bù rẻ mạt, không đủ để tái tạo một cuộc sống mới không bằng cuộc sống cũ trước đó.

Một điều nữa cần đặt ra với nhà đầu tư rằng hiện nay có rất nhiều phương pháp xử lý nước thải được cải tiến như : Công nghệ xử lý nước và rác thải mới của Hàn Quốc.“Theo nhận định thì nếu ứng dụng được tại Việt Nam sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, giảm gánh nặng xử lý chất thải cho các doanh nghiệp và công ty quản lý môi trường quốc gia. Tại sao các vi không áp dụng các khoa học tiên tiến hiện đại mà lại đi cưỡng bức người dân ?

 Theo tìm hiểu của chúng tôi, những lý do khiếu kiện mà người dân đưa ra là hoàn toàn chính đáng. Bởi nhà máy xây dựng quá gần khu dân cư ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân; “vị trí xây nhà máy ở đầu hệ thống tưới tiêu của gần 100 mẫu ruộng, đất thuộc diện phải thu hồi là đất canh tác "bờ xôi ruộng mật", trong đó có nhiều diện tích đã cấp cho các gia đình chính sách. Thậm chí một số người còn khiếu kiện việc cán bộ địa phương không minh bạch trong công tác đền bù, GPMB. Yêu cầu di dời vị trí xây dựng nhà máy đến khu Đồng Khô cách đó khoảng 1km”.

Vì thế tính từ ngày 13/6 /2013 cho đến nay đã hơn 110 ngày bà con cùng nhau đoàn kết. Nắng cũng như mưa căng lều trại các cụ trưởng lão trong làng thường trực ngày đêm tại lều quyết một lòng giữ đất, giữ cuộc sống cho con cháu mai sau, kể cả bằng máu của mình.

Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến chính đáng của người dân Trịnh Nguyễn trong cuộc đấu tranh không cân sức này. Cầu mong lẽ phải sẽ phải thắng !

Ngô Thị Hồng Lâm
2/10/2013

-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

KINH DƯƠNG VƯƠNG - "ÔNG NỘI CỦA VUA HÙNG" LÀ SẢN PHẨM VĂN HÓA TÀU

Kinh Dương Vương- ông là ai?
TS. Trần Trọng Dương

Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, được biết tỉnh Bắc Ninh đã triển khai một dự án khôi phục và tăng quy mô xây dựng khu di tích thờ "Thủy tổ Kinh Dương Vương - ông nội của Vua Hùng", với vốn đầu tư 500 tỷ đồng. Thật là hãi hùng về con số chi phí khổng lồ này, trong khi tình hình kinh  tế đang hồi bấn loạn, ngân khố cạn kiệt, nhân tâm đang xáo động. 

"Ông nội của Vua Hùng" - chính điều này đã thôi thúc một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước lại cất công truy tìm nguồn gốc của Kinh Dương Vương. Và thật bàng hoàng: Kinh Dương Vương phải chăng chỉ là một sự cóp nhặt của Ngô Sĩ Liên từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ Trung Hoa? Phải chăng, chúng ta đã và đang, và còn mãi về sau thờ một ông vua giả có nguồn gốc của Tàu? - Lâm Khang.
Như trong bài viết trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng Đại Việt sử ký toàn thư- bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam đề cập đến những sự kiện từ khởi thủy cho đến thế kỷ XVII- là một tư liệu được biên soạn trên tư duy đa nguyên "văn- sử- triết" của thời Trung Đại. Trong đó, bộ sử này đã sưu tập nhiều huyền thoại dân gian của đời sau để bù đắp cho những khuyết thiếu của sử liệu. Trong bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa ra những cứ liệu để làm rõ hơn vấn đề tai hại trên. Đối tượng được đề cập đến ở đây chính là Kinh Dương Vương- một nhân vật được coi là thủy tổ của Việt Nam- phải chăng chỉ là một ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc? 

 Cổng đền thờ Kinh Dương Vương có bốn chữ Hán đắp nổi THỦY TỔ ĐÀI MÔN, 
ảnh: Thọ Bình, Bá Kiên, theo tienphong.vn 

Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương 

Theo như cách trình bày ở Kỷ Hồng Bàng thịtrong Toàn thư, Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Vì thế Kinh Dương Vương này được Ngô Sĩ Liên coi như là là vị thủy tổ đầu tiên của người Việt và nước Việt. Chẳng những thế, Kinh Dương Vương còn lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long để sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ- con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống bể. Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV đã bình luận đoạn này như sau: "Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?"[1]. Kể từ sau Ngô Sĩ Liên, phần lớn các bộ lịch sử Việt Nam đều công nhận Kinh Dương vương là thủy tổ của nước Việt. Ví dụ như sách Thiên Nam minh giám (thế kỷ XVII) mở đầu như sau:
.
"1-   Tượng mảng xưa sách trời đã định,
Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
Tày nhường phải đạo mở mang phải thì.

5-   Tới Lạc Long  nối vì cửu ngũ,
Thói nhưng nhưng  no đủ đều vui,
Âu Cơ  gặp gỡ kết đôi,
Trổ sinh một bọc trăm trai khác thường.
Xưng Hùng Vương cha truyền con nối,

10-  Mười tám đời một mối xa thư,
Cành vàng lá ngọc xởn xơ,
Nước xưng một hiệu năm dư hai nghìn."[2]

Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (ngày nay). Năm 1840, đền cho dựng bia đá "Kinh Dương Vương lăng". Năm 1940, đời vua Bảo Đại, đền làm thêm hai đại tự "Nam Tổ miếu" và "Thần truyền thánh kế". Năm 2000, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã về thăm đền và để lại bút tích gợi ý tỉnh Bắc Ninh có đề xuất lên trung ương nâng cấp cơ sở thờ tự của tổ tiên. Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đã đến thăm đền và để lại những lời kỷ niệm sâu sắc về cội nguồn dân tộc[3]. Năm 2012, các tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm đã xuất bản cuốn sách “Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương” - Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc. Sách tập hợp các tư liệu từ “Đại Việt Sử ký toàn thư”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Thủy Kinh chú”… từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả, nhà sử học. Ngày 25 tháng 2 năm 2013, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức lễ hội kỷ niệm 4892 năm Đức thủy tổ khai sinh mở nước. Đến dự lễ khai hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo một số Bộ, ngành.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cùng các đại biểu dâng hương tưởng niệm Đức Thủy tổ Kinh Dương Vương. Ảnh: dangcongsan.vn -

Sau lễ dâng hương, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã dự lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương. Theo quy hoạch đã được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, dự án có tổng diện tích gần 40ha, gồm không gian bảo tồn di tích, không gian phát huy giá trị di tích, không gian quản lý và dịch vụ phụ trợ, với nguồn vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng[4]. Như vậy, sau nhiều trăm năm tồn tại, tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương đến nay đã chính thức được sự đồng thuận của nhà nước. 

Kinh Dương Vương- từ nhân vật của truyện truyền kỳ Trung Hoa 

Tuy nhiên, như ngay ở đầu bài viết, chúng tôi có ý nghi vấn rằng, Kinh Dương Vương chưa chắc đã là một nhân vật lịch sử có thật, mà có thể đó chỉ là một sự nhầm lẫn của Ngô Sĩ Liên khi ông đã sưu tầm một câu chuyện văn học để mở đầu cho một công trình sử học của nước nhà. Chứng cớ nào đề chúng tôi có thể đi đến nghi ngờ như vậy?

Chứng cứ nằm ngay trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”[5]. Nhưng chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái (một tác phẩm văn học sưu tầm những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam) của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?)[6], rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang[7].

Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu sau này. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc có chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường[8]. Truyện có thể tóm tắt như sau: Liễu Nghị là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối, xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ, lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng. Sau hai vợ chồng đều thành tiên[9]. 

Liễu Nghị truyện” được coi là một truyện truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện được lưu hành rộng rãi trong dân gian. Đến thời Tống trở đi, truyện Liễu Nghị được Thượng Trọng Hiền chuyển thể sang kịch bản tạp kịch với tên “Động Đình hồ Liễu Nghị truyền thư[10]. Liễu Nghị đã trở thành một tích truyện rất được ưa thích trong văn hóa diễn xướng của người Trung Quốc. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng đã ra đời, như nhà Tống có Liễu Nghị đại thánh nhạc, nhà Kim có Liễu Nghị truyền thư của Gia Cùng Điệu, triều Nguyên có Liễu Nghị Động Đình long nữ (Nam hí), thời Minh Thanh có Quất bồ ký của Hứa Tự Xương, Long tiêu ký của Hoàng Thuyết, Long cao ký của Dương Ban, Thẩn trung lâu của Lý Ngư, Thừa long giai thoại của Hà Phủ[11].

Cho đến nay, Liễu Nghị truyền thư (còn có tên Thủy tinh cung, Liễu Nghị kỳ duyên) vẫn được người Trung Quốc coi như là một kịch mục kinh điển của hý kịch Trung Hoa. Từ năm 1952, vở kịch này đã nhiều lần được dàn dựng bởi các đạo diễn khác nhau, số lần trình diễn có lẽ là khá nhiều, hiện chưa thể thống kê hết được[12]. Không những thế, tích truyện này đang có xu hướng được áp dụng sang các hoạt động văn hóa khác hiện nay ở Trung Quốc. Ví dụ, người ta lấy đề tài này làm tranh khắc ván, thư họa truyền thống (thủy mặc).

Ngày 17 tháng 7 năm 2004, Bưu cục Quốc gia Trung Quốc đã phát hành seri tem “Dân gian truyền thuyết- Liễu Nghị truyền thư”, gồm 4 con tem với 4 hoạt cảnh: “Long nữ gửi thư”, “Thư gửi Động Đình”, “Cốt nhục đoàn tụ”, và “Nghĩa trọng tình thâm”[13].

Và những nhận định của sử gia đời sau 

Đến đây có thể nhận định về nguồn gốc của các mô típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân- Âu Cơ, và coi đó như là nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương- cái triều đại mà người Việt ngày nay coi như là lịch sử đích thực của mình. Nhưng, với một tác phẩm có ảnh hưởng lớn như vậy, các nhà Nho Việt Nam trong nhiều thế kỷ hẳn cũng phải biết đến. Bằng chứng là nhà thơ nổi tiếng Thái Thuận (Tiến sĩ 1475) cũng đã sáng tác bài thơ Liễu Nghị truyền thư. Nhưng đó là chuyện của văn học.

Còn với tư cách là những người viết sử, không ít sử gia thời Trung Đại đã phản đối cách lắp ghép của Ngô Sĩ Liên. Đầu tiên, phải kể đến những nhận định của Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử kí tiền biên. Ông viết: “Nay xét phần Ngoại kỉ chép: Năm Nhâm Tuất thì bắt đầu Giáp Tí là năm nào? Ghi chép tên húy Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân sao riêng lược bỏ Hùng Vương? Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi. Cái lỗi ấy là tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực. Phàm những chuyện lấy từ Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, cũng như Bắc sử lấy ở Kinh Nam Hoavà thiên Hồng Liệt đấy.”[14] 

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856 - 1883) viết: “Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân trong ‘Kỉ họ Hồng Bàng, vốn từ thời Thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ[15]. Chuẩn tâu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã  nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và kiên quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”[16].  

Qua những trình bày ở trên, độc giả đã phần nào mường tượng ra con đường thu nhận biến đổi tích truyện từ truyện Liễu Nghị đến truyện Kinh Dương. Đây sẽ là những tư liệu thú vị để nghiên cứu về tiếp xúc văn học văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Đồng thời cũng là “mẫu sử liệu” thú vị cho giới nghiên cứu khám nghiệm và giám định. Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới sự ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi[17].

Trần Trọng Dương

[1] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.131-133.
[2] Trịnh thị. (1624-1657). Thiên Nam minh giám. tr.4a. (Thư viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh , ký hiệu HNv.006) trang 1a. Tham khảo phần phiên khảo của Hoàng Thị Ngọ, (1994). Nxb Văn học. Hà Nội.

[3] Thọ Bình - Bá Kiên. Đầu năm thăm lăng Kinh Dương Vương ( ông nội vua Hùng ). Theo tienphong.vn


[4] Việt Cường. Bắc Ninh khai hội Kinh Dương Vương. http://vtv.vn
[5] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. sdd. tr.133.
[6] Trần Thế Pháp. (XIV?). Lĩnh Nam chích quái. ký hiệu. A.1200 (Viện NC Hán Nôm), tr.4a-4b.
[7] Nguyễn Thanh Tùng. 2010. Giao lưu tiếp biến văn hoá Trung - Việt trong lịch sử: khảo sát sự tiếp nhận tích truyện Liễu Nghị truyền thư ở Việt Nam thời trung đại. Hội thảo Quốc tế giao lưu Văn hóa Việt Nam Trung Hoa. Tp Hồ Chí Minh.
M. Durrand. 1959. Technique et Pantheon des médiems Vietnamien. BEFEO. Vol.XLV, Paris. [chuyển dẫn Ngô Đức Thịnh. 2009. Đạo mẫu Việt Nam.(Tập 1) Nxb Tôn giáo. Hà Nội. tr.63- 64.
[8] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. Trung Quốc văn học đại từ điển(thượng). Thượng Hải từ thư xuất bản xã. Thượng Hải. tr.277.
[9] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr.409.
Bản dịch tiếng Việt có thể tham khảo : Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kì ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, 1990. – Số 2 (9). - Tr.90-109.
[10] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.
[11] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.

[12] Quý vị có thể copy chữ Hán “柳毅传书” xem các trích đoạn vở kịch này trên http://www.youtube.com

[14] Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản.  Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). Nxb KHXH.H.1997. tr.40.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển I, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu: R.591, tờ 4a- 5b.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), sdd.R.591, tờ 9b-10a.
[17] Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.

* Bài đã đăng trên Tia Sáng.
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

BẮC NINH: DỠ BỎ HƠN 100 BIỂN QUẢNG CÁO TIẾNG TÀU

Bắc Ninh:
Hạ hơn 100 biển quảng cáo tiếng Trung Quốc

(Dân trí) - Trong quá trình thanh kiểm tra tình trạng biển quảng cáo tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Trung Quốc, “lấn át” tiếng Việt tại thị xã Từ Sơn (Bắc Ninh), các cơ quan chức năng tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện, xử lý, bắt hạ hơn 100 biển quảng cáo vi phạm. 


Những năm gần đây, trên địa bàn các phường Trang Hạ, Đồng Kỵ và xã Phù Khê (thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh) xuất hiện nhiều biển quảng cáo tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Trung Quốc lấn át tiếng Việt tại các xưởng sản xuất gỗ, cửa hàng kinh doanh mua bán, công ty vận tải, hàng ăn, nhà nghỉ…

Đi dọc quốc lộ 1A cũ, theo đường Nguyễn Văn Cừ tại thị xã Từ Sơn, có thể thấy tràn ngập những tấm biển hiệu tiếng Trung. Các biển hiệu này xuất hiện phía ngoài mặt đường chính, tập trung ở các doanh nghiệp, cửa hàng kinh doanh lớn.

 Biển hiệu quảng cáo chữ Tàu lấn át chữ Việt tại TX Từ Sơn (Bắc Ninh).
Biển hiệu quảng cáo chữ Tàu "lấn át" chữ Việt tại TX Từ Sơn (Bắc Ninh).
Đặc biệt tại thôn Phù Khê Thượng, xã Phù Khê, tồn tại đủ loại biển quảng cáo của các quán ăn, nhà nghỉ, cửa hàng kinh doanh... viết hầu hết bằng chữ Trung Quốc với đủ loại kích cỡ to nhỏ.

Lý giải tình trạng trên, anh Dương Văn Thưởng, chủ cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Niềm Tin 1, phường Đồng Kỵ, cho biết, hàng tháng, anh bán được 20% số sản phẩm cho khách hàng Trung Quốc nên biển hiệu phải viết tiếng Trung. Những năm trước, khi chưa tập trung bán hàng cho khách Trung Quốc, các biển hiệu quảng cáo trong làng nghề thường viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
Lo ngại về tình trạng phố Tàu tồn tại nhiều năm tại TX Từ Sơn.
Lo ngại về tình trạng "phố Tàu" tồn tại nhiều năm tại TX Từ Sơn.
Những năm gần đây, do lượng khách Trung Quốc tìm đến đông, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu 100% cho khách Trung Quốc nên biển hiệu dĩ nhiên cũng phải ưu tiên viết tiếng Trung. Anh Thưởng cho biết, cửa hàng của gia đình anh giành 80% diện tích biển quảng cáo cho tiếng Việt, 20% cho cả tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.

Trao đổi vấn đề biển quảng cáo tiếng nước ngoài vi phạm quy định, ông Dương Văn Canh - Chủ tịch UBND phường Đồng Kỵ - cho biết, do lượng khách nước ngoài đến giao thương trên địa bàn chủ yếu là các thương lái Trung Quốc, có nhiều người không biết tiếng Việt, nên để thuận tiện cho việc trao đổi, buôn bán, đã xuất hiện những biển quảng cáo có cả tiếng Việt và tiếng Trung.
Đã có hơn 100 biển quản cáo sai quy định bị hạ.
Đã có hơn 100 biển quản cáo sai quy định bị hạ.
Theo thông tin từ thanh tra Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, tháng nào thanh tra Sở cũng đi thanh tra. Đặc biệt trong tháng 3/2013, thanh tra Sở phối hợp với công an tỉnh đi thanh tra trên địa bàn toàn tỉnh; qua thanh tra đã phát hiện, xử lý, bắt hạ hơn 100 biển quảng cáo vi phạm luật quảng cáo vì để chữ nước ngoài ở trên và to hơn chữ tiếng Việt.

Nói về vấn đề xử lý triệt để vi phạm quảng cáo, ông Nguyễn Văn Ảnh - Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Bắc Ninh - cho biết, Phòng Thanh tra chỉ có 5 người nên sau khi đi thanh tra xử lý xong giao lại cho chính quyền địa phương và Phòng Văn hoá giám sát quản lý chứ không thể vòng đi vòng lại thanh kiểm tra liên tục. Tuy vậy, hàng tháng thanh tra Sở vẫn đi thanh tra để kịp thời phát hiện sai phạm, chấn chỉnh, xử lý.

Đoàn Thế Cường
Nguồn: Dân trí
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

NHỮNG THỦ ĐOẠN CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TRỊNH NGUYỄN


Những thủ đoạn của chính quyền đối với 
người dân Trịnh Nguyễn

Trương Văn Dũng. 

Trước sự đấu tranh mạnh mẽ của người dân Trịnh Nguyễn, không cho xây dựng nhà máy xử lý nước thải ngay tai khu dân cư chính quyền địa phương đã dùng rất nhiều thủ đoạn để đối phó với bà con.

Ngày 10/10/2011, khoảng 3h sáng họ lén lút điều 2 ô tô chở vàng mã đến khu đất cưỡng chiếm thắp hương động thổ. Sáng ra người dân hỏi họ, họ nói đi tìm mộ. Đến 6h sáng họ mang vào chùa thắp hương.

7h cùng ngày họ đưa các lực lượng chức năng đến giải ngân tại nhà văn hóa, từ ngày 10-15/10/2011 nhưng không một ai ra lấy tiền.

Tiêp đến đợt 2 từ ngày 15-20, họ mang tiền ra ủy ban nhân dân phường Châu Khê nhưng cũng không ai lấy tiền.

Những ngày sau đó, họ dùng biện pháp đi vận động các nhà có đảng viên, các nhà có xưởng sản xuất để đe dọa, nếu không lấy tiền sẽ ra khỏi đảng hoặc sẽ cắt điện sản xuất. Ở trường hợp này coi như ” bất khả kháng”, một số hộ dân có xưởng sản xuất phải lấy tiền đền bù. Có những trường hợp có con đi làm ở cơ quan nhà nước, họ đe dọa sẽ đuổi việc nếu không lấy tiền đền bù.


Tháng 9/2012, chính quyền đã khai trừ 1 số đảng viên ra khỏi đảng vì đã không nhận tiền đền bù, trong đó có bà Ngô Thị Đức. Bà là vợ liệt sĩ 47 năm tuổi đảng, sau khi ông hy sinh, bà đã ở vậy thờ chồng nuôi con. Quyết định khai trừ bà ra khỏi đảng vào ngày 24/9/2012.

Đặc biệt ngày 16/11/2012, ông chủ tịch phường Châu Khê Đỗ Văn Hiền dẫn đầu đoàn cưỡng chế, cho công an đánh bà Cao Thị Lụa vợ liệt sĩ bị chảy máu đầy mặt, phải đưa đi bệnh viện cấp cứu. Sự việc này chính quyền phủi tay vô trách nhiệm.

Đến trung tuần tháng 4, sang tháng 5/2013, họ liên tục phát loa với tiêu đề xây dựng nhà máy xử lý nước thải từ sáng cho đến khuya , công an vào làng chụp ảnh khủng bố người dân.

Ngày 17/5/2013, công an bộ đội vây làng áp sát đe dọa người dân. Những nhà nào nhận tiền đền bù rồi hoặc nhà có đảng viên, họ ép phải để cho công an bộ đội ăn ở tại những nhà dân nói trên, mục đích để theo dõi, vận động, phân tán người dân, làm cho người dân vô cùng khiếp sợ.

Ngày 14/6/2013, tổ cưỡng chế cùng xã hội đen vào làng, vừa vận động vừa đe dọa, Họ đưa lực lượng vào khu đất cưỡng chiếm nhưng đã bị bà con ngăn cản bằng cách ngồi chật kín như nêm, không cho họ đi qua.

Ngày 16-6-2013 chính quyền đã chỉ thị đến các trường tiểu học, phổ thông trung học. Các hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm quán triệt không cho các cháu tham gia giữ đất cùng bà con, nếu cháu nào tham gia giữ đât sẽ bị hạ điểm hoặc đuổi học. Sự việc này cho thấy chinh quyền đã không từ thủ đoạn nào.

Tôi nhớ cách đây 1 tháng truyền hình VTV1 đưa tin thời sự lúc 19h: ”Theo quyết định của thủ tướng chính phủ, năm học 2012-2013 sẽ đưa giáo trình chống tham nhũng vào giảng dậy cho các cháu”. Vậy quyết định của thủ tướng và các hành xử của chính quyền có mâu thuẫn với nhau không đây.

Cùng ngày đó, ông Đỗ Viết Lượng phát biểu trên truyền hình nói rằng ông ủng hộ đường lối chủ trương của đảng xây dựng nhà máy xử lý nước thải ngay khu dân cư. Kịch bản này quá quen thuộc đối với những người biểu tình yêu nước và những nhà bất đồng chính kiến. Ngay sau đó chính quyền thưởng ông Đỗ Viết Lượng 6 triệu đồng (tôi có hỏi bà con sao biết ông Đỗ viết Lượng được thưởng 6 triệu đồng, bà con trả lời: ”Vợ chồng ông Lượng chia tiền không đều nên cãi chửi nhau, thông tin bị lộ ra ngoài nên bà con biết).

Đỉnh điểm chiều ngày 18/6/2013, chính quyền đã huy động một lực lượng cảnh sát cơ động, trang bị vũ khí đến tận răng, đổ bộ vào khu đất, bị bà con ngăn cản. Họ dùng biện pháp đánh kín, dùng dùi cui thọc vào mạng sườn, mấy người dân bị ngất phải đưa đi cấp cứu, chân họ đi giày công vụ cố tình xéo lên chân các cháu nhỏ. Những ai có máy quay phim giơ ra chụp họ thì bị họ giật (sự việc này chúng tôi đã ghi lại và có nhân chứng).

Chiều ngày 19/6/2013, ông phó chủ tịch phường Trần Văn Thắng dẫn đầu đoàn cưỡng chế tiến vào khu đất, lại bị bà con ngăn cản. Ông Trần Văn Thắng lấy lý do đưa đoàn vào để thu giữ các cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm vì bà con cắm sai nơi quy định, bà con có hỏi lại ông Thắng “cắm như nào thì mới đúng quy định, ông có văn bản cắm cờ ở đây không? Tất nhiên là ông Thắng không trả lời được.

18h30 cùng ngày ông mới chịu rút quân.

Liên tiếp trong những ngày 20, 21, 22/6, loa phát thanh của phường phát chính quyền sẽ cải tạo đê để phục vụ bà con tránh bão lụt. Ngay sau đó họ dùng các xe ben suốt ngày đêm đổ cát xuống chân đê, về phía ruộng của bà con canh giữ. Bà con nghi vấn: tại sao chính quyền chỉ dùng cát đắp thân đê? Từ trước đến nay có đắp đê bằng cát bao giờ đâu?

Họ làm ngày làm đêm, chưa bao giờ họ làm việc trách nhiệm, “lo cho dân” như thế này. Ngay ngày hôm sau có người hỏi ông Trần Văn Thắng văn bản cải tạo đê của chính quyền đâu, cho chúng tôi xem, ông Thắng trả lời người dân không đủ thẩm quyền. Người dân nói chính sách của đảng và nhà nước đề ra “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tại sao anh bảo chúng tôi không đủ thẩm quyền? Ông Thắng không trả lời bèn quay mặt đi nơi khác đánh trống lảng.

Từ những nghi ngờ có cơ sở nêu trên, bà con đã nhóm họp với nhau lại đặt ra rất nhiều giả thiết. Cuối cùng đi đến kết luận, muốn xâm nhập vào khu đất của bà con, họ phải dùng một lượng cát rất lớn, khi đã đủ số lượng cát, họ sẽ nhằm vào đêm mưa to gió lớn , khi bà con mất cảnh giác, họ sẽ dùng xe ủi để mở đường, xung quanh ruộng họ sẽ chắn hàng rào, dây thép gai, đố ai mà vào được. Nếu ai gỡ hàng rào mà vào, họ sẽ quy cho tội phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa. Từ những nhận định như trên, bà con đã triển khai ngay lập tức, không cho xe chở cát vào. Ông Trần Văn Thắng lại tiếp tục dùng loa ra rả vận động bà con tránh ra để đưa xe chở cát vào thi công nhưng bà con nhất định không ra (sự việc này không thấy họ đưa lên TV , họ sợ xấu hổ với nhân dân cả nước). Việc này họ đã bị thất bại.

Rạng sáng ngày 24/6/2013, lợi dụng đêm mưa to gió lớn, chính quyền đã huy động lực lượng chặt hết các cành cây dưới chân đê không cho bà con ngồi dưới bóng mát canh giữ đất. Họ để 5 chai axit cực mạnh để đe dọa khủng bố người dân.

Mấy ngày sau trên truyền hình cả nước, ông quỹ chủ tịch xã Từ Sơn phát biểu, trong đó có câu “Chúng tôi sẽ cương quyết xử lý khu đất Trịnh Nguyễn đến tận cùng, chúng tôi sẽ không dùng lực lượng công an, chỉ vận động tuyên truyền thuyết phục bà con” . Từ câu nói này của ông chủ tịch, bà con đã cảnh giác. Quả nhiên những ngày sau đó họ đã cho xã hội đen vào làng, dùng những tên chỉ điểm chỉ mặt những người nào chống đối. Đây là một hành động không có gì mới, bà con vẫn không sợ.

Ho tiếp tục đổi chiến thuật “CỞI NÚT DÂY “. Họ âm thầm đến từng nhà vận động ép bà con nhận tiền đền bù, bà con khóa cổng ngoài không cho họ vào, nếu họ vào đột xuất không kịp khóa cổng. nếu để cho họ cởi được 23 nút dây, coi như họ đã thành công, công việc canh giữ của bà con sẽ trở thành công cốc. Bà con báo những nhà hàng xóm xung quanh đến để phản đối cách làm mờ ám của họ.

Cho đến 9h sáng ngày 4/7/2013, họ đã dùng bọn xã hội đen dùng axit tạt vào bà Đỗ Thị Thiêm khi bà đến nhà mẹ đẻ ở 88 đường Yên Phụ Hà Nội (xin nói thêm bà Thiêm là người đứng đầu đơn , bà là người rất kiên cường và can đảm, có thể nói bà là thủ lĩnh tinh thần bà con nhân dân Trịnh Nguyễn nên bọn chúng nhắm vào bà với ý đồ đánh rắn dập đầu. Tại bệnh viện tôi có hỏi bà: “Sự việc này bà có nghi ai không?” Bà không đắn đo khẳng định “sự việc này có bàn tay của chính quyền chỉ đạo trả thù tôi vì trước hôm tôi gặp nạn họ gây sức ép với tôi, thuyết phục tôi rút đơn, đe dọa tôi hàng ngày, tôi đi đến đâu họ luôn luôn cử người theo dõi”. Từ những điều nêu trên cho thấy chính quyền đã không từ 1 thủ đoạn nào dùng mọi cách nhưng vẫn không khuất phục được bà con cuối cùng họ phải dùng một cách hèn hạ, bỉ ổi, độc ác, dã man nhât đối với bà Đỗ thị Thiêm.

Không biết sau này họ còn sử dụng những trò bẩn thỉu, dã man như thế nào nữa.



 


 

 

 

 

 

 

 


Bà Ngô Thị Đức với quyết định khai trừ ra khỏi đảng


Bà Cao Thị Lụa vợ liệt sĩ bị chảy máu đầy mặt, phải đưa đi bệnh viện cấp cứu


Chị Đỗ Thị Thiêm bị tạt a xít phải nhập viện

Cháu học sinh bị “giày công vụ giẫm vào


Vỏ chai vứt lại, sau khi sử dụng nó để chặt cây mà bà con không biết


.Ngày 8/7/2013
Bài và ảnh: Trương Văn Dũng
Nguồn: Blog Nguyễn Tường Thụy














-->đọc tiếp...

VỤ TRỊNH NGUYỄN: VÌ SAO BÀ ĐỖ THỊ THIÊM BỊ TẠT A-XÍT?

Vì sao bà Đỗ Thị Thiêm bị tạt a-xít? 
Thứ Ba, 09/07/2013-8:46 AM

9giờ 30 ngày 4/7/2013, khi đến nhà người thân tại 88 đường Yên Phụ, TP Hà Nội, bà Đỗ Thị Thiêm bị hai kẻ lạ mặt đón đường, tạt a-xít vào người. Bị bỏng rát, bà vừa kêu cứu, vừa xé áo chạy vội vào ngõ, nhảy vào bể nước của một gia đình để đỡ đau. Sau đó nhiều người đưa bà đi Bệnh viện Xanh Pôn cấp cứu. Bà bị bỏng nặng từ cằm trở xuống, đang điều trị.

Khi chúng tôi đến bệnh viện thăm, bà kể: Nhân dân khu phố Trịnh Nguyễn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh không đồng ý vị trí xây dựng Nhà máy xử lí nước thải gần khu dân cư, đã đề nghị chuyển vị trí xây dựng đến cuối cánh đồng Lỗ Vó. Chính quyền thị xã Từ Sơn và chủ đầu tư nhất quyết không di chuyển vị trí xây dựng, ép dân phải nhận tiền đền bù. Bà Thiêm cùng nhân dân đấu tranh, không nhận, hướng dẫn mọi người viết đơn gửi các cơ quan chức năng. Bà cho biết, có ngày 17 - 18 anh Công an thị xã đến nhà bà vận động. Anh công an Nguyễn Thanh Dung, con trai Bí thư Thị ủy Từ Sơn nói với bà: Cô nhận tiền đi, nếu cô không nhận thì rồi cô sẽ phải ân hận suốt đời đấy! Bà trả lời: Đây là việc của nhân dân khu phố Trịnh Nguyễn, không phải việc của cá nhân tôi. 


Vận động trực tiếp không được, Công an và chính quyền chuyển sang hướng khác. Bà có người con trai là Dương Xuân Lai, sinh năm 1984 bị tàn tật, Công an nhiều lần đến đề nghị bà đưa con đến Trung tâm Dạy nghề nhân đạo và tạo việc làm cho trẻ em khuyết tật thuộc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam để được giúp đỡ. Thoạt đầu bà không tin, nhưng Công an nói mãi, anh Lai gọi điện theo số Công an cung cấp để kiểm tra thì thấy Trung tâm này là có thật. Anh đồng ý để Công an đưa lên xe sang thăm Trung tâm, nhưng vì bà Thiêm không đi cùng nên sau đó Công an lại đưa anh Lai về nhà. Ngày 4/7/2013, bà Thiêm rời khỏi nhà với hi vọng con mình sẽ được giúp đỡ, kết quả lại là bà bị tạt a-xít vào người. Theo người dân chứng kiến sự việc, hai kẻ lạ đeo khẩu trang kín mặt, một tên to béo mặc áo đỏ, một tên thấp hơn đã tạt a-xít vào bà. Chúng tôi đến gốc cây, nơi bà Thiêm bị tạt a-xít còn thấy vệt a-xít trắng xóa. Ai gây ra tội ác ghê rợn này và với mục đích gì thì vẫn là câu hỏi treo trước công luận? Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Công an đã cử cán bộ, chiến sĩ đến tìm hiểu vụ việc. Báo Người cao tuổi để nghị Cơ quan CSĐT sớm khởi tố vụ án, điều tra làm sáng tỏ vụ việc, đưa kẻ phạm tội ra Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Ngọc Lan

Quý vị độc giả khắp nơi có thể chia sẻ, ủng hộ, giúp đỡ chị Đỗ Thị Thiêm 
đang điều trị tại khoa Bỏng bệnh viện Xanh Pôn- Hà Nội thông qua tài khoản dưới đây:

Tài khoản mang tên con gái chị Đỗ Thị Thiêm
Dương Thị Hoài Thu
Số TK: 10101000538184
Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Tiên Sơn - Bắc Ninh

Số điện thoại liên lạc:01665775621- hoặc số : 01295787360


-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Nhân dân Trịnh Nguyễn: THƯ NGỎ KÍNH GỬI CÁC VỊ NHÂN SĨ TRÍ THỨC

THƯ NGỎ
Kính gửi: Các vị Nhân sĩ Trí thức
Chúng tôi, nhân dân khu phố Trịnh Nguyễn, phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có đôi lời ngỏ với các vị, những nhà tri thức thuộc tầng lớp tinh hoa nhất của Việt Nam. Người dân chúng tôi đã từng tham gia hai cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho dân tộc. Đã có người hy sinh, có người đã mất mát một phần cơ thể. Chúng tôi đã hy sinh để cho người thân của chúng tôi có ruộng đất để cày cấy, có việc làm để nuôi sống gia đình. Thế nhưng, giờ đây chúng tôi sắp sửa mất đi ruộng vườn – nơi bao nhiêu năm chúng tôi đã đổ mồ hôi công sức. Cuộc sống của chúng tôi sẽ thế nào khi người nông dân chúng tôi không còn đất để sản xuất? chúng tôi biết làm gì đây để nuôi sống gia đình, cho con cháu chúng tôi ăn học. Chúng tôi biết rằng đồng ruộng giờ đây không thể giúp chúng tôi làm giàu nhưng nó giúp chúng tôi có việc làm, giúp chúng tôi không thể chết đói, chúng tôi không phải dùng thực phẩm độc hại của Trung Quốc. Người nông dân chúng tôi quanh năm quen với việc đồng áng, chúng tôi không có cơ hội để làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng kinh tế đang làm cho các doanh nghiệp phá sản, người thất nghiệp rất nhiều vậy làm sao chúng tôi có việc làm, có thu nhập. Chẳng lẽ chúng tôi sẽ phải đi ăn xin hay làm trộm cướp để có tiền sinh sống. Cha ông chúng ta đã nói “nhàn cư vi bất thiện”.
Qua các phương tiện truyền thông đại chúng, người dân chúng tôi được biết nhà nước Việt Nam đã và đang thu hồi rất nhiều đất nông nghiệp, kể cả những mảnh đất màu mỡ để làm các dự án bất động sản, khu công nghiệp và nhà máy. Người dân ở các nơi đó, sau khi nhận được một ít tiền đền bù đã tiêu hết tiền vào việc ăn uống hàng ngày, mua sắm thiết bị cho gia đình. Vì là số tiền ít ỏi, sau một thời gian ngắn người dân đã tiêu hết và trở thành người thất nghiệp, không có thu nhập để nuôi sống gia đình. Do đó, xã hội bây giờ có rất nhiều vụ trộm cắp, cướp của giết người xảy ra. Mặt khác, chúng tôi nhận thấy với việc thu hồi đất nông nghiệp tràn lan như hiện nay cùng với việc biến đổi khí hậu thì liệu Việt Nam có đảm bảo được an ninh  lương thực, liệu có phải lệ thuộc vào nước ngoài không? Và lệ thuộc như vậy thì nước ta liệu có độc lập và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ?
Mặc dù có suy nghĩ trên nhưng khi được biết chính quyền địa phương có chủ trương xây dựng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt cho thị xã Từ Sơn - Bắc Ninh đặt tại khu đồng Lỗ Vó và Dạ Cá là khu ruộng trước kia chi bộ và nhân dân đã ưu ái dành cho các gia đình chính sách. Do vậy, nhân dân chúng tôi đề nghị di chuyển ra xa vì những lí do sau:
Thứ nhất: Tại sao lại đặt vị trí nhà máy tại xứ đồng Lỗ vó và Dạ Cá? Đây là khu ruộng chính sách, khu ruộng mật đã được nhân dân và chi bộ trước đây ưu tiên cho các gia đình chính sách nhằm thể hiện sự quan tâm của đảngvà nhà nước và truyền thống nhân văn của dân tộc có từ hàng ngàn năm lịch sử, cũng là thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn đối với các gia đình chính sách.
Thứ hai: Vị trí xây dựng nhà máy xử lý nước thải. Diện tích đất dự kiến xây dựng nhà máy xử lý nước thải nằm trên hệ thống nước tưới tiêu cho đồng ruộng ở phía sau nhà máy. Như vậy khi nhà máy được xây dựng thì toàn bộ diện tích đất nông nghiệp ở phía trong của chúng tôi không có nước tưới. Do vậy toàn bộ diện tích đất nông nghiệp ở bên trong chúng tôi không thể canh tác được. Nhân dân chúng tôi đã yêu cầu, đề nghị chủ đầu tư dịch chuyển nhà máy vào phía trong nhưng không được chấp nhận. Chúng tôi mong các bậc trí thức, những người có trí tuệ chỉ rõ cho chúng tôi việc yêu cầu như vậy có đúng không?. Việc xây dựng nhà máy tại đây có hợp lý không? Đây đã là giải pháp tốt nhất cho việc xử lý ô nhiễm môi trường ở Từ Sơn?
Thứ ba: Giải thích rõ cho chúng tôi hiểu về việc xây dựng nhà máy.
Phối cảnh tổng thể Nhà máy xử lý nước thải Từ Sơn
Nhìn vào mô hình tổng thể của nhà máy nhân dân chúng tôi thấy nhà máy được xây dựng rất đẹp và khang trang nhưng vị trí có vẻ không giống với thực tế. Chúng tôi không hiểu nhà máy xử lý nước thải thì có cần phải có bể chứa nước thải chưa được xử lý hay không? Nếu có thì bể chứa đó được xây dựng ở đâu và xây dựng như thế nào? Còn không có bể chứa thì nước thải được dẫn trực tiếp vào nhà máy, được xử lý luôn và đổ nước ra ngoài (Công nghệ xử lý chắc rất hiện đại)? Việc dẫn nước thải của các làng nghề đến nhà máy được thực hiện như thế nào? Nước thải sinh hoạt của nhân dân chúng tôi (dân Trịnh Nguyễn) có được gom đưa vào nhà máy để xử lý và gom như thế nào? Sau khi nước thải đã được xử lý thì đổ ra bên ngoài như thế nào, có ảnh hưởng đến chất lượng nước dùng cho nông nghiệp và việc kiểm soát chất lượng nước như thế nào? Nhà máy được thi công trong thời gian bao nhiêu lâu, có thực hiện đúng với mục tiêu của dự án không? Dự án không đảm bảo với yêu cầu đề ra của dự án (không giải quyết được việc ô nhiễm môi trường của các làng nghề) thì lãnh đạo có chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm như thế nào? Khi đó ai, cán bộ nào sẽ là người phải chịu trách nhiệm trước đảng, nhà nước và nhân dân và hình thức xử lý như thế nào?
Chúng tôi phải đặt ra các câu hỏi trên vì người dân chúng tôi được biết nhiều dự án đầu tư của doanh nghiệp sau khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng xong thì để đấy không làm gì hoặc làm có hình thức trong khi đó người dân địa phương lại không có đất sản xuất. Chúng tôi mong các vị nhân sĩ trí thức, các nhà khoa học giúp đỡ người dân chúng tôi, cùng chúng tôi làm rõ các vấn đề trên.
Thứ tư: Mức đền bù đất là quá thấp. Người dân chúng tôi được đền bù khoảng gần 200 triệu đồng cho một sào đất (360 m2). Với mức đền bù này người dân chúng tôi không thể làm gì được. Sau một thời gian ngắn số tiền đó sẽ hết, người dân chúng tôi sẽ chết đói, con cháu chúng tôi không thể tới trường được. Chúng tôi sẽ là những người thất nghiệp, không việc làm và không có nguồn tiền để sinh sống. Nếu nhà nước lấy đất thì phải bảo đảm cho dân chúng tôi có việc làm, có thu nhập ổn định, đảm bảo đời sống cho chúng tôi. Thế hệ con cháu chúng tôi sống bằng gì khi mà ruộng là nguồn nuôi sống chúng tôi và con cháu chúng tôi mai sau?
Thứ năm: Đất nước ta ở vùng núi, vùng  hải đảo, vùng sâu, vùng xa còn nghèo. Các em nhỏ chưa có trường lớp, bệnh viện, đường xá đi lại không tiện lợi. Đời sống của bà con và nhân dân ở vùng đó còn gặp nhiều khó khăn. Số tiền của dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải khoảng 200 tỷ đồng này đề nghị chuyển lên các vùng khó khăn để xây trường, xây lớp, xây bệnh viện, làm đường cho các vùng miền núi, hải đảo và vùng xâu, vùng xa.
Trên đây là mấy điều người dân Trịnh Nguyễn ngỏ lời với các vị nhân sĩ trí thức. Mong các vị bằng khả năng, trình độ hiểu biết của mình hãy giúp người dân chúng tôi (những người ít hiểu biết) có được sự công bằng, đảm bảo được cuộc sống của mình. Chúng tôi không muốn chống lại chính quyền nhưng chúng tôi cũng không muốn mình sẽ bị chết đói, không đảm bảo cuộc sống của mình và con cháu sau này. Nếu những điều ở trên mà người dân chúng tôi chưa được sáng tỏ thì chúng tôi sẵn sàng chết để giữ lại mảnh ruộng của mình để con cháu chúng tôi được hưởng cuộc sống tốt hơn.
Kính mong các vị nhân sĩ trí thức lưu tâm đến người dân chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng đón tiếp các vị đến điều tra, nói chuyện phân tích cho chúng tôi hiểu rõ các vần đề liên quan.
Thay mặt hai giới các cụ và nhân dân Trịnh Nguyễn





-->đọc tiếp...