Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính phủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính phủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

THƯ GỬI ÔNG VŨ ĐỨC ĐAM TRƯỚC KHI ÔNG LÊN PHÓ THỦ TƯỚNG


Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2013
  
BÀI THỨ 4:   THƯ CỦA LUẬT SƯ TRẦN VŨ HẢI GỬI ÔNG VŨ ĐỨC ĐAM  
- BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
(Đề nghị Ông tham mưu cho Thủ tướng giải quyết khiếu nại, tố cáo của các hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên trước khi được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng)

Kính gửi:   Ông Vũ Đức Đam – Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

Tôi - luật sư Trần Vũ Hải, đang trợ giúp pháp lý cho những hộ dân tại Văn Giang – Hưng Yên do việc họ bị thu hồi đất, liên quan đến dự án Ecopark gửi tới Ông lời chào trân trọng. Tôi xin chúc mừng Ông đã trở thành ứng viên vị trí Phó Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm trong kỳ họp đang diễn ra và tin rằng Việt Nam sẽ có những nhà lãnh đạo Chính phủ trẻ tuổi, tri thức, tài ba và sẵn lòng quan tâm đến những người dân bất hạnh. Tôi cảm kích khi nhìn ảnh Ông đã không kìm được nước mắt khi được hỏi liên quan nạn nhân đã bị bác sỹ phẫu thuật thẩm mỹ trái phép gây chết và phi tang xác.

Vì vậy tôi hi vọng rằng, trước khi đảm nhiệm một công việc cao hơn, Ông sẽ quan tâm đến vụ việc Văn Giang mà chúng tôi đã gửi nhiều thư, kiến nghị đến Thủ tướng Chính phủ và Ông, nhưng đến nay chưa có phản hồi.

Vụ việc Ecopark - Văn Giang nếu không giải quyết dứt điểm, có tình có lý chắc chắn sẽ xảy ra những hậu quả nghiêm trọng, tất cả những người liên quan, có thẩm quyền sẽ phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Vụ việc này liên quan trực tiếp đến số phận của hàng nghìn người dân, cuộc sống của họ có trở lại bình thường hay không phụ thuộc vào thiện chí của nhiều người, trong đó có thiện chí giải quyết từ những thành viên cấp cao của Chính phủ.

Cá nhân tôi vẫn còn hi vọng vụ việc này sẽ được giải quyết ổn thỏa. Nhưng những người dân được tôi trợ giúp đã mất niềm tin vào các cấp chính quyền, tòa án từ địa phương đến trung ương. Họ đã gửi đủ các loại đơn khiếu nại, khởi kiện, tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, nhưng những cơ quan này đều phớt lờ, không giải quyết và cũng không phản hồi. Họ đang mất dần niềm tin vào chính chúng tôi, các luật sư trợ giúp pháp lý miễn phí cho họ. Chúng tôi đã kiên trì thuyết phục họ sử dụng các biện pháp đấu tranh pháp lý, ôn hòa.

Nhưng tình hình gần đây  ngày càng phức tạp, khi mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, xuất hiện xu hướng sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Chúng tôi đã nhận được Thông báo đề ngày 20/10/2013 của bà Vũ Thị Vụ, một trong những người kiên quyết đấu  tranh đòi quyền lợi cho gia đình mình và các hộ dân liên quan đến Dự án Ecopark (có bản photo kèm theo). Theo thông báo này, một số kẻ được Chủ Dự án Ecopark thuê đã có hai lần đe dọa đến tính mạng của bà Vụ trong tháng 9 và tháng 10 năm 2013. Trước đó, do liên quan đến đấu tranh với Dự án Ecopark, bà Vụ và nhiều người dân Văn Giang khác đã bị hành hung nhiều lần. Gần đây, để đấu tranh với nhóm xã hội đen mà theo những hộ dân Văn Giang được Chủ đầu tư thuê, những hộ dân này đã ra Tuyên bố ngày 7/10/2013 với nội dung như sau:
TUYÊN BỐ CỦA NHÂN DÂN BA XàPHỤNG CÔNG,
XUÂN QUAN, CỬU CAO HUYỆN VĂN GIANG

Chúng tôi những người nông dân bị cướp đất cho dự án đô thị Ecopark (khu đô thị thương mại du lịch Văn Giang).
Trong 9 năm vừa qua, chúng tôi đã gửi đơn khiếu nại tố cáo đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng đến nay các cơ quan pháp luật đó vẫn cố tình không giải quyết. Để mặc nhà đầu tư dùng xã hội đen đàn áp nhân dân để cướp đất. Chúng tôi, 1244 hộ dân có đất bị cướp không thể chịu đựng thêm được nữa. Xin tự nguyện đăng ký mỗi hộ dân ít nhất một người quyết CẢM TỬ với bọn cướp đất để bảo vệ đất đến cùng. 
Văn Giang, ngày 7 tháng 10 năm 2013.
Cá nhân tôi không đồng ý với Tuyên bố này của các hộ dân. Với trách nhiệm của một luật sư, tôi cố gắng tận dụng mọi cơ hội để vụ việc được giải quyết và không để xảy ra bạo lực dưới bất kỳ hình thức gì. Tôi hi vọng rằng, cá nhân Ông cũng đồng ý với tôi về phương thức giải quyết này, nhận trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ tháo gỡ  những ngòi nổ về đất đai tại Văn Giang, đảm bảo quyền lợi hài hòa giữa các hộ dân bị thu hồi đất, Chủ đầu tư và chính quyền địa phương trên cơ sở pháp luật và thiện chí của các bên liên quan.

Chúng tôi xin nhắc lại những thư, kiến nghị, tố cáo sau đã gửi đến Ông và Thủ tướng Chính phủ (có các bản photo kèm theo  Thư này)

1.   Thư đề nghị cung cấp thông tin đề ngày 08/05/2012 gửi đến Ông
2.  Kiến nghị số 01 đề ngày 22/05/2012 gửi Thủ tướng Chính phủ  đề nghị  Thủ tướng Chính phủ thành lập Ủy ban lâm thời theo Điều 20 khoản 4 Luật Tổ chức Chính phủ để xem xét những vấn đề liên quan đến dự án Khu đô thị thương mại, du lịch Văn Giang – dự án Ecopark.
3.  Kiến nghị số 03 đề ngày 24/7/2012 gửi đến Ông, đề nghị Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ giúp Thủ tướng và Chính phủ giải quyết những khiếu nại, tố cáo của các hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang
4.  Kiến nghị số 05 ngày 16/01/2013 gửi Thủ tướng Chính phủ (cùng tập tài liệu kèm theo, có đồng kính gửi đến Ông).
5.  Đơn tố cáo UBND tỉnh Hưng Yên ngày 28/5/2013 của những hộ dân Văn Giang gửi Thủ tướng Chính phủ.

Chúng tôi xin nhắc lại đề xuất của các hộ dân đang khiếu kiện, trong đó có những hộ dân có kinh nghiệm trồng cây cảnh (Văn Giang có một số làng chuyên cây cảnh có truyền thống và nổi tiếng ở miền Bắc), là giữ lại khoảng 130 ha đất để họ chuyên trồng cây cảnh trong (hoặc ngoài) Dự án đô thị sinh thái Ecopark. Đây là đề xuất hợp lý và thiện chí của các hộ dân, nếu chấp nhận sẽ giải quyết được toàn bộ những vấn đề của Dự án.

Mặc khác, trong tình hình khó khăn của thị trường bất động sản hiện nay, với khả năng tài chính yếu kém của Chủ đầu tư, rất khó thực hiện được Dự án theo như Chủ đầu tư cam kết,  việc điều chỉnh Dự án là tất yếu. Một giải pháp hài hòa sẽ là lối thoát duy nhất cho các bên, gồm cả cho các hộ dân đang khiếu kiện, Chủ đầu tư đang và chính quyền địa phương. Những người có kiến thức, kinh nghiệm và thiện ý, trong đó có Ông sẽ biết cách chỉ cho các bên lối thoát.

Lần cuối cùng, chúng tôi trân trọng đề nghị Ông quan tâm đến số phận của hàng nghìn người dân Văn Giang, tham mưu Chính phủ giải quyết vụ việc để giúp những người dân này an tâm sống, làm việc trên mảnh đất của mình, chấm dứt những ngày tháng mệt mỏi vì tranh chấp đất đai, phục hồi niềm tin vào pháp luật cho họ.

Kính đề nghị Ông sớm bố trí lịch làm việc với chúng tôi và đại diện các hộ dân để chúng tôi trình bày rõ hơn về nội dung sự việc và nguyện vọng của các hộ dân. 

Trân trọng.
Luật sư Trần Vũ Hải

Địa chỉ liên hệ: số 81 phố chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. 

Nơi gửi: 
-    Như trên 
-    Đại diện những hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên yêu cầu luật sư trợ giúp pháp lý.

Tài liệu kèm theo Thư này: ( các bản photo)
  1. Thư đề nghị cung cấp thông tin đề ngày 08/05/2012
  2. Kiến nghị số 01 đề ngày 22/05/2012
  3. Kiến nghị số 03 đề ngày 24/7/2012
  4. Kiến nghị số 05 ngày 16/01/2013
  5. Đơn tố cáo UBND tỉnh Hưng Yên ngày 28/5/2013
  6. Thông báo đề ngày 20/10/2013 của bà Vũ Thị Vụ
-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

CON ÔNG CHÁU CHA - GÁNH NẶNG CỦA NGÂN SÁCH QUỐC GIA?

Đợt thi tuyển công chức trực tuyến đầu tiên do Bộ Nội Vụ tổ chức hồi tháng 1 năm 2013.

Con ông cháu cha: Gánh nặng của ngân sách quốc gia?
Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2013-10-31 

Cùng với ngân sách Chính phủ gặp nhiều khó khăn, cân đối thu chi căng thẳng, dù kiến nghị giảm lương 100.000 đồng đối với mỗi cán bộ công chức đã bị Thủ tướng bác bỏ, song ít nhiều những động thái này cho thấy túi tiền quốc gia đang nhiều eo hẹp, trong đó, nhân tố gánh nặng công chức khiến nhiều người lo lắng. 

Dư 30% số công chức

Với nhận định của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cách đây không lâu: “có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp ô về không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”, đã ít nhiều cho thấy thực trạng cồng kềnh và trì trệ của giới công chức Việt Nam. Nếu đối chiếu con số này với một phân tích khác của nguyên Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam rằng: “cứ hình dung nếu ngân sách thu 100 đồng…có 65% chi cho thường xuyên, trong số này khoảng một nửa là chi lương cho công chức, viên chức”, thì mới thấy một lượng ngân sách nhà nước đã bị lãng phí ra sao.

Hãy khoan bàn tới các con số cụ thể của từng bộ ngành hay các cấp tỉnh thành, tính đến hết năm 2012, Việt Nam có trên 2,2 triệu công chức viên. Theo khái niệm của Luật cán bộ, họ là các đối tượng thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị hay xã hội làm việc trên khắp 63 tỉnh thành Việt Nam.
Bây giờ người ta nói nhiều đến chuyện tinh giản biên chế, nhưng sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc sửa luật, nghị định rồi thông tư, điều này rất là khó.
-TS Vũ Ngọc Xuân
Vẫn biết mọi so sánh là khập khiễng, nhưng thử làm một phép tính: Hoa Kỳ có trên 310 triệu dân, số công viên chức quản lý khoảng 2,2 triệu người, trong khi Việt Nam có dân số chưa bằng 1/3 nhưng số công viên chức cũng xấp xỉ, chưa kể xét về địa lý Việt Nam lại nhỏ chưa bằng 1/10 Hoa Kỳ… Những con số biết nói này cho thấy Việt Nam đang gặp một trở ngại lớn về hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức… phải chăng túi tiền quốc gia eo hẹp vì lượng công chức quá đông, quá nhiều? Câu hỏi này của dư luận hẳn không phải là không có cơ sở.
Giải thích về hiện tượng trên, T.S Vũ Ngọc Xuân, giảng viên chính khoa Kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho chúng tôi biết:

“Về mặt thể chế Việt Nam có mô hình giống với Trung Quốc, công chức viên chức mang tính chất là gắn bó suốt cuộc đời. Cho nên thu nhập của công chức ở Việt Nam thấp, một mặt là do cơ chế của Việt Nam là kinh tế thị trường nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa. Về yếu tố con người, để sa thải người lao động thì luật pháp không cho phép mặc dù có một số trường hợp nhưng rất khó để vận dụng. Vì thế, bây giờ người ta nói nhiều đến chuyện tinh giản biên chế, nhưng sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc sửa luật, nghị định rồi thông tư, điều này rất là khó.”  

Vấn đề mà T.S Vũ Ngọc Xuân phân tích chính do cơ chế và luật định của “định hướng xã hội chủ nghĩa” là những rào cản khiến việc sa thải công chức tại Việt Nam không dễ dàng… chưa kể những chuyện chưa nói ra ai cũng biết là một lượng lớn thành phần này lại nằm ở những vị trí được xem là “dễ chấm mút,” là con ông cháu cha hay có các mối quan hệ chằng chịt với giới lãnh đạo… vì thế không phải ngẫu nhiên mà bản thân Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng từng thừa nhận “chạy này, chạy kia… khâu nào cũng có.”

Để có góc nhìn của người trong cuộc, chúng tôi trao đổi với ông Trương Văn Quảng, một cán bộ phụ trách nhân sự ở một bộ tại Hà Nội, ông cho biết còn rất nhiều bất cập không chỉ ở khâu cuối sa thải, mà bắt nguồn ngay từ khâu đầu vào tuyển dụng công chức ở Việt Nam:

“Khi tuyển dụng những người mới vào làm thì năng lực còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm… nhưng do mối quan hệ cấp trên cấp dưới, do chạy chọt hay nể nang nhau nhưng cứ tuyển người vào làm, nên hiệu quả công việc trong quá trình triển khai thực tế gặp rất nhiều khó khăn, nên không đáp ứng được nhu cầu công việc. Có bức xúc trong vấn đề tuyển dụng cán bộ ngay từ khâu đầu vào.

Đáng lẽ giải quyết công việc nhanh gọn nhưng do cơ chế, chính sách văn bản chồng chéo, thủ tục hành chính cồng kềnh, số lượng người ngồi chơi xơi nước hơi bị nhiều, điều đó làm cản trở công việc.” 

Làm ít, thưởng nhiều

Không chỉ những đối tượng được cho là “ngồi chơi xơi nước hơi bị nhiều” mà điểm đáng chú ý là khi có chế độ khen thưởng, tăng lương hay nhận hưởng các quyền lợi thì thường những cán bộ công chức này lại đứng đầu danh sách xét duyệt, ông Quảng cho biết tiếp:
Vấn đề tăng lương hay sắp xếp tổ chức công việc gặp nhiều khó khăn bởi do những quan hệ cấp trên cấp dưới, nể nang đâm ra không đi thẳng vào năng lực cán bộ.
-Ô. Trương Văn Quảng
“Khi họ đã làm việc thì vấn đề tăng lương hay sắp xếp tổ chức công việc gặp nhiều khó khăn bởi do những quan hệ cấp trên cấp dưới, nể nang đâm ra không đi thẳng vào năng lực cán bộ, đây là thực trạng trong bộ máy hành chính sự nghiệp của các bộ ngành hay thành phố hay các cơ sở của các tỉnh.”

Ngoài ra, ông Quảng còn cho biết thêm rằng, bởi nhiều khi trình độ của người quản lý có hạn, họ cần nhận vào tổ chức mình những thành phần “tay chân” để coi như có những người hậu thuẫn anh em, luôn đứng ra ủng hộ mỗi khi bầu cử, bỏ phiếu… Nghiễm nhiên thành phần đó là những kẻ ngồi chơi xơi nước, đi muộn về sớm, ăn cắp giờ công, đến nơi làm việc chỉ để lên mạng mua sắm, facebook, hết giờ về đi nhậu… phải chăng vì thế Việt Nam nghèo nhưng tỉ lệ người dùng internet thuộc diện cao nhất trên thế giới? và Việt Nam cũng trở thành quốc gia tiêu thụ hàng đầu thế giới 2,6 tỉ lít bia mỗi năm?

Nếu nhìn vào gốc gác vấn đề, những đối tượng cán bộ công chức là những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách nhà nước là tiền thuế của dân. Quay lại chuyện 30% công chức “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” nghĩa rằng chúng ta đang có chừng hơn 700.000 cán bộ dôi dư, nhân với con số trung bình 2 triệu đồng/ tháng, nghĩa là, mỗi năm Việt Nam lãng phí khoảng 17.000 tỷ đồng để chi trả cho bộ máy công chức nhà nước.

Số tiền này được chắt chiu từ mồ hôi công sức của những người nông dân chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, của những người công nhân vất vả trong các xưởng may nóng nực…họ đóng thuế để cho những công chức ngồi hưởng thụ trong các phòng điều hòa mát lạnh. Phải chăng nỗi nhức nhối cho vấn đề bội chi ngân sách hay túi tiền quốc gia eo hẹp mà Quốc hội đang đau đầu đã có lời giải đáp?

Hẳn câu hỏi mà quý vị đang đặt ra là làm sao để loại bỏ những thành phần “ăn cơm chúa múa tối ngày”này! Chắc chắn không dễ dàng, bởi họ đã có một hệ thống dày đặc những văn bản pháp lý đứng ra bảo vệ, họ có một lớp quan hệ thần thế đứng ra bao bọc. Chỉ khi nào cái tâm của nhà quản lý, của các cấp lãnh đạo thực sự nghĩ đến lợi ích chung của toàn xã hội thì việc chọn lọc và loại bỏ những đối tượng trên mới có thể trở thành sự thật…

Nguồn: RFA

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

THỦ TIÊU ĐỂ PHI TANG?

Chính thức xóa mô hình Tập đoàn Vinashin
Quyết định mới công bố của Bộ Giao thông Vận tải cho ra đời tổng công ty mới, với cái tên khác biệt trong giao dịch quốc tế - SBIC và chính thức xóa mô hình tập đoàn ở doanh nghiệp nhiều tai tiếng một thời.  
Bộ Giao thông Vận tải hôm nay công bố Quyết định số 3287/QĐ-BGTVT về việc thành lập Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy trên cơ sở tổ chức lại công ty mẹ và một số đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin), đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp từng được xác định là chủ lực của nền kinh tế nhưng mắc nhiều sai lầm trong đầu tư, kinh doanh và quản trị.

Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy có tên giao dịch quốc tế là Shipbuilding Industry Corporation (SBIC) sẽ hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con. Công ty mẹ - Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy là công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. 

8 công ty con gồm: Công ty Đóng tàu Phà Rừng; Đóng tàu Bạch Đằng; Đóng tàu Hạ Long; Đóng tàu Thịnh Long; Đóng tàu Cam Ranh; Công ty Công nghiệp tàu thủy Sài Gòn; Công ty Đóng tàu và Công nghiệp hàng hải Sài Gòn và Công ty cổ phần Đóng tàu Sông Cấm.

SBIC tại thời điểm thành lập có vốn điều lệ là 9.520 tỷ đồng. Các ngành, nghề kinh doanh chính của tổng công ty là đóng mới, sửa chữa, hoán cải tàu thủy, thiết bị và phương tiện nổi;  tái chế, phá dỡ tàu cũ. Ngoài ra, tổng công ty còn có nhiệm vụ khai thác cảng biển, cảng thủy nội địa, bến tàu, cầu tàu; kinh doanh hoạt động lai dắt, tàu kéo, tàu đẩy, xà lan, phương tiện nổi. Đồng thời, SBIC hoạt động trong lĩnh vực xây dựng công trình thủy, nhà máy đóng tàu; sản xuất chế tạo kết cấu thép và các ngành, nghề sản xuất phụ trợ phục vụ trực tiếp cho ngành đóng mới và sửa chữa tàu thủy.

Vinashin chấm dứt hoạt động kể từ ngày SBIC được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sau khi được thành lập, SBIC có trách nhiệm kế thừa các quyền, nghĩa vụ pháp lý và lợi ích hợp pháp của Công ty mẹ - Vinashin.

Ngoài việc hoạt động đúng mô hình nhằm bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước tại công ty mẹ và các đơn vị thành viên, SBIC còn phải thực hiện sắp xếp lại 234 doanh nghiệp thuộc cơ cấu Vinashin trước đây theo hướng không duy trì trong cơ cấu tổng công ty. Trong đó, cổ phần hóa, bán chuyển nhượng vốn, chuyển giao, sáp nhập 69 doanh nghiệp và bán, giải thể, phá sản 165 doanh nghiệp.

Bộ Giao thông Vận tải cũng nhấn mạnh, bên cạnh những trách nhiệm trong việc chuyển đổi mô hình hoạt độn, Hội đồng thành viên SBIC phải tiếp tục tổ chức thực hiện đề án tái cơ cấu Vinashin đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) được thành lập năm 2006 trên cơ sở tổ chức và sắp xếp lại Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam. Vinashin được tổ chức theo mô hình cơ cấu công ty mẹ - con; công ty mẹ hoạt động theo dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do chính phủ làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ. Tuy nhiên, những sai lầm trong 7 năm hoạt động theo mô hình tập đoàn gây thất thoát hàng chục nghìn tỷ đồng buộc Vinashin phải tái cơ cấu suốt 3 năm qua. 

Gần đây, trao đổi với VnExpress.net, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải cho biết các khoản nợ của Vinashin đã cơ bản được tái cơ cấu. Bên cạnh đó, việc rút vốn, chuyển nhượng, sáp nhập... hàng chục doanh nghiệp cũng đã được tiến hành. 

Ngọc Tuyên
Nguồn: VNE

Sự kiện này gây bao xốn xang cho các nhà báo: 

Vinashin hoàn thành nhiệm vụ
Chín sáu nghìn tỉ đổ trôi sông
Thế là cách mạng thành công 
Cần chi cơ cấu tái ông nạm bà 

Hôm nay, bộ Giao thông vận tải chính thức đào mồ chôn cái thằng có tên là: Vinashin-cái tên này giờ chỉ còn là biểu tượng cho những doanh nghiệp nhà nước làm ăn nhố nhăng nhất.

Thực chất là một cái thây ma-đã chết từ lâu. Nhưng giờ người ta mới chôn !

Vài chục ngàn lao động của Vinashin ra đường. E rằng không ít trong số đó, thất nghiệp->túng quẫn->tội phạm.

Trc khi có quyết định này, thực chất là Vinashin đã phá sản nhưng cực kỳ ít báo chí gọi đúng tên là Vinashin phá sản. Người ta vẫn tưởng nó vẫn được bảo lãnh, bơm vốn để tồn tại.

Nhưng chẳng có quan chức nhà nước nào phải chết theo nó. Chỉ có một cơ số cán bộ lãnh đạo vào tù.

Một cái tên mới đã ra đời: SBIC-Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy, gánh các trách nhiệm pháp lý nợ, nần, các thứ của cái thây ma Vinashin.

Anh bạn Cường Pháp còn giải thích tại sao người ta đặt tên là SBIC: Sắm-bô-ị-cứt ! :)))

Các loại Vina thay nhau chết, thi nhau lỗ: Vinashin, Vinalines, Vinafood 1-2, Vinachem... 

Tiền của, những nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia ...cứ rót, rót mãi cho những "hố đen" này. Khá nhiều trong số đó chạy vào những buổi ăn chơi trác táng, thậm chí cả cho các bồ nhí...của lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty nhà nước mà ko đi đc vào sản xuất, kinh doanh thực, tạo ra của cải, việc làm... cho xã hội. 

Nhưng "kinh tế nhà nước (lập lờ thay cho DNNN) hiển nhiên vẫn phải giữ vai trò chủ đạo"-Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội khẳng định !

Trung Tran 
Tháng 11/2010, bác Nguyễn Sinh Hùng khi đó là Phó Thủ tướng nói trước QH: "Nếu quản trị và quản lý tốt thì đến năm 2012, Vinashin có thể sẽ đứng vững và giảm lỗ, từ năm 2013-2014 sẽ có lãi trở lại". Bộ trưởng GTVT khi đó là bác Hồ Nghĩa Dũng. (Nguồn ở đây: http://vneconomy.vn/20101123073956392P0C9920/pho-thu-tuong-vinashin-co-the-co-lai-tu-2013.htm).

Tháng 10/2013, bác Nguyễn Sinh Hùng đang chức Chủ tịch QH, Bộ trưởng GTVT là bác Đinh La Thăng xóa sổ mô hình tập đoàn Vinashin và thay thế bởi 1 Tổng công ty mới.(Nguồn ở đây: http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/chinh-thuc-xoa-mo-hinh-tap-doan-vinashin-2903653.html). 

Nhớ lại hồi tháng 10/2011, Bộ trưởng Đinh La Thăng từng "trảm tướng" ngay tại công trường sân bay Đà Nẵng và bây giờ, không phải đùa, ông đã "trảm" cả một tập đoàn được xem là "quả đấm thép" của ngành đóng tàu Việt Nam.  

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

TOÀN VĂN TUYÊN BỐ PHẢN ĐỐI NGHỊ ĐỊNH 72 CỦA CHÍNH PHỦ

TUYÊN BỐ 

NGHỊ ĐỊNH SỐ 72/2013/NĐ-CP VI PHẠM HIẾN PHÁP, PHÁP LUẬT 

VIỆT NAM VÀ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM THAM GIA


Chúng tôi:

-   Những công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là những người sử dụng Internet như một phương tiện trau dồi tri thức, cập nhật thông tin trong nước và quốc tế để có điều kiện sống, học tập và làm việc xứng đáng với tư cách con người văn minh của xã hội hiện đại;

-   Những người Việt định cư ở nước ngoài tha thiết với vận mệnh đất nước Việt Nam, với quyền tự do dân chủ của đồng bào trong nước;

Nhận thấy Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng” có hiệu lực ngày 01/09/2013 (gọi tắt là Nghị định 72) có những nội dung trái hoặc tiềm ẩn việc thi hành tùy tiện trái với Hiến pháp, Pháp luật Việt Nam, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị và Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: 

Một số nội dung sai trái của Nghị định 72:

I. Tại các Khoản 3, 4, 5 điều 20 “Phân loại trang thông tin điện tử”, quy định: 

3. Trang thông tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, dịch vụ, sản phẩm, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hợp.

4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.

5. Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp”. 

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

“19. Thông tin tổng hợp là thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin, nhiều loại hình thông tin về một hoặc nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”.

“II. Điều 22. Cung cấp thông tin công cộng qua biên giới. 1. Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài khi cung cấp thông tin công cộng qua biên giới có người sử dụng tại Việt Nam hoặc có truy cập tại Việt Nam cần tuân thủ các quy định của pháp luật của Việt Nam. 2. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể về cung cấp thông tin công cộng qua biên giới”.

Những nội dung trên trái ngay với Luật Công nghệ Thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Việt Nam, trong đó:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

17. Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin.”

Điều 2 qui định Đối tượng áp dụng chỉ là “tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam


Điều 3. Áp dụng Luật công nghệ thông tin: “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”.

Nghị định 72 còn là bước thụt lùi so với Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet như ở những qui định: 

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam.

2. Trong trường hợp các Điều ước quốc tế liên quan đến Internet mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế”.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

12. Trang thông tin điện tử trên Internet là trang thông tin hoặc tập hợp trang thông tin phục vụ cho việc cung cấp và trao đổi thông tin trên môi trường Internet, bao gồm trang thông tin điện tử (website), trang thông tin điện tử cá nhân (blog), cổng thông tin điện tử (portal) và các hình thức tương tự khác”.

Như vậy, các Khoản 3, 4, 5 Điều 20 “Phân loại trang thông tin điện tử”, Điều 22 “Cung cấp thông tin công cộng qua biên giới” tiềm ẩn nguy cơ bị vận dụng tùy tiện để ngăn cấm công dân Việt Nam thực thi các quyền tự do ngôn luận, tự do tìm kiếm, thu nhận và chia sẻ thông tin đã được bảo đảm bởi Hiến pháp Việt Nam và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

1- Điều 69 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung 2001:

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

2- Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị 1966 mà Việt Nam tham gia 1982:

Điều 19:

(2) Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.

(3) Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu:

a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.

b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”.

3- Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc 1948:

Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia”.

Nghị định 72 chứa đựng những quy định đi ngược lại các tuyên bố cải thiện về dân chủ, nhân quyền của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong thời gian gần đây, nhất là trong các thảo luận về sửa đổi Hiến pháp 1992, đi ngược lại lợi ích của nhân dân và đất nước, chỉ có tác dụng phá hoại lòng tin của người dân đối với sự trung thực và sáng suốt của chính quyền.

Việc ban hành Nghị định 72 với những quy định vi phạm hoặc tiềm ẩn nguy cơ bị thực hiện tùy tiện vi phạm các quyền tự do ngôn luận của công dân, trong hoàn cảnh Việt Nam vừa tuyên bố là đối tác toàn diện với Hoa Kỳ trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, khi vụ xét xử phúc thẩm hai sinh viên Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên được ghi nhận là một tiến bộ về tự do ngôn luận, trong lúc Việt Nam đang mong muốn ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, là việc làm đi ngược xu thế hội nhập của Việt Nam với thế giới, chỉ có tác dụng phá hoại uy tín của Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế, hết sức bất lợi cho việc tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trước bè lũ bành trướng Bắc Kinh.

Vì thế, chúng tôi tuyên bố:

1/ Phản đối Nghị định 72;

2/ Yêu cầu Chính phủ hoãn thi hành Nghị định này để chỉnh sửa những nội dung vi phạm hoặc tiềm ẩn nguy cơ vi phạm Hiến pháp, Pháp luật Việt Nam và các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết như nêu trên;

3/ Yêu cầu Quốc hội khẩn cấp thẩm tra các nội dung vi phạm Hiến pháp Việt Nam và các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết trong Nghị định 72 để can thiệp với Chính phủ trong quyền hạn của mình.

Khoản 9 Điều 84 của Hiến pháp 1992:

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội”;

Quyền tự do ngôn luận, tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền dân chủ cho đất nước, cũng là điều kiện tối cần thiết để đất nước mở mang giao lưu và phát triển. Cấm cản nó, tất cả mọi phương diện của đời sống đất nước sẽ rơi vào vòng ngưng trệ, bước tiến vốn còn rất chầy chật của một nước Việt Nam mong sớm đứng vào vào hàng ngũ các nước phát triển chắc chắn sẽ bị đẩy lùi. Chúng tôi yêu cầu mọi chủ trương chính sách của Nhà nước Việt Nam trong tương lai phải tuyệt đối tôn trọng những quyền thiêng liêng, cơ bản trên đây.

Danh sách ký tên:
  1. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội 
  2. Vũ Thị Phương Anh, TS, nghiên cứu giáo dục, giảng viên, TP HCM
  3. Vũ Hồng Ánh, nghệ sĩ đàn Violoncelle, TP HCM
  4. Bùi Xuân Bách, giáo viên về hưu, Hoa Kỳ
  5. Hà Dương Dực, chuyên viên kế toán tài chính, Hoa Kỳ
  6. Vũ Trọng Khải, PGS TS, TP HCM
  7. Lê Xuân Khoa, nguyên giáo sư Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ
  8. Hoàng Quân, sinh viên, Hoa Kỳ
  9. Đào Quốc Việt, Hà Nội
  10. Nguyễn Hữu Vinh, cử nhân Luật, Hà Nội
  11. Augustine Hà Tôn Vinh, giáo sư Đại học San Francisco, Hoa Kỳ
  12. Dương Văn Vinh, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM
  13. Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Thiếu tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội
  14. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
  15. Hoàng Minh Xuân, nhà báo, TP HCM
  16. Phạm Xuân Yêm, GS TS, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Vật lý, CNRS và Đại học Paris VI, Pháp
  17. Nguyễn Đông Yên, GS TSKH, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội
  18. Lê Viết Yên, giáo viên, TP HCM 
  19. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM
  20. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà văn, Hoa Kỳ
  21. Hoàng Ngọc Biên, nhà văn, Hoa Kỳ
  22. Võ Văn Cần, hưu trí, Canada
  23. Xà Quế Châu, đầu bếp, TP HCM
  24. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM
  25. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
  26. Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  27. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao Động, TP HCM
  28. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM
  29. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
  30. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ, TP HCM
  31. Nguyễn Xuân Diện, TS Ngữ văn, Hà Nội
  32. Phạm Chí Dũng, nhà báo tự do, TP HCM
  33. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
  34. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM
  35. Khương Quang Đính, chuyên gia Công nghệ Thông tin, Pháp 
  36. Lê Hiền Đức, 82 tuổi, công dân chống tham nhũng ở Việt Nam, Hà Nội
  37. Huy Đức, nhà báo tự do, TP HCM
  38. Lê Mạnh Đức, kỹ sư, hưu trí, TP HCM
  39. Nguyễn Ngọc Giao, chủ biên tạp chí Diễn Đàn, nguyên Tổng Biên tập các báo Liên HiệpĐoàn Kết, Pháp
  40. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM
  41. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên Cứu CNRS, Đại học Paris-Sud, Pháp
  42. Phan Tấn Hải, nhà văn, Hoa Kỳ
  43. Nguyễn Gia Hảo, nguyên Thành viên Tổ tư vấn Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội
  44. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
  45. Lê Minh Hằng, TS, Hà Nội
  46. Phạm Duy Hiển (bút danh Phạm Nguyên Trường), hưu trí, Vũng Tàu
  47. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ y khoa, Pháp
  48. Lê Anh Hùng, blogger, Hà Nội
  49. Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao), TS Kinh tế, nguyên GS Đại học Laval, Canada
  50. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng
  51. Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng viên Đại học, TP HCM
  52. Nguyễn Thị Từ Huy, TS, TP HCM
  53. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, Giáo sư Danh dự Thực thụ Đại học Liège, Bỉ
  54. Hoàng Hưng, nhà thơ, nguyên Trưởng ban Văn hoá Văn nghệ báo Lao Động thời Đổi mới, TP HCM
  55. Phạm Khiêm Ích, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội
  56. Lê Phú Khải, nguyên phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, TP HCM
  57. Phan Trọng Khang, thương binh 2/4, Hà Nội
  58. Nguyễn Văn Khoa, Pháp
  59. Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Berlin, CHLB Đức
  60. Quản Mỹ Lan, Pháp
  61. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM
  62. Phuong Thao Le, hưu trí, Hoa Kỳ
  63. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, Đà Lạt
  64. Trịnh Lữ, dịch giả, Hà Nội
  65. Trần Lương, nghệ sĩ Thị giác, Hà Nội
  66. André Menras – Hồ Cương Quyết, nhà giáo, cựu tù chính trị trước 1975, Pháp
  67. Trần Tố Nga, giáo viên, hưu trí, TP HCM
  68. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  69. Phùng Hoài Ngọc, thạc sĩ, An Giang
  70. Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Giám đốc chánh trị chủ bút nhật báo Tin Sáng, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM
  71. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, giảng viên đại học, TP HCM
  72. Nguyễn Mai Oanh, chuyên gia nông nghiệp – phát triển nông thôn, TP HCM
  73. Tô Oanh, giáo viên THPT, Bắc Giang
  74. Hà Sĩ Phu, TS, Đà Lạt
  75. Lữ Phương, viết văn, TP HCM
  76. Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội
  77. Bùi Minh Quốc, nhà báo, nguyên Tổng biên tập tạp chí Lang Biang, Lâm Đồng
  78. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
  79. Vũ Vân Sơn, CHLB Đức
  80. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội
  81. Trần Công Thạch, cán bộ hưu trí, TP HCM
  82. Nguyễn Chí Thanh, thạc sĩ, TP HCM
  83. Cao Ngọc Thanh, Thuỵ Sĩ
  84. Antôn Lê Ngọc Thanh, linh mục, Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  85. Nguyễn Văn Thạnh, Đà Nẵng
  86. Giuse Maria Lê Quốc Thăng, linh mục, Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  87. Nguyễn Lân Thắng, Hà Nội
  88. Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt, TP HCM
  89. Đào Tiến Thi, nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  90. Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Trưởng ban Việt ngữ đài RFI, Pháp.
  91. Nguyễn Trung Thuần, nhà nghiên cứu, dịch giả, Hà Nội
  92. Trần Quốc Thuận, luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, TP HCM
  93. Tưởng Năng Tiến, Hoa Kỳ
  94. Vũ Ngọc Tiến, nhà văn, Hà Nội
  95. Bùi Tín, nhà báo tự do, Pháp
  96. Phạm Toàn, nhà nghiên cứu giáo dục, Hà Nội
  97. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hóa, TP HCM
  98. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
  99. Nguyễn Quang Trọng, Pháp
  100. Hà Vũ Trọng, dịch giả, TP HCM
  101. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia Công nghệ Thông tin, Pháp
  102. Hoàng Ngọc Tuấn, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Văn học Nghệ thuật, Úc
  103. Hoàng Tuỵ, GS, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội
  104. Phan Thị Trọng Tuyến, Pháp
  105. Dương Tường, nhà thơ, Hà Nội
  106. Hà Dương Tường, nguyên Giáo sư Đại học Compiègne, Pháp
  107. Nguyễn Đức Tường, tiến sĩ Vật lý, Canada
  108. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội

Để ký tên vào Tuyên bố này, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ phandoinghidinh72@gmail.com, ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có), địa chỉ và số điện thoại (máy bàn, di động).
Nếu cần, chúng tôi sẽ công khai tất cả thông tin về người đã ký vào Tuyên bố (địa chỉ cụ thể, cơ quan làm việc, số điện thoại) trừ những bạn nào có yêu cầu không công bố.
Việc ký tên vào Tuyên bố này sẽ kết thúc vào lúc 19g ngày 28/8/2013 và toàn bộ danh sách sẽ được đăng trên trang mạng Bauxite Việt Nam vào sáng 29/8/2013.
Bauxite Việt Nam
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

KHÔNG ĐỀ 72 - Thơ Nguyễn Trọng Tạo

 


KHÔNG ĐỀ 72
Nguyễn Trọng Tạo

Tôi cần mua nghị định 72 
Để bán không cho những nhà hiền triết  
Đọc bể cái đầu không bao giờ hiểu hết

Tôi cần mua một góc nhà tù  
Để giam giữ những website, blogs  
Suốt ngày tự do trong da đầu trọc lóc

Tôi cần mua hận thù trói buộc  
Để tẩm xăng châm lửa đốt thành tro  
Rắc dọc những dòng sông ấm no

Tôi cần mua những chiếc còng số 8    
Để phát cho thành thị làng quê
Phát không cho nhân dân oan nghiệt vụng về

Tôi cần mua cả bầu trời tham nhũng  
Để mưa tuôn nước sạch rửa nhân gian  
Đi ngược về xuôi không bất an

Tôi cần mua một bông hoa nhân tạo  
Để đem tặng cho những người soạn thảo  
Nước mắt mồ hôi mặt nạ giấy bồi… (*)
_________
(*) Ý thơ Văn Cao




-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

THẾ NÀY LÀ SẮP ĐI ĂN MÀY CẢ NÚT RỒI !

Nợ công đã lên tới 95% GDP?

(Dân trí) - Tổng nợ công năm 2012 ước tính khoảng 55,4% GDP. Tuy nhiên, nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của DNNN và khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác thì nợ công Việt Nam lên tới 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn 60% GDP.

 >> Nợ công Việt Nam bao nhiêu là “ngưỡng an toàn”?
 >> Nợ công của Việt Nam gần 1,4 triệu tỷ đồng
 >> Mỗi người dân Việt Nam gánh gần 800 USD nợ công

Đồng hồ nợ công của Việt Nam trên Economist: Mỗi người dân cõng trên lưng 817,74 USD nợ công.
Đồng hồ nợ công của Việt Nam trên Economist: 
Mỗi người dân "cõng trên lưng" 817,74 USD nợ công.

Tại báo cáo nghiên cứu "Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam", Uỷ ban Kinh tế cho biết, tính đến hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam vào khoảng 54,9% GDP, trong đó nợ công nước ngoài và nợ công trong nước lần lượt là 30,9% và 24,0% GDP. Các con số tương ứng ước tính cho năm 2012 là 55,4% GDP; 29,6% GDP và 25,8% GDP. 
Tuy nhiên, theo nhận xét của Uỷ ban, rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách. Vấn đề nằm ở những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) - mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả - mới là mầm mống đe doạ tính bền vững của nợ công Việt Nam. Cụ thể, khoản nợ nước ngoài của khu vực tư, mà chủ yếu là DNNN, không được Chính phủ bảo lãnh chiếm 10,6% GDP.

Ngoài ra, nợ trong hệ thống ngân hàng của khu vực DNNN theo ghi nhận tại đề án Tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính (2012) cũng chiếm xấp xỉ khoảng 16,5% GDP. Nếu tính đến các con số này và cộng với các khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác của DNNN, Uỷ ban Kinh tế cho biết, nợ công Việt Nam sẽ lên tới xấp xỉ 95% GDP!

Tỷ lệ này rõ ràng đã vượt xa so với ngưỡng an toàn (60% GDP) được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Đồng thời, cao hơn nhiều so với tỷ lệ được công bố trên Đồng hồ nợ công thế giới của Economist.

Cấu trúc nợ công của Việt Nam.
Cấu trúc nợ công của Việt Nam.

Hiện nay, theo định nghĩa, tổng nợ công là nợ trong nước và nợ nước ngoài của khu vực công, bao gồm nợ của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương nhưng không bao gồm nợ của DNNN, kể cả những doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn. Chỉ có nợ của các DNNN được Chính phủ bảo lãnh mới được tính vào tổng nợ công.

Nợ nước ngoài tính bằng nội tệ tăng với tốc độ chóng mặt

Uỷ ban cũng lưu ý rằng, mặc dù nợ nước ngoài có thể được hưởng lãi suất thấp song lại tiềm ẩn đầy rủi ro về tỉ giá. Sự mất giá của đồng nội tệ sẽ khiến cho gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ tăng lên.

Các chủ nợ lớn của Chính phủ Việt Nam bao gồm Nhật (chiếm 34,3% tổng nợ) và các tổ chức quốc tế như IDA (24,9%) và ADB (15,0%). Mỹ và khối EU chỉ chiếm lần lượt 0,3% và gần 6,9% tổng nợ của Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên nợ theo đồng tiền của các nước/khu vực này lại chiếm tỉ trọng lớn.

Theo nhận xét của Uỷ ban, các chủ nợ thường có xu hướng sử dụng những đồng tiền mạnh, và việc vay nợ theo các đồng tiền mạnh này khiến nợ nước ngoài chịu rủi ro cao khi chúng có xu hướng lên giá theo thời gian.

Cụ thể, chỉ tính kể từ đầu năm 2010 đến cuối tháng 6/2011, ba đồng tiền chủ chốt gồm EUR, USD và JPY trong giỏ nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên giá lần lượt khoảng 12%, 13% và 26% so với VND. Điều này cũng đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ đang tăng với tốc độ chóng mặt và gây sức ép đối với thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ.

Uỷ ban Kinh tế đánh giá, việc tiếp cận các nguồn thông tin chính thống và cập nhật về nợ công, nợ nước ngoài và nợ của DNNN ở Việt Nam là hết sức khó khăn. Nguồn thông tin chính thống về nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay được cung cấp duy nhất qua Bản tin Nợ nước ngoài phát hành định kỳ 6 tháng/lần của Bộ Tài chính. Dù vậy, bản tin mới nhất cũng chỉ phản ánh sơ sài về thống kê nợ nước ngoài cho tới hết năm 2010.

Các thống kê khác về nợ công trong nước và đặc biệt là nợ của khối DNNN đều không được công bố chi tiết và chính thống. Các số liệu của DNNN được nhóm nghiên cứu của Uỷ ban Kinh tế thu thập và tính toán đề dựa trên báo cáo của Bộ Tài chính tại các kỳ họp Quốc hội và thống kê dư nợ tín dụng trong hệ thống ngân hàng của NHNN.

Do vậy, Uỷ ban Kinh tế cho rằng, thách thức đầu tiên trong việc quản lý nợ công Việt Nam đó là việc xây dựng một hệ thống cung cấp và quản trị thông tin nợ công/nợ nước ngoài một cách minh bạch và nhanh chóng. Điều này cần có sự nhìn nhận đúng đắn của các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Việt Nam về vấn đề quản lý rủi ro nợ công hiện nay.
Bích Diệp
Nguồn: DÂN TRÍ


-->đọc tiếp...