Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dự án Ecopark. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dự án Ecopark. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

TUYÊN BỐ VỀ VIỆC CƯỠNG CHẾ GIẢI TỎA ĐẤT ĐAI VĂN GIANG BẰNG VŨ LỰC


TUYÊN BỐ VỀ VIỆC CƯỠNG CHẾ GIẢI TỎA

ĐẤT ĐAI VĂN GIANG BẰNG VŨ LỰC

Lưu ý: Bản Tuyên bố này vẫn đang được cập nhật, hiện đã có gần 3 ngàn người ký tên. Kính mời bà con tham gia ký tên tại Email: BauxiteVN_Petition@yahoo.com 

Vụ cưỡng chế giải tỏa đất đai bằng vũ lực diễn ra sáng 24/4/2012 ở địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên đang gây xúc động mạnh mẽ tất cả những người Việt Nam có lương tri, dấy lên nỗi lo lắng chưa từng có trong mọi người dân Việt biết suy tư về vận mệnh đất nước.

Cho đến hôm nay, đã có thể nhận rõ những sự thật đau lòng về bản thân vụ Văn Giang cũng như những sự thật nguy hiểm đối với đất nước đã được phơi bày từ vụ này.

Để chứng tỏ quyền lực của chính quyền trong việc “hỗ trợ” một dự án kinh doanh được Nhà nước bảo trợ thông qua những điều luật và điều khoản dưới luật đã và đang ngày càng bị công luận đồng thanh phản bác vì bản chất vi hiến, đi ngược lại quyền lợi của đại đa số nông dân, thành phần chủ yếu của nhân dân Việt Nam, thành phần từng là chủ lực quân của cuộc cách mạng và chiến tranh do Đảng Lao Động, Đảng Cộng Sản Việt Nam phát động và lãnh đạo trong nửa thế kỷ qua, chính quyền đã huy động hàng ngàn công an, cảnh sát vũ trang hùng hậu đàn áp cuộc chống đối giải tỏa của hàng trăm nông dân quyết bảo vệ mảnh đất thấm mồ hôi, nước mắt và máu, còn lưu giữ xương cốt của cha ông từ nhiều đời.

Những hình ảnh lan truyền khắp thế giới đã khiến tất cả những ai có Lương Tri Con Người phải phẫn nộ. Những kẻ vũ trang tận răng xông vào đe dọa bằng tiếng nổ và đánh đập vài người nông dân yếu ớt. Những tiếng khóc la của đàn bà, con trẻ làm đau nhói tim người. Những mảnh xương cốt cha ông bị máy ủi xới bật lên trên cánh đồng xanh tốt phút chốc tan hoang để lại một ấn tượng chua xót và tủi nhục. Đó là những tội ác Trời không dung, Đất không tha.

Những hình ảnh phơi bày trước con mắt nhân dân trong nước và thế giới sự đối đầu không khoan nhượng giữa bộ máy đàn áp của chính quyền với một bộ phận nông dân, sự bạo hành chỉ có thể áp dụng đối với kẻ thù của nhân dân. Nguy hiểm hơn nữa cho đất nước, qua vụ Văn Giang có thể thấy một đội ngũ mang danh công bộc của dân nhưng lại chống đối nhân dân với tâm lý không biết sợ, không biết thẹn, không biết đau biết nhục.

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, khẩn thiết yêu cầu:

1/ Các cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hãy chính thức bày tỏ quan điểm trước toàn dân về những vấn đề sau đây:

- Việc sử dụng bạo lực để giải tỏa đất ở Văn Giang ngày 24/4/2012 có vi phạm những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam trong việc triệt để tôn trọng quyền mưu cầu hạnh phúc của cả một dân tộc được tự do sinh sống trên mảnh đất độc lập do xương máu của chính mình giành được?

- Việc giải tỏa gây chấn động tâm can hàng chục triệu người dân, trước hết là hàng chục triệu nông dân, chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng khó lường về an ninh chính trị của đất nước, để bảo vệ lợi lộc của một nhóm cá nhân chủ đầu tư, có phải việc nên làm của một nhà nước của dân, do dân, vì dân?

- Việc giải tỏa (nếu có) dựa vào những quy định luật pháp hiện hành đang là đối tượng phải sửa đổi của Luật Đất đai sắp tới có phải việc nên làm của một nhà nước thực sự có thiện chí hướng đến một Nhà Nước Pháp Quyền?

- Việc công khai đối đầu giữa lực lượng vũ trang mệnh danh “Công an nhân dân” với một cộng đồng nhân dân không chống đối chính quyền, chỉ tranh chấp quyền lợi với một nhóm lợi ích, có phá hoại nghiêm trọng khối đoàn kết dân tộc đang là vốn quý nhất của một nước nhỏ yếu trong cuộc chiến đấu lâu dài đòi lại và bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trước một kẻ thù to lớn và đầy tham vọng?

2/ Các cơ quan quyền lực cao nhất hãy công bố rõ những người, những bộ phận chính quyền địa phương và trung ương chịu trách nhiệm về chủ trương và việc thực hiện vụ cưỡng chế giải tỏa trên.

3/ Xem xét lại toàn bộ dự án Ecopark để điều chỉnh những bất hợp lý, bất hợp tình trong dự án theo hướng ưu tiên lợi ích thực sự của Nhà nước và người nông dân có đất bị thu hồi.

4/ Yêu cầu các cấp chính quyền và doanh nghiệp Ecopark khẩn trương khắc phục những hậu quả của vụ cưỡng chế:

- Công khai xin lỗi, bồi thường cho những người dân bị đánh đập, ngược đãi trong vụ cưỡng chế.

- Làm lễ tạ tội những hương hồn đã bị đào mồ, phơi xương trắng; xin tạ lỗi với những hậu duệ của người chết, xin khôi phục mồ mả của cha ông họ.

- Đền bù thiệt hại của những hộ nông dân bị giải tỏa đất trong vụ cưỡng chế bằng các hình thức được họ chấp nhận.

Nếu Ecopark không thực hiện nghiêm chỉnh những điều nói trên đây, xin khẩn thiết đề nghị hết thảy những ai có tiền và đang muốn mua đất thuộc Dự án khu du lịch sinh thái của Doanh nghiệp Ecopark tại Văn Giang hãy nhất tề tẩy chay Dự án này nhằm biểu lộ tình thương yêu ruột thịt với đồng bào mình là những người nông dân đang lâm vào tình thế không còn đường sống, không còn đến nấm mộ của tổ tiên để được thờ phụng đúng với đạo lý, tín ngưỡng truyền thống hàng ngàn năm nay của người Việt Nam.

5/ Không được sử dụng lực lượng trị an của Nhà nước để cưỡng chế đất đai “hỗ trợ” những dự án không phục vụ lợi ích thật sự của quốc gia, an ninh, quốc phòng.

6/ Nhanh chóng sửa đổi Luật Đất đai và những luật lệ liên quan đến việc giải phóng mặt bằng theo hướng đặt quyền lợi của người dân có đất và quyền lợi thực sự của quốc gia lên cao nhất, tuyệt đối không để các nhóm đặc quyền lợi dụng luật để cướp đất của dân với giá rẻ mạt.

Với tâm huyết bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc, trước hết là lợi ích của người dân lao động, với thiện chí xây dựng một nhà nước thực sự pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, chúng tôi kêu gọi những người có trách nhiệm cao nhất của Nhà nước Việt Nam nghiêm túc đáp ứng những yêu cầu trên. Với thiện chí xây dựng một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, lành mạnh và nhân bản cho nước Việt Nam phát triển bền vững, chúng tôi yêu cầu các nhà đầu tư trong nước và quốc tế tôn trọng lợi ích chính đáng của người dân, không cấu kết với bọn tham nhũng trong chính quyền để mưu lợi lộc bất chính, bất nhân, bất nghĩa, điều sẽ xâm hại chính lợi ích lâu dài của các vị. Với thiện chí xây dựng hình ảnh người “Công an nhân dân” đúng nghĩa, chúng tôi kêu gọi các sĩ quan, chiến sĩ công an, cảnh sát bị điều động tham gia cưỡng chế đất đai của dân phải hết sức tôn trọng người dân trong mọi hành động, cử chỉ, lời nói, không mù quáng tuân theo những mệnh lệnh phi pháp, phi nhân của bọn tham nhũng nhân danh chính quyền, không để mình trở thành kẻ thù của dân, không gây nên nỗi căm hờn của dân vì đó sẽ là mối nguy khôn lường cho an ninh quốc gia.

Hà Nội, ngày Lao động quốc tế 1/5/2012
Bauxite Việt Nam

_________________________________

Nếu đồng ý với Tuyên bố này, xin gửi e-mail về địa chỉ:
BauxiteVN_Petition@yahoo.com

Trong thư, xin cho biết họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp. Khi công bố, Bauxite Việt Nam chỉ ghi tỉnh (đối với người trong nước) hay nước (đối với người ở hải ngoại).
Bauxite Việt Nam


-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

PHÁT HIỆN MỚI NHẤT VỀ DỰ ÁN ECOPARK: NHIỀU DIỆN TÍCH ĐẤT CÓ HAI SỔ ĐỎ

ECOPARK – NHIỀU DIỆN TÍCH ĐẤT CÓ HAI SỔ ĐỎ
Luật sư Nguyễn Anh Vân
Mặc dù việc khiếu kiện của những hộ dân Văn Giang bị thu hồi đất trong suốt hơn 8 năm qua chưa được cơ quan có thẩm quyền nào làm rõ đúng sai thì một số hạng mục công trình của dự án Ecopark đã được hoàn thiện và sản phẩm của dự án đã được cung cấp cho khách hàng. Đầu năm 2013, đã có 28 khách hàng được chủ đầu tư Ecopark trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi là sổ đỏ) tại các khu Vườn Tùng, Vườn Mai. Một số hạng mục công trình dân sinh khác của dự án sẽ được hoàn thiện và cũng sẽ được cung cấp cho khách hàng. Những khách hàng này rồi cũng sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấp sổ đỏ như những khách hàng đã nhận sổ đỏ nêu trên. Tuy nhiên, có nhiều hạng mục công trình lại được xây dựng trên diện tích đất của các hộ dân Văn Giang bị thu hồi đất mà họ hiện đang nắm giữ sổ đỏ. Như vậy sẽ có nhiều mảnh đất có hai sổ đỏ trong dự án Ecopark: một do mỗi hộ dân hiện đang nắm giữ và một sổ khác - đã, sẽ được cấp cho các khách hàng của Ecopark.
Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Văn Giang áp dụng sai luật
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều mảnh đất có hai sổ đỏ trong dự án Ecopark là do chính quyền huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên thực hiện cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật đối với những diện tích đất của các hộ dân này . Họ đã tước đoạt quyền sử dụng đất, phá hủy tài sản trên đất của các hộ dân bằng những quyết định hành chính, hành vi hành chính trái luật. Cụ thể là Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) huyện Văn Giang đã căn cứ vào Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 để ra Quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai vì cho rằng các hộ dân đã có hành vi vi phạm hành chính quy định trong Nghị định này;  sau đó Chủ tịch huyện căn cứ vào Nghị định 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 để ban hành quyết định “cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” và thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất với lý do “Giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các Quyết định và Thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Thế nhưng, Chủ tịch UBND huyện Văn Giang đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu rằng, quyết định cưỡng chế này phải được hiểu là biện pháp cưỡng chế theo khoản 1, khoản 2 Điều 2 Nghị định 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 (1. Khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng;2. Kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;) chứ không được áp dụng biện pháp cưỡng chế theo khoản 3 Điều 2 Nghị định này, bởi lẽ, Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009  không có quy định về hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp cưỡng chế là thu hồi đất. Cho nên Chủ tịch UBND huyện Văn Giang không thể căn cứ vào Nghị định 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 để cưỡng chế thu hồi đất của các hộ dân. Hơn nữa đất của các hộ dân đã được chính UBND huyện Văn Giang cấp sổ đỏ để sử dụng ổn định lâu dài chứ họ có lấn, chiếm đâu mà giải tỏa diện tích đất của họ.
Quyết định cưỡng chế của Chủ tịch UBND huyện Văn Giang còn vi phạm về quy định mẫu biểu sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính. Chủ tịch UBND huyện Văn Giang đã cố tình sửa đổi mẫu quyết định ký hiệu số MQĐ 12 được ban hành theo Thông tư số 16/2010/TT – BTNMT ngày 26/10/2010 về việc quy định trình tự, thu tục cưỡng chế thi hành thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Mục đích của hành vi vi phạm này của Chủ tịch UBND huyện Văn Giang các cơ quan có trách nhiệm giải quyết vụ việc Văn Giang cần phải điều tra làm rõ.
Để thu hồi đất của các hộ dân Văn Giang, chính quyền Hưng Yên phải áp dụng theo quy định của Luật đất đai 2003 và Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Điều 39 Luật đất đai 2003 quy định như sau:
Điều 39. Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
1. Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
2. Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.
3. Sau khi có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, được công bố công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất.
Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi đất thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại”.
Theo quy định này thì UBND huyện Văn Giang phải ban hành Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường cho người sử dụng đất. Trường hợp những hộ dân không bàn giao mặt bằng thì UBND huyện Văn Giang phải ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và thực hiện cưỡng chế theo trình tự thủ tục thu hồi đất quy định tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009. Sau đó Phòng tài nguyên và Môi trường của huyện phải báo cáo việc thu hồi hoặc chỉnh lý sổ đỏ. Trên cơ sở báo cáo này UBND huyện Văn Giang sẽ điều chỉnh sự biến động về sử dụng đất của các hộ dân có diện tích đất bị thu hồi ...
Như vậy, Chủ tịch UBND huyện Văn Giang đã ban hành quyết định “cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” để thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất theo Pháp lệnh xử phạt lý vi phạm hành chính là không có căn cứ và áp dụng luật một cách bừa bãi, ngây ngô, ngớ ngẩn.
Do vậy có thể nói, hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền huyện Văn Giang là quá rõ ràng, không thể chối cãi. Bằng chứng là có nhiều diện tích đất có hai sổ đỏ chồng chéo cùng tồn tại song song.
Quyền và lợi ích hợp pháp của người dân bị xâm hại thô bạo 

Nhà nước giao đất nông nghiệp và cấp sổ đỏ cho các hộ dân sản xuất ổn định lâu dài.Cho nên sổ đỏ là căn cứ pháp lý xác lập quyền về sở hữu tài sản của họ theo quy định tại khoản 2 Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2005 và nó là tài sản chung của hộ gia đình theo Điều 108 Bộ luật này. Cho nên các hộ dân được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với quyền sử dụng đất, tài sản trên đất. 

Còn theo quy định tại Điều 105, 113 Luật đất đai 2003, người sử dụng đất có các quyền sau:
Điều 105. Quyền chung của người sử dụng đất
Người sử dụng đất có các quyền chung sau đây:
1. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất;
3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp;
4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp;
5. Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình;
6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. 

Điều 113. Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ sau đây: 
1. Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này; 
2. Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác;   
3. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo quy định của Chính phủ;
4. Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;
5. Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó;
6. Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 của Luật này; tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này;
7. Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;
8. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh.
Mặc dù luật pháp đã quy định rất rõ về quyền của người sử dụng đất, quyền về tài sản  như vậy, nhưng không hiểu tại sao Chủ tịch UBND huyện Văn Giang vẫn cố tình ban hành quyết định cưỡng chế trái luật nói trên và thực hiện cưỡng chế một cách quyết liệt?. Rõ ràng đàng sau việc ban hành và thực hiện cưỡng chế này có vấn đề không bình thường.
Theo các quy định về quyền của người sử dụng đất nói trên thì các chủ sở hữu sổ đỏ đều có các quyền ngang nhau. Như vậy, nếu như các hộ dân có sổ đỏ đã bị cưỡng chế thu hồi đất và khách hàng của Ecopark thực hiện các quyền này bằng các giao dịch dân sự theo quy định tại Bộ luật dân sự thì không biết chính quyền tỉnh Hưng Yên sẽ giải quyết như thế nào? Chẳng hạn họ tham gia vào các giao dịch dân sự như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất hay góp vốn, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất thì chính quyền chắc chắn sẽ lúng túng trong việc giải quyết về mặt hành chính cho các giao dịch này. Họ không có lý do nào để từ chối và cũng chẳng có căn cứ pháp lý nào để giải quyết các thủ tục hành chính  chồng chéo đối với các cuốn sổ đỏ này. Rồi nếu có các vụ kiện xẩy ra liên quan tới các sổ đỏ đó thì tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Và việc thi hành án sẽ ra sao?!! .... Nói chung mọi việc sẽ rối như canh hẹ đối với các cuốn sổ đỏ trong khu dự án Ecopark. Chung quy là tại cái quyết định cưỡng chế và việc thực hiện cưỡng chế trái pháp luật của Chủ tịch UBND huyện Văn Giang.
Cũng theo quy định trên thì các hộ dân còn nắm giữ sổ đỏ vẫn còn nguyên các quyền của người sử dụng đất. Thế nhưng trong thực tế họ đã bị tước đoạt quyền sử dụng đất, bị phá hủy tài sản trên đất bằng những quyết định hành chính, hành vi hành chính trái luật của UBND huyện Văn Giang.
Theo quy định pháp luật thì không được phép trên cùng một diện tích đất có nhiều sổ đỏ. Trong trường hợp này, sổ đỏ của các khách hàng Ecopark là trái pháp luật. Bởi lẽ, UBND huyện Văn Giang thực hiện cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật, dẫn đên việc bàn giao đất của chính quyền tỉnh Hưng Yên cho chủ đầu tư Ecopark cũng trái pháp luật. Do vậy các cuốn sổ đỏ của khách hàng Ecopark.sẽ bị thu hồi theo quy định tại khoản 2, Điều 25 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009. Cho nên đối với các khách hàng của Ecopark dù đã bỏ ra cả đống tiền để có cuốn sổ đỏ trong tay nhưng vẫn chưa có được sự đảm bảo chắc chắn về mặt pháp lý. Bở bất kỳ một lá đơn đề nghị, đơn khiếu nại, đơn khởi kiện nào từ phía các hộ dân còn nắm giữ sổ đỏ gửi đến cơ quan có thẩm quyền đều có thể ngăn cản họ thực hiện các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh … khi họ có nhu cầu.
Để thu hồi, xóa bỏ những diện tích đất trong các cuốn sổ đỏ của các hộ dân là một vấn đề hóc búa. Những cuốn sổ này chẳng khác gì những khúc sương bị mắc trong cổ họng: nuốt không trôi, nhả không ra. Cách duy nhất là chính quyền huyện Văn Giang phải thừa nhận hành vi sai trái của mình, đồng thời xin lỗi các hộ dân và bồi thường thiệt hại cho họ; sau đó họ phải thực hiện lại việc thu hồi đất theo quy định Luật đất đai 2003. Còn một cách nữa nhưng không liên quan đến chính quyền là chủ đầu tư thỏa thuận với các hộ dân bằng một bản hợp đồng theo các quyền mà người sử dụng đất được hưởng. Phải thực hiện như vậy mới đúng luật và quyền lợi của các hộ dân mới được đảm bảo.
Như vậy có thể nói, không chỉ quyền và lợi ích hợp pháp của các hộ dân bị thu hồi đất bị xâm hại một cách thô bạo mà ngay cả quyền lợi của những khách hàng Ecopark.cũng phải đối mặt với những rủi ro pháp lý từ quyết định cưỡng chế trái luật, hành vi cưỡng chế trái luật và việc bàn giao đất trái luật của chính quyền tỉnh Hưng Yên.
Những biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hộ dân 

Điều 169 Bộ luật dân sự 2005 quy định về « Bảo vệ quyền sở hữu ». Theo đó, quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận, bảo vệ và không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Căn cứ vào điều luật này, các hộ dân Văn Giang bị UBND huyện Văn Giang cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật có quyền yêu cầu các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết để đòi lại quyền sử dụng đất, đòi bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất bị phá hủy. 

Đối với các hộ dân Văn Giang bị UBND huyện Văn Giang cưỡng chế thu hồi đất năm 2012 có quyền khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND huyện Văn Giang bằng những vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục của Luật tố tụng hành chính để yêu cầu tòa án xem xét việc yêu cầu bồi thường và hủy bỏ quyết định hành chính trái luật nói trên.

Đối với diện tích đất của các hộ dân (kể cả các hộ dân đã nhận tiền đền bù) mà họ hiện đang nắm giữ sổ đỏ bị thu hồi đất năm 2009 thì thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính (nếu có), hành vi hành chính của UBND huyện Văn Giang đã hết, do vậy họ đã mất quyền khởi kiện vụ án hành chính. Tuy nhiên, do họ còn nắm giữ sổ đỏ nên họ có căn cứ để khởi kiện bằng những vụ án dân sự để yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật dân sự để đòi lại quyền lợi hợp pháp của mình. Các hộ dân cho biết, ngày 11 tháng 12 năm 2013, khoảng 150 hộ dân xã Xuân Quan hiện đang nắm giữ sổ đỏ đã đồng loạt gửi đơn đề nghị UBND xã Xuân Quan tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai với chủ đầu tư Ecopark theo quy định tại Điều 135, 136 Luật đất đai 2003. Họ tranh chấp với chủ đầu tư vì họ cho rằng, chủ đầu tư Ecopark đã chiếm đoạt đất của họ không có căn cứ pháp lý, trái luật. Sau khi hòa giải, nếu buổi hòa giải không thành thì hơn 150 hộ dân này sẽ gửi đơn khởi kiện chủ đầu tư Ecopark đến tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Các hộ dân sẽ lựa chọn và tùy thuộc vào tình hình tài chính để nộp tiền án phí, hoặc sẽ đồng loạt gửi đơn khởi kiện chủ đầu tư Ecopark.hoặc sẽ gửi đơn khởi kiện đơn lẻ để yêu cầu tòa án giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
 Tiếp đến, để tránh những rắc rối trong quá trình giải quyết tranh chấp và để đảm bảo cho việc thi hành án sau này, các hộ dân sẽ làm đơn đề nghị UBND huyện Văn Giang không cấp sổ đỏ cho các khách hàng của Ecopark tham gia mua bán, chuyển nhượng các sản phẩm là bất động sản trên diện tích đất hiện đang có tranh chấp.
Còn đối với các hộ dân vẫn còn nắm gữi sổ đỏ tại diện tích đất mà khách hàng của Ecopark đã nhận sổ đỏ tại khu vực Vườn Tùng, Vườn Mai có thể làm đơn khiếu nại yêu cầu UBND huyện Văn Giang thu hồi sổ đỏ do cấp trái quy định.
Tóm lại, không thể để tình trạng trên một diện tích đất tồn tại chồng chéo nhiều sổ đỏ dẫn tới các tranh chấp, khiếu kiện phức tạp khi những người dân được cấp sổ đỏ tham gia các quan hệ pháp luật dân sự trong xã hội.…. Cho nên các cơ quan chức năng có thẩm quyền các cấp cần phải vào cuộc để làm sáng tỏ vụ việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật tại Văn Giang. Không những phải làm rõ hành vi vi phạm pháp luật hành chính mà phải làm rõ cả những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự của một số lãnh đạo tỉnh Hưng Yên. Và nếu như các cấp có thẩm quyền không giải quyết vụ việc trái pháp luật này thì cuộc chiến pháp lý, hậu quả pháp lý cũng như hệ lụy của nó sẽ không có hồi kết.  
                                                                                                                   N.A.V
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

VỤ CÔN ĐỒ ĐÁNH DÂN VĂN GIANG: TIẾP TỤC KHÁNG ÁN LÊN TÒA TỐI CAO


Phúc thẩm vụ gây thương tích ở Văn Giang
Quỳnh Chi, phóng viên RFA, Bangkok
2013-01-28

Hôm nay, toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa phúc thẩm vụ côn đồ hành hung ba người dân ở Văn Giang. Bản án không khác so với phiên sơ thẩm đã diễn ra vào hôm 30 tháng 11. 

Hội đồng xét xử truy tố không đúng tội

Kết quả bản án được tuyên cho hai bị can Đinh Văn Huỳnh, 28 tuổi, và Nguyễn Tuấn Dũng, 36 tuổi lần lượt là 3 năm 6 tháng tù giam và 1 năm 6 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”, y án sơ thẩm. LS Hà Huy Sơn, LS đại diện pháp lý cho ba bị hại nhận xét về bản án:

“Người bị hại và tôi đều cho rằng viện kiệm sát truy tố không đúng tội. Đó phải là tội giết người mới đúng. Truy tố không đúng tội nên mức án tuyên rất thấp”.

Bản án được cho là ở mức thấp so với khung hình phạt của điều 104 BLHS Việt Nam, tức quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, từ mức cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Kết quả của bản án phiên sơ thẩm hồi tháng 11 đã bị các bị hại và luật sư phản đối và chính thức kháng cáo chưa đầy một tuần sau đó.

Ba người bị thương trong vụ “Cố ý gây thương tích” ở Văn Giang là ông Đàm Văn Đồng, 52 tuổi, ông Đàm Văn Nghiệp, 54 tuổi và ông Lê Thạch Bàn, 73 tuổi, ngụ tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Người bị hại và tôi đều cho rằng viện kiệm sát truy tố không đúng tội. Đó phải là tội giết người mới đúng. Truy tố không đúng tội nên mức án tuyên rất thấp
LS Hà Huy Sơn
Sự việc xảy ra vào ngày 12 tháng 7 năm 2012 khi ba nạn nhân cùng ba nông dân khác đi thăm một cánh đồng ở xã Xuân Quan thì bị một nhóm côn đồ vây đánh làm họ bị thương nặng ở đầu, cổ, tay và phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Sự việc gây bức xúc cho nông dân Văn Giang vì đây không phải lần đầu tiên xảy ra xô xát xung quanh vụ cưỡng chế, tranh chấp đất đai cho dự án Ecopark. Khi vụ cưỡng chế diễn ra vào tháng 4 năm ngoái, cũng xảy ra xô xát giữa lực lượng cưỡng chế với nông dân và phóng viên có mặt.

Ông Lê Thạch Bàn là người bị thương nặng nhất trong ba người. Kết quả giám định thương tật đối với ông là 13,6%. Còn ông Đàm Văn Đồng là 4%, và ông Đàm Văn Nghiệp là 6%,  theo mức giám định tạm thời. Tuy nhiên, ba nạn nhân cho rằng giám định trên không đúng với thực tế vì nhiều phần thương tích không có trong bản giám định bao gồm tổn thương sọ não và cột sống. Sau hơn nửa năm, ông Bàn vẫn chưa khôi phục được sức khỏe như trước khi sự việc xảy ra: “Sức khoẻ tôi cũng khôi phục dần nhưng đi vẫn chưa vững, xương khớp bị đau”.

Riêng ông Đồng cho biết cả ông và anh ông, tức ông Nghiệp vẫn còn bị đau nhức nơi các vết thương khi thời tiết thay đổi.

Những người chứng kiến sự việc cho rằng bị cáo không phải là chỉ là Đinh Văn Huỳnh và Nguyễn Tuấn Dũng vì họ tận mắt chứng kiến một nhóm côn đồ khoảng 20 người hành sự. Dân điạ phương cũng cho rằng một số người trong nhóm người này thuộc công ty san lấp của dự án Ecopark, ngoài một số là dân côn đồ. Chính vì thế, các bị hại  yêu cầu làm rõ động cơ gây án để tìm hiểu tận gốc những người liên can. Tuy nhiên, quan điểm này bị phía chủ dự án bác bỏ và cũng không được tòa suy xét. Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan điều tra cho biết một số nghi phạm khác đã bỏ trốn. Theo ông Hà Huy Sơn, Tòa không làm đúng thủ tục khách quan của vụ án.
Có dấu hiệu bao che cho các bị cáo của cơ quan viện KS huyện Văn Giang
LS Hà Huy Sơn
Tòa án cũng không chấp nhận kháng cáo của người bị hại yêu cầu trả lại hồ sơ điều tra lại và làm rõ sự thật vụ án. Ông Sơn không hài lòng với kết luận của Toà:

“Người bị hại và bản thân tôi không đồng ý với phán quyết của Tòa. Họ cũng không chấp nhận những ý kiến đưa ra. Vô lý ở chỗ nó không làm rõ được những người tổ chức, thuê đánh người bị hại. Phải có người thuê mướn thì mới xảy ra sự việc gây thương tích chứ”.
 
Bao che cho các bị cáo
 
Cũng như phiên sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm diễn ra trong sự quan tâm của nông dân Văn Giang, đặc biệt những người không đồng ý với quyết định thu hồi đất mà họ cho là trái luật, cũng như không đồng tình với cách hành xử thiếu công minh của luật pháp và đơn vị đầu tư dự án. Khoảng 60 người dân đến dự phiên tòa, bắt đầu vào lúc khoảng 9 giờ sáng, kết thúc lúc 12 giờ trưa.

Tuy phiên phúc thẩm đã diễn ra và bản án đã được tuyên nhưng theo LS và những người liên quan thì những gút mắc chưa được giải quyết triệt để. Theo LS Hà Huy Sơn, tại phiên phúc thẩm viện KS và hội đồng xét xử thừa nhận ở cấp sơ thẩm, hồ sơ vụ án bị làm sai lệch khi cho rằng khoảng cách giữa bị hại và bị can lúc  xảy ra sự việc là 30 mét. Theo HĐXX, khoảng cách đó lý ra phải là 120 mét. Ông Đồng bức xúc nói:

“Nếu khoảng cách 120 mét thì phải khẳng định rằng những người bị hại không có những lời lẽ gì xúc phạm đến những côn đồ này”.

Cáo trạng cho rằng các bị hại đã có lời lẽ gây xích mích với bị can nên gây ra sự việc. Phía bị hại cho rằng thực tế lúc đó họ ở khoảng cách khá xa các bị can nên không thể xảy ra chuyện xích mích như cáo buộc.

Nói với đài RFA, LS Hà Huy Sơn cho rằng “Có dấu hiệu bao che cho các bị cáo của cơ quan viện KS huyện Văn Giang”. Các bị hại nói họ sẽ không dừng lại ở phiên phúc thẩm. Ông Bàn đại diện cho hai người còn lại nói:

 “Tiếp tục kháng án lên tòa án tối cao”.

Theo qui định của PL, người bị hại có thể làm đơn lên tòa án tối cao để tiến hành thủ tục giám đốc thẩm nếu không đồng ý với phán quyết trong phiên phúc thẩm.

Nguồn: RFA

-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

KIẾN NGHỊ SỐ 05 LIÊN QUAN ĐẾN DỰ ÁN ECOPARK VĂN GIANG



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
                Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2013

KIẾN NGHỊ SỐ 05 LIÊN QUAN ĐẾN DỰ ÁN ECOPARK

VĂN GIANG – HƯNG YÊN

(Kiến nghị của các luật sư trợ giúp pháp lý cho những hộ dân bị thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark – Văn Giang – Hưng Yên, đề nghị  Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ trực tiếp xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến dự án Ecopark)

Kính gửi:      -   Ngài Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng Chính phủ.
Đồng kính gửi:  
-   Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
-   Ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước
-   Ông Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội
-   Ông Nguyễn Xuân Phúc – Phó Thủ tướng Chính phủ
-   Ông Nguyễn Bá Thanh – Trưởng Ban Nội chính Trung ương
-  Các Ông: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Tổng Thanh tra Chính phủ; Bộ trưởng Bộ công an; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải; Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ trưởng Bộ Xây dựng
-  Các cơ quan, đoàn thể: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội nông dân Việt Nam; Ban dân nguyện – Quốc hội; Ủy ban pháp luật Quốc hội
-  Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên
-   Các cơ quan truyền thông, báo chí
Chúng tôi, những luật sư đang trợ giúp pháp lý cho những hộ dân tại Văn Giang – Hưng Yên do việc họ bị thu hồi đất, liên quan đến dự án Ecopark gửi tới Ngài Thủ tướng và các Quý vị lời chào trân trọng và xin trình bày, kiến nghị như sau:
Việc thu hồi đất ở Văn Giang – Hưng Yên để xây dựng Khu đô thị Thương mại – Du lịch Văn Giang (Dự án Ecopark) có nguồn gốc từ 02 quyết định do Ngài Nguyễn Tấn Dũng ký khi Ngài là Phó Thủ tướng Chính phủ (quyết định 303/QĐ-TTg và quyết định 742/QĐ-TTg). Hàng ngàn hộ nông dân Văn Giang đã liên tục khiếu nại  từ năm 2006 đến nay nhưng vẫn chưa thấy có văn bản nào do Ngài Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng thay mặt Ngài ký để giải quyết vụ việc. Sau vụ cưỡng chế ngày 24/04/2012, 09 đại diện của những hộ dân bị thu hồi đất đã yêu cầu chúng tôi trợ giúp pháp lý để giải quyết vụ việc. Chúng tôi đã gửi Kiến nghị số 01 đề ngày 22/05/2012 đến Ngài nhưng không thấy hồi âm. Chúng tôi đã gửi Kiến nghị số 03 đề ngày 24/07/2012 tới Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP) để đề nghị Ông Bộ trưởng giúp Thủ tướng Chính phủ giải quyết những khiếu nại, tố cáo, nhưng cũng không có hồi âm.
Nay chúng tôi xin gửi Kiến nghị số 05 tới Quý Ngài với hi vọng, Ngài Thủ tướng sẽ quan tâm, trực tiếp giải quyết hoặc lập một tổ chuyên gia để giúp Ngài giải quyết. Theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành, thẩm quyền để xem xét hủy bỏ đối với những văn bản do Thủ tướng ban hành thuộc về Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và Quốc hội. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ có quyền xem xét lại chính những văn bản do mình ban hành. Mặc dù các hộ dân Văn Giang đã kiên trì khiếu nại tới UBTVQH và Quốc hội, nhưng chúng tôi – các luật sư trợ giúp pháp lý vẫn mong muốn chính Ngài Thủ tướng và Chính phủ sẽ xem xét, quyết định giải quyết những vấn đề đang trong tầm tay của Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ.
Cho phép chúng tôi không trình bày lại toàn bộ sự việc thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên, mà xin trình bày về những nội dung, vấn đề quan trọng sau:
1,  Quyết định số 303/QĐ-TTg ngày 30/3/2004 và Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành không đúng thẩm quyền.
2, Hai quyết định trên không căn cứ và cũng không có dấu hiệu phù hợp Quy hoạchsử dụng đất đã được phê duyệt trước đó và đang có hiệu lực.
3, Quyết định 742/QĐ-TTg không ghi cụ thể tên người bị thu hồi đất, diện tích đất bị thu hồi và cũng không giao cho người bị thu hồi đất nên không phải là quyết định thu hồi đất có giá trị đối với họ.
4, Có nhiều dấu hiệu cho thấy có “nhóm lợi ích” không vì dân vì nước đã tìm cách chạy luật, báo cáo và tham mưu thiếu trung thực, bỏ qua những quy định của pháp luật để giao cho một nhóm người không thực sự có khả năng về tài chính, chuyên môn 500 ha đất tại Văn Giang với giá đền bù rẻ mạt, bất chấp ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống, lao động của hàng ngàn hộ dân với hàng vạn nhân khẩu tại Văn Giang.
5, Có hàng loạt vi phạm pháp luật trong việc ban hành những văn bản liên quan đến Dự án Ecopark, khi thực hiện Dự án này, đỉnh điểm là cưỡng chế để thu hồi đất trái pháp luật.
6, Những khiếu nại, tố cáo của các hộ dân Văn Giang không được các cấp chính quyền, tòa án xem xét, giải quyết nghiêm chỉnh từ sau vụ cưỡng chế ngày 24/04/2012.
7, Những vấn đề các Bộ, ngành cần sáng tỏ để giúp Ngài Thủ tướng và Chính phủ giải quyết.
8, Đề xuất hướng giải quyết.
Chúng tôi xin trình bày từng nội dung, vấn đề:
1, Hai quyết định 303/QĐ-TTg và quyết định 742/QĐ-TTg năm 2004 ban hành không đúng thẩm quyền. 
a, Quyết định 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004 có nội dung phê duyệt  điều chỉnh bổ sung kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên. Theo Điều 18 Khoản 2 Luật đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001) quy định: “Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm và kế hoạch điều chỉnh, bổ sung hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương…”.  Như vậy, Luật quy định thẩm quyền phê duyệt này thuộc Chính phủ, không thuộc Thủ tướng Chính phủ.
b, Quyết định 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 về việc giao đất để thực hiện dự án xây dựng đường từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên đoạn từ huyện Văn Giang đến xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo Điều 23 khoản 1 điểm a Luật Đất đai trên: “Chính phủ quyết định giao đất trong các trường hợp sau đây:
a)  Giao đất có thu tiền sử dụng đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án”.
Như vậy, Chính phủ có thẩm quyền quyết định giao đất trong trường hợp này, Thủ tướng Chính phủ không có thẩm quyền này.
c,Có người cho rằng Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ không do Chính phủ quyết định tập thể và dẫn chiếu Quy chế làm việc của Chính phủ được ban hành theo Nghị định số 11/1998/NĐ-CP ngày 24/01/1998. Tuy nhiên Quy chế này đã bị thay thế bởi Quy chế được ban hành theo Nghị định số 23/2003/NĐ-CP ngày 12/03/2003. Theo Quy chế năm 2003, (i)Chính phủ quyết định tập thể những vấn đề mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Chính phủ (ii) Thủ tướng quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ tướng và những vấn đề được Chính phủ giao giải quyết.
d, Các nghị định hướng dẫn Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001) đều không giao cho Thủ tướng quyết định 02 nội dung trên. Ngày 08/05/2012, chúng tôi đã đề nghị ông Vũ Đức Đam – Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP cung cấp văn bản xác định Chính phủ có giao cho Thủ tướng ban hành 02 quyết định có nội dung trên nhưng đến nay chưa được cung cấp. Chúng tôi đã tìm hiểu các nghị định, nghị quyết của Chính phủ trong các năm 2003, 2004 nhưng không thấy Chính phủ có giao cho Thủ tướng để giải quyết những vấn đề trên.
2, Hai quyết định Quyết định số 303/QĐ -TTg ngày 30/3/2004 và Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ không căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đai đã được duyệt.
a, Theo Điều 28 Luật đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001), việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Theo Điều 17 Luật đất đai trên và Điều 11 Nghị định 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất đai 05 năm và hàng năm là quy hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền  quyết định  hoặc xét duyệt. Trong 02 quyết định nêu trên và trong 02 Tờ trình của Bộ TN-MT liên quan đến 02 quyết định này đều không nêu căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của tỉnh Hưng Yên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 438/QĐ-TTg ngày 04/06/2002.
b, Theo Nghị định 68/2001/NĐ-CP, Bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ chuyên đề phải đi kèm hồ sơ xét duyệt Quy hoạch sử dụng đất đai. Chúng tôi đã yêu cầu Bộ TN-MT cung cấp những bản đồ này cùng Quy hoạch được phê duyệt, nhưng đến nay Bộ TN-MT chưa cung cấp.
c, Ngày 21/08/2003, UBND tỉnh Hưng Yên có Quyết định số 1613/QĐ-UB về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội huyện Văn Giang giai đoạn 2001 – 2010 và định hướng đến năm 2020, không thấy có quy hoạch, kế hoạch xây dựng khu đô thị thương mại du lịch Văn Giang (như dự án Ecopark), cũng có nghĩa tại thời điểm này chưa có quy hoạch sử dụng đất để xây dựng đô thị tại Văn Giang. Mặt khác, theo bà con, vào thời điểm năm 2002-2003, họ được địa phương khuyến khích chuyển từ đất trồng lúa sang đất trồng cây quả, cảnh có giá trị cao, phù hợp với Quy hoạch tổng thể trên. Do đó không có cơ sở để xác định 500 ha đất (trong đó phần lớn là đất nông nghiệp) tại Văn Giang được quy hoạch chuyển đổi làm đất đô thị tại thời điểm 2003 – 2004.
d, Trong buổi đối thoại ngày 08/11/2012 giữa những đại diện của nhiều hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang với ông Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ TN-MT, người ký 02 Tờ trình của Bộ TN-MT, ông Võ đã thừa nhận nội dung 02 quyết định trên không phù hợp Quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt.
e, Ngày 21/06/2007, Chính phủ mới có Nghị quyết số 31/2007/NQ-CP xét duyệt, điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên từ năm 2001-2010 (thay thế quyết định 438/QĐ-TTg ngày 04/06/2002 nêu trên).
3, Quyết định 742/QĐ-TTg không phải là quyết định thu hồi đất có giá trị đối với các hộ dân liên quan tại Văn Giang.
a, Bộ TN-MT và chính quyền tỉnh Hưng Yên cho rằng quyết định 742/QĐ-TTg là quyết định thu hồi đất có hiệu lực đối với các hộ dân liên quan tại Văn Giang, mặc dù không giao quyết định này cho họ và cho rằng Luật đất đai 1993 không quy định phải ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ dân hoặc ghi tên người bị thu hồi đất, diện tích đất bị thu hồi, (chỉ có Luật đất đai 2003 có quy định).
b, Quan điểm trên không phù hợp pháp luật tại mọi thời điểm (từ năm 2004 đến nay). Luật đất đai 1993 (sửa đổi, bổ sung 1998, 2001) và Luật khiếu nại, tố cáo 1998 (sửa đổi bổ sung 2004, 2005) đều đảm bảo cho các hộ dân quyền sử dụng đất và nếu bị thu hồi được quyền nhận Quyết định thu hồi đất đúng luật, ghi rõ tên họ và diện tích đất bị thu hồi của họ. Cụ thể như sau:
Khoản 2, Điều 3 Luật đất đai 1993 (sửa đổi bổ sung 1998, 2001) nêu rõ: “3- Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người làm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp có đất sản xuất”.
Điều 21 Luật đất đai 1993 này cũng quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”.
Điều 28 Luật đất đai 1993 quy định: “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó.
Việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi bổ sung 2004, 2005) quy định: “Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính”.
Khoản 10, Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo 1998 định nghĩa về quyết định hành chính như sau: “Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính”.
c, Như vậy, việc thu hồi đất phải căn cứ bằng một quyết định hành chính, trong đó ghi tên (hoặc gắn liền một danh sách) một hoặc một số hộ dân cụ thể, cùng diện tích đất bị thu hồi của từng hộ dân. Người dân phải  nhận được quyết định hành chính (có ghi rõ tên họ và diện tích bị thu hồi) để chấp hành hoặc thực hiện quyền khiếu nại. Nếu người dân chưa nhận được quyết định thu hồi đất (có ghi rõ tên họ và diện tích bị thu hồi), họ không có nghĩa vụ phải thi hành quyết định thu hồi đất. Do đó, quyết định 742/QĐ – TTg (không ghi tên người bị thu hồi, diện tích đất của người bị thu hồi) không thể coi là quyết định thu hồi đất của những hộ dân Văn Giang.
d, Việc không giao quyết định thu hồi đất cho người bị thu hồi đất, khiến họ không có quyền  khiếu nại, đã xâm phạm quyền khiếu nại của công dân được quy định tại Điều 74 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).
4, Có nhiều dấu hiệu cho thấy có “nhóm lợi ích” đã tìm cách chạy luật, báo cáo không trung thực đến Phó Thủ tướng Chính phủ. 
a, Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico), được cấp Đăng ký kinh doanh ngày 19/08/2004, vốn điều lệ 70 tỷ đồng (đến năm 2006 mới đóng đủ vốn này). Trong các cổ đông, không có cổ đông nào có kinh nghiệm xây dựng đường bộ.
b, Ngay sau khi thành lập, công ty này được chính quyền tỉnh Hưng Yên ưu ái chỉ định thực hiện các dự án xây dựng đường giao thông liên tỉnh, khu đô thị với 500 ha đất, theo phương thức đổi đất lấy hạ tầng,  tổng vốn đầu tư tạm tính của 02 Dự án này tại thời điểm 2004 là khoảng 4500 tỷ đồng, gấp gần 65 lần vốn điều lệ. 
c,  Dự án đường giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên không nằm trong quy hoạch giao thông đường bộ toàn quốc (được Thủ tướng Chính phủ thông qua theo quyết định 162/QĐ-TTg ngày 15/11/2002) và Quy hoạch giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên (theo Quyết định 2978/1999/QĐ-UB của UBND tỉnh Hưng Yên ngày 29/12/1999, đã được Bộ GTVT cho ý kiến). Tuy nhiên, một nhóm quan chức tỉnh Hưng Yên cùng Vihajico đã báo cáo về một dự án đường cao tốc trọng điểm Hà Nội – Hưng Yên (theo thông tin của ông Đặng Hùng Võ cung cấp). Thực tế, nếu các ban ngành quan tâm đến giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên, chỉ cần nâng cấp một số đoạn đường sẵn có của Hưng Yên. Tuy nhiên, nhóm lợi ích đưa ra dự án đường giao thông trọng điểm chỉ là cớ nhằm có được 500 ha đất giáp Hà Nội, có vị trí đắc địa với giá đền bù rẻ mạt (dự tính ban đầu 20 triệu đồng/1 sào = 360m2 đất), đường giao thông nếu xây cũng chỉ nhằm tăng giá trị của khu đô thị xây trên 500 ha đất này.
d, Nhóm lợi ích này tìm cách được giao đất theo phương thức đổi đất lấy hạ tầng trước ngày 01/07/2004 khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực. Theo Luật đất đai 2003, phải tiến hành đấu thầu, đấu giá, (không có cơ hội cho nhóm lợi ích này).
Họ đã không làm đúng theo tinh thần của công văn số 1495/CP-NN ngày 31/10/2003, theo đó dự kiến tỉnh Hưng Yên đổi 02 dự án giaothông bằng  quỹ đất từ 300-500 ha tại Văn Giang. Thực tế, nhờ việc báo cáo không trung thực từ nhóm quan chức tham mưu, tỉnh Hưng Yên chỉ đổi 01 dự án bằng quỹ đất 500 ha, có lợi cho nhóm lợi ích này.
e, Nhóm lợi ích này đã bỏ qua những quy định theo Điều 23 Nghị định 04/2000/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 66/2001/NĐ-CP. Theo đó, chỉ được trình Chính phủ giao đất để đổi lấy hạ tầng sau khi tổ chức nghiệm thu và xác định đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng, định giá khu đất sẽ trả cho chủ đầu tư đã bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Nói cách khác, chỉ khi chủ đầu tư đã xây xong công trình hạ tầng theo cam kết, Chính phủ mới giao đất cho Chủ đầu tư. Nhóm lợi ích này (thông qua những quan chức nhất định đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ), đã tạo điều kiện  để có các giấy tờ giao đất cho Vihajico (với tốc độ nhanh chóng chưa từng có trong lịch sử về thực hiện thủ tục đất đai tại Việt Nam) khi Vihajico chưa thực hiện xây dựng công trình hạ tầng, tạo điều kiện cho Vihajico lấy mỡ nó rán nó”, “tay không bắt giặc”. Công ty này đã bán hàng nghìn căn biệt thự, căn hộ, đã hưởng lợi nhuận nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành hạ tầng.
f, Nhóm lợi ích này không quan tâm đến thực trạng sản xuất, kinh doanh của hàng ngàn hộ nông dân tại Văn Giang, đang được thuận lợi khi chuyển sang trồng cây cảnh theo truyền thống của một số xã tại Văn Giang và do đó cũng không có báo cáo trung thực tới Phó Thủ tướng về thực trạng này (cũng như giải pháp đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho các hộ dân). Lợi ích của hàng nghìn hộ nông dân, với hàng chục  nghìn nhân khẩu bị coi nhẹ, so với lợi ích của Vihajico. 
g, Nhiều cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương đã tỏ ra dễ dãi, khi tiếp nhận nhà đầu tư Vihajico, bỏ qua nhiều quy định của pháp luật tại thời điểm đó nhằm giao đất cho Vihajico (xem phần sau).
5, Những vi phạm pháp luật từ một số cơ quan nhà nước liên quan đến Dự án Ecopark (ngoài những vi phạm nêu trên).
a, UBND tỉnh Hưng Yên không công bố, công khai (theo Quyết định 22/2003/QĐ-BTC ngày 18/02/2003) về danh mục các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng được sử dụng quỹ đất, danh mục quỹ đất dùng để tạo vốn cho từng công trình (trong đó có dự án đường giao thông, quỹ đất tại Văn Giang).
b, Do không công bố, công khai nên không thể xác định được có hay không nhà đầu tư khác xin thực hiện những dự án trên, nên việc UBND tỉnh Hưng Yên xác định Vihajico là nhà đầu tư duy nhất (để chỉ định, bỏ qua đấu thầu, đấu giá) không có cơ sở, trái Quyết định 22/2003/QĐ – BTC.
c, Do Vihajico mới thành lập vào tháng 8/2003, vốn điều lệ 70 tỷ đồng, chưa có kinh nghiệm xây dựng hạ tầng, không có cổ đông nào có kinh nghiệm xây dựng đường bộ nên không đủ các điều kiện (vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm) theo quy định tại Điều 7 Quyết định 22/2003/QĐ-BTC. Việc UBND tỉnh Hưng Yên lựa chọn Vihajico là trái Quyết định này.
d, Theo các hộ dân Văn Giang, chỉ đến năm 2006, họ và chính quyền địa phương cấp xã mới biết được địa phương có ý định xây dựng khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang. Như vậy, khi phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang tới năm 2020 theo Quyết định 632/QĐ-UB ngày 25/03/2004, UBND tỉnh Hưng Yên đã không tuân thủ theo khoản 6 Điều 8 Nghị định 52/1999/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 07/2003/NĐ-CP: “… Quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi nghiên cứu lập dự án, cơ quan tổ chức lập dự án phải công bố công khai, trưng cầu ý kiến của nhân dân và Hội đồng nhân dân sống trên vùng quy hoạch…”.
e, Bộ TN-MT khi thẩm tra Tờ trình ngày 25/02/2004 của UBND tỉnh Hưng Yên về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2004, 2005 đã không thẩm tra đề nghị này có phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt trước đó không, đã không phát hiện UBND tỉnh trình không đúng thời điểm theo quy định tại Nghị định 68/2001/NĐ-CP về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. Lẽ ra, Bộ TN-MT phải hướng dẫn UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện theo chỉ thị 05/2004/CT-TTg  ngày 09/02/2004 về triển khai thi hành Luật đất đai 2003, để thực hiện rà soát, phê duyệt, điều chỉnh Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo Luật đất đai 2003. Ngày 12/03/2004 bằng Tờ trình số 14/TTr.BTNMT, Bộ TN-MT vội vã chấp nhận Tờ trình này của UBND tỉnh Hưng Yên là không thực hiện theo Chỉ thị 05/2004/CT-TTg. Tờ trình số 14/TTr.BTNMT không nêu những căn cứ pháp lý là trái thông lệ và những quy định tối thiểu của một văn bản hành chính.
f, Dự án giao thông liên tỉnh Hưng Yên – Hà Nội là dự án xây dựng đường quốc lộ, thuộc trách nhiệm quản lý trực tiếp của Bộ GT-VT. UBND tỉnh Hưng Yên tự ý phê duyệt Dự án này (đoạn từ Văn Giang đến Dân Tiến – Khoái Châu, đoạn qua Khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang kéo dài) theo Quyết định 1431/QĐ-UB ngày 25/06/2004 mà không có ý kiến, phê duyệt, chấp thuận từ Bộ GT-VT là trái các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ có hiệu lực tại thời điểm đó (Pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông đường bộ, Nghị định 167/1999/NĐ-CP về tổ chức quản lý đường bộ). Theo Điều 13 và Điều 14 Nghị định 167/1999/NĐ-CP này, nguồn vốn để đầu tư đường bộ thuộc hệ thống quốc lộ được bố trí từ  nguồn ngân sách trung ương và các nguồn vốn khác. Như vậy, việc phê duyệt dự án này còn phải có ý kiến của Bộ Tài chính (ngoài Bộ GT-VT). Chính từ không có ý kiến từ 02 Bộ này, UBND tự ý ra quyết định (mà không có kinh nghiệm), dẫn đến  không xác định được trách nhiệm bố trí nguồn vốn, một nguyên nhân quan trọng cho việc Dự án giao thông này đến nay chưa hoàn thành.
g, UBND tỉnh Hưng Yên xác định Dự án giao thông trên là Dự án của địa phương, có vốn đầu tư trên 500 tỷ đồng, tức thuộc nhóm A nhưng không thông qua HĐND tỉnh Hưng Yên là làm trái quy định “Trường hợp dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách địa phương phải đưa ra Hội đồng nhân dân thảo luận, quyết định và công bố công khai” theo Nghị định số 07/2003/NĐ-CP.
h, Khi cưỡng chế giải phóng mặt bằng ngày 07/01/2009 đối với trên 200 hộ dân, chính quyền tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang không ban hành quyết định cưỡng chế theo quy định của pháp luật (các hộ dân không nhận được quyết định cưỡng chế, kể cả khi yêu cầu chính quyền cung cấp quyết định cưỡng chế).
Ngày 24/04/2012, chính quyền tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang tiếp tục cưỡng chế thu hồi đất, nhưng không có quyết định cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai.
Có nhiều hình ảnh cho thấy đã huy động lực lượng quá mức cần thiết cho những việc cưỡng chế, gây ảnh hưởng xấu đối với dư luận trong và ngoài nước.
6, Những khiếu nại, tố cáo của các hộ dân Văn Giang không được các cấp chính quyền, tòa án xem xét, giải quyết nghiêm chỉnh.
a, Các hộ dân khiếu nại việc cưỡng chế ngày 07/01/2009, tỉnh Hưng Yên và UBND huyện Văn Giang đã không giải quyết theo quy định của pháp luật. 
Đối với việc cưỡng chế ngày 24/04/2012, các hộ dân đã khiếu nại, UBND huyện Văn Giang đã thụ lý nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết, mặc dù đã quá thời hạn theo quy định của Luật Khiếu nại và Tố cáo (nay là luật Khiếu nại).
Các hộ dân đã khởi kiện ra Tòa án tại Hưng Yên, nhưng Tòa án đều không thụ lý đơn khởi kiện của các hộ dân với những lý do không chính đáng.
Tóm lại, các cơ quan địa phương, tòa án tỉnh Hưng Yên tìm mọi cách để không giải quyết khiếu nại của các hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang, đây là nguyên nhân chính dẫn đến các hộ dân buộc phải khiếu nại, tố cáo vượt cấp.
b, Thanh tra Chính phủ (“TTrCP”) đã 02 lần xem xét khiếu nại, tố cáo của các hộ dân Văn Giang (Văn bản 168/TTCP-V4 ngày 26/01/2007 và báo cáo 2288/BC-TTCP ngày 17/9/2009) nhưng chưa giải quyết triệt để, đúng pháp luật, có nhiều thiếu sót, cụ thể như sau:
-  Những hộ dân này cho rằng quyết định số 303/QĐ- và số 742/QĐ-TTg được ban hành không đúng thẩm quyền, họ đã nêu vấn đề này ngay từ năm 2006 và khiếu nại từ năm 2009 lên Chính phủ và Quốc hội. Tuy nhiên, trong cả 02 văn bản của TTrCP đều không thấy đề cập đến nội dung này. Việc xem xét giá trị pháp lý của 02 quyết định này thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội, vượt quá thẩm quyền của TTrCP. Tuy nhiên, với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ giải quyết các khiếu nại, tố cáo, lẽ ra TTrCP cần báo cáo với Chính phủ về nội dung khiếu kiện này của những người dân bị thu hồi đất để Chính phủ xem xét theo thẩm quyền. 
-  TTrCP cho rằng các dự án này phù hợp với quy hoạch, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt đúng quy định hiện hành. Nhưng TTrCP không nêu rõ những văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền nào đã phê duyệt những quy hoạch nêu trên trước khi ban hành 02 quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, không nêu rõ việc thẩm định và phê duyệt dự án phù hợp như thế nào với những văn bản pháp luật nào? (Chúng tôi đã chứng minh ở phần trên về việc không phù hợp quy hoạch của những dự án này, cũng như những vi phạm về trình tự lập, thẩm định, phê duyệt dự án, có nêu cụ thể những quy định pháp luật bị vi phạm).
-  Văn bản 168/TTCP-V4 ngày 26/01/2007 thừa nhận UBND tỉnh Hưng Yên đã không làm đúng các quy định của pháp luật khi lựa chọn chủ đầu tư, năng lực tài chính của Chủ đầu tư còn hạn chế (vốn điều lệ 70 tỷ đồng). Lẽ ra TTrCP cần kiến nghị Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Hưng Yên phải thực hiện lại việc lựa chọn Chủ đầu tư theo đúng pháp luật, không chấp nhận một doanh nghiệp có năng lực tài chính hạn chế lại làm chủ 02 dự án đầu tư có trị giá hàng nghìn tỷ đồng.
- Theo báo cáo 2288/BC-TTCP ngày 17/9/2009, chủ đầu tư dự kiến thông tuyến vào tháng 11/2009. Thực tế, đến nay (tháng 1/2013) đoạn đường do chủ đầu tư xây vẫn chưa xong. Như vậy, chủ đầu tư đã báo cáo thiếu trung thực và cán bộ TTrCP được giao nhiệm vụ đã quan liêu, không kiểm tra thực tế, báo cáo sai lệch tới Thủ tướng Chính phủ.
-  Báo cáo 2288/BC-TTCP ngày 17/9/2009 có ghi nhận sự kiện cưỡng chế giải phóng mặt bằng ngày 07/01/2009 đối với trên 200 hộ dân, dẫn đến khiếu kiện tập trung đông người, phức tạp. Nhưng TTrCP đã không tìm hiểu và kết luận việc cưỡng chế này có đúng pháp luật hay không. Thực tế, tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang không có văn bản quyết định cưỡng chế nào để thông báo tới những hộ dân liên quan. Rõ ràng việc cưỡng chế không có quyết định hợp pháp là trái pháp luật, TTrCP lẽ ra phải kết luận. Việc TTrCP không có kết luận dứt khoát đã dung túng thái độ coi thường pháp luật từ nhiều cán bộ của chính quyền địa phương, gây bức xúc trong nhân dân Văn Giang. 
-  Sau ngày 24/04/2012, các hộ dân và các luật sư đã đề nghị TTrCP đối thoại, làm rõ những vấn đề liên quan, trong đó có những vấn đề mới phát sinh nhưng đến nay TTrCP vẫn chưa tổ chức đối thoại và cũng không có văn bản trả lời.
c, Bộ TN-MT đã tổ chức đối thoại với các hộ dân, nhưng đều tìm cách né tránh, trả lời những vấn đề cốt lõi của sự việc. Các hộ dân đã khiếu nại các văn bản số 14/TTr.BTNMT và Tờ trình số 99/TTr.BTNMT tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg năm 2004, nhưng đến nay vẫn chưa thấy Bộ TN-MT thụ lý, giải quyết.
Tóm lại, chúng tôi chưa thấy cơ quan có thẩm quyền nào của Trung ương và địa phương nghiêm chỉnh xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các hộ dân, đặc biệt sau ngày 24/04/2012, mặc dù vào tháng 5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo các Bộ ngành phải xem xét, giải quyết và báo cáo công khai, và chúng tôi cùng các hộ dân kiên trì gửi các kiến nghị đến những cơ quan này.
7, Những vấn đề các Bộ, ngành cần sáng tỏ để giúp Ngài Thủ tướng và Chính phủ giải quyết.
Chúng tôi đề nghị các Bộ, ngành theo thẩm quyền của mình làm rõ những vấn đề sau đây:
a, Bộ TN-MT cần nêu rõ dựa vào những điều khoản nào của văn bản pháp luật nào, quy hoạch nào (trong đó có quy hoạch sử dụng đất nào kèm theo bản đồ quy hoạch) đã được phê duyệt hợp pháp để tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg năm 2004.
b, Bộ Tư pháp cần làm rõ quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg  là văn bản quy phạm pháp luật hay là quyết định hành chính? Nếu là văn bản quy phạm pháp luật, nhưng không đăng công báo có hậu quả pháp lý như thế nào? Nếu là quyết định hành chính, nhưng không ghi cụ thể đối tượng và vấn đề phải thi hành, không giao cho các hộ dân, họ có nghĩa vụ phải thi hành không? Có hậu quả pháp lý như thế nào? Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 quyết định này có nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ (trong khi không có văn bản của Chính phủ giao nhiệm vụ cho Thủ tướng) có phù hợp pháp luật tại thời điểm ban hành hay không? (Nếu phù hợp, cần dẫn chứng cụ thể điều khoản nào, văn bản pháp luật nào có hiệu lực tại thời điểm ban hành).
c, VPCP cần làm rõ có Nghị quyết, Nghị định nào của Chính phủ giao cho Thủ tướng Chính phủ quyết định nội dung 02 văn bản 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg hay không?
d, TTrCP cần làm rõ tại sao không báo cáo cho Thủ tướng và Chính phủ việc các hộ dân Văn Giang đang khiếu nại về thẩm quyền ban hành và nội dung 02 quyết định nêu trên của Thủ tướng? Tại sao TTrCP không phát hiện chính quyền địa phương huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên khi cưỡng chế thu hồi đất không có các quyết định cưỡng chế theo đúng quy định của luật Đất đai?
e, Bộ Công an cần làm rõ có việc huy động những lực lượng không thuộc địa phương quản lý cho việc cưỡng chế (có thông qua người có thẩm quyền?), đã sử dụng pháo nghiệp vụ (mà người dân đã thu được hàng trăm tang vật) có đúng quy định?
f, Bộ Kế hoạch và Đầu Tư (Bộ KH&ĐT) làm rõ các Dự án liên quan đã làm đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật về thẩm định, phê duyệt Dự án? Tại sao những đề xuất trong công văn số 3796/BKH/TĐ&GSĐT ngày 18/6/2004 không được tỉnh Hưng Yên thực hiện.
g, Bộ Tài chính cần làm rõ việc chỉ định chủ đầu tư (Vihajico) có đúng trình tự pháp luật không? Việc giao cho Chủ đầu tư đất trong khi chủ đầu tư chưa hoàn thành xong hạ tầng có đúng pháp luật không? Việc UBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt Dự án đường giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên (có giá trị trên 500 tỷ đồng) không thông qua Hội đồng nhân dân có đúng pháp luật không?
h, Bộ Giao thông vận tải (Bộ GT-VT) xác định Dự án đường giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên có phải là dự án xây dựng đường Quốc lộ không? Bộ GT-VT đã có ý kiến, phê duyệt về dự án này trước ngày 30/06/2004 không? Việc UBND tỉnh Hưng Yên tự phê duyệt Dự án này có vượt quá thẩm quyền không?
i, Bộ Xây dựng cần xác định Quy hoạch xây dựng khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang ngày 25/03/2004 đã lấy ý kiến của HĐND và người dân huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên chưa? Nếu chưa lấy ý kiến, có phù hợp pháp luật không?
k, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) cần làm rõ tình hình hàng ngàn hộ dân bị thu hồi đất, việc làm, thu nhập, cuộc sống của họ bị ảnh hưởng như thế nào, xác định một sào đất trồng cây cảnh tại Văn Giang hàng năm sau khi trừ chi phí đem lại cho hộ dân thu nhập bao nhiêu? (Có đúng 50 triệu đồng/năm, và nếu đúng như vậy, đương nhiên không ai có thể chấp nhận mức bồi thường 50 triệu/sào để mất đất vĩnh viễn).
l, UBND tỉnh Hưng Yên làm rõ vào các năm 2002, 2003 đã hướng dẫn, khuyến khích nông dân Văn Giang chuyển đổi đất nông nghiệp từ trồng lúa sang trồng cây quả, cảnh có giá trị cao không? Tại sao quyết định giao đất cho Vihajico, trong khi chưa có quyết định thu hồi đất của các hộ dân và Vihajico chưa hoàn thành hạ tầng? Giải thích tại sao cưỡng chế thu hồi đất của nông dân nhưng không có quyết định cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai? Tại sao UBND huyện Văn Giang không giải quyết các khiếu nại của các hộ dân?
8, Đề xuất hướng giải quyết.
a, Chúng tôi tiếp tục đề nghị Thủ tướng Chính phủ áp dụng Điều 8 Khoản 7 và Điều 20 Khoản 4 Luật Tổ chức Chính phủ thành lập một Ủy ban lâm thời (tổ chuyên gia) để giải quyết những vấn đề liên quan đến Dự án Ecopark như Kiến nghị số 01 của chúng tôi.
b, Các cơ quan hữu quan cần khuyến khích và tạo điều kiện cho Vihajico  thương lượng trực tiếp với các hộ dân khiếu kiện để đạt được một phương án có thể chấp nhận được. Chúng tôi đã tiếp xúc với lãnh đạo Vihajico, có vẻ họ sẵn sàng chấp nhận thương lượng, nhưng lo ngại có một số người có ảnh hưởng ngăn cản cách thức giải quyết này.
c, Đề xuất của các hộ dân đang khiếu kiện, trong đó có những hộ dân có kinh nghiệm trồng cây cảnh (Văn Giang có một số làng chuyên cây cảnh có truyền thống và nổi tiếng ở miền Bắc), giữ lại khoảng 130ha đất để họ chuyên trồng cây cảnh trong Dự án đô thị sinh thái Ecopark. Đây là đề xuất hợp lý và thiện chí của các hộ dân, nếu chấp nhận sẽ giải quyết được toàn bộ những vấn đề của Dự án.
Các xã Xuân Quan, Cửu Cao, Phụng Công huyện Văn Giang có lịch sử hàng nghìn năm. Tên Phụng Công do Hai Bà Trưng đặt, để biết ơn những người dân đã che chở hai Bà. Những xã trên có lịch sử oai hùng trong kháng chiến chống Pháp (chống càn) và chống Mỹ (trận địa pháo phòng không). Những nông dân Văn Giang đã tin tưởng theo Đảng cộng sản Việt Nam, để người cày có ruộng. Họ có niềm tin Đảng và Nhà nước sẽ bảo đảm quyền căn bản này của nông dân, không vì lợi ích của bất cứ nhóm người nào khiến quyền căn bản của họ bị tước đoạt, và buộc họ phải khiếu kiện triền miên.
Chúng tôi trân trọng đề nghị Ngài Thủ tướng và các cơ quan chức năng quan tâm đến kiến nghị này và sớm giải quyết, để các hộ dân Văn Giang an tâm sống, làm việc trên mảnh đất của mình.
Chúng tôi xin đề nghị lãnh đạo các cơ quan chức năng bố trí lịch làm việc với chúng tôi và đại diện các hộ dân để chúng tôi trình bày rõ hơn về nội dung sự việc và nguyện vọng của các hộ dân.
Nhân dịp đầu xuân, chúng tôi  xin chúc các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các Bộ, ngành sức khỏe và thành công trong năm mới.
Trân trọng./.
Các luật sư đang trợ giúp pháp lý cho những hộ dân bị thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark – Văn Giang – Hưng Yên ký tên.
Địa chỉ liên hệ: số 81 phố chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội.  Điện thoại: 04 3775 4788.
Nơi gửi:
-  Như trên
-  Đại diện những hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên yêu cầu luật sư trợ giúp pháp lý.
Tài liệu kèm theo Kiến nghị:
  1. Tên các văn bản pháp luật tham khảo.
  2. Các tài liệu liên quan đến Dự án Ecopark
  3. Những khiếu nại, tố cáo của các hộ dân
  4. Các kiến nghị và các văn bản của luật sư
  5. Những trao đổi của Luật sư, đại diện các hộ dân với BộTN-MT, với ông Đặng Hùng Võ và những tài liệu liên quan khác.




....


-->đọc tiếp...