Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáp Văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáp Văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Thăm những làng Việt cổ: LÀNG THEN - CẢ LÀNG CHƠI VĨ CẦM

Làng Then - làng vĩ cầm
Nguyễn Xuân Diện

Làng Then - đến cả Thành hoàng cũng chuộng nhạc

Làng Then, xã Thái Đào là một làng quê nhỏ bé heo hút thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang từ lâu đã nổi tiếng là “làng vĩ cầm”. Từ nửa thế kỷ nay, dưới sự dẫn dắt của cụ Nguyễn Văn Đưa, làng Then không lúc nào dứt tiếng vĩ cầm. Một cây đàn phương Tây sang trọng và khác xa với truyền thống âm nhạc Việt, vậy mà có mặt ở đây, rồi trở nên gần gũi thân thương với dân làng, trở thành niềm tự hào của họ. Đó là điều mà bất cứ ai cũng ngạc nhiên.

Theo lời mời của một người làng Then - TS. Giáp Văn Dương (ĐH. Liverpool, Anh quốc) – chúng tôi về thăm làng Then trong một chiều đông nhạt nắng, khi những cánh đồng lúa chín vàng ươm sắp đến mùa gặt, và đã cảm nhận được không gian ấm áp của một làng quê rất đỗi thân gần. Về thăm làng, hỏi chuyện các cụ già mới biết làng Then chính là quê của nhiều diễn viên, nhạc công nổi tiếng như hai ông Đạo diễn, NSND. Bùi Đắc Sừ và Hà Quốc Minh (nguyên Giám đốc và đương kim Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam), nhạc sĩ Trần Vinh (Nhà hát Chèo Việt Nam)…Người già trong làng kể rằng xưa vào mỗi dịp hội xuân, làng mời một gánh tuồng về diễn mấy đêm liền, lại còn mời cả giáo phường ca trù về hát thờ trước cửa đình. Hát cửa đình không thể không có bài Thét nhạc cổ kính trang nghiêm với những lời hát: Tiếng nhạc Thiều tâu/ Vẳng tai nghe tiếng nhạc Thiều tâu/ Vẳng nghe chuông gióng lâu lâu lại dừng…Sau khi hát ở đình, các quan viên chức sắc trong làng còn đón các cô đầu về hát chơi trong nhà, tiếng “tom, chát” rộn suốt những đêm hội mùa xuân.

Trong đình vang Thuấn nhạc

Khi về thăm làng Then, tôi cố gắng tìm xem điều gì khiến cho làng quê này trở thành một làng âm nhạc như thế. Phải tìm tự nguồn gốc tìm đi. Hỏi các cụ già nhất trong làng thì chỉ biết làng có đón các gánh tuồng và ả đào về hát vậy thôi. Nhưng khi tôi vào đến đình làng Then thì mới thật sững sờ! Đây, bức hoành phi và đôi câu đối nét vàng son còn chói lọi mà thông điệp trên đó ý chừng là để nói với cả Thần và người, không chỉ người làng Then mà cả người thiên hạ nữa!


Bức hoành phi của làng có mấy chữ: “Chung hòa thả bình”. Đây là bốn chữ rút trong bài thơ Phạt mộc, phần Tiểu Nhã của Kinh Thi. Nguyên cả đoạn thơ ấy là “Thần chi! Thính chi. Chung hòa thả bình”, nghĩa là: Hỡi thần! hãy lắng nghe khúc nhạc này! Rồi cho được hòa vui yên ổn. Đôi câu đối như sau: “Đình trung như Thuấn nhạc. Bệ thượng nhược Nghiêu tôn”, nghĩa là: Nhạc vang lên trong đình này như nhạc Thiều của vua Thuấn. Lòng tôn kính Thần trên bệ kia chẳng khác dân thờ vua Nghiêu. Xem thế đủ biết thành hoàng làng Then chuộng cổ nhạc như thế nào!  

Thuấn và Nghiêu là hai ông vua đời cổ xưa ở Trung Hoa. Và thời đại của vua Nghiêu vua Thuấn là thời đại cực thịnh, muôn dân đều được hòa vui no đủ, trở thành niềm mong ước của tất cả các đời đế vương sau này. Vua Thuấn có sáng tác khúc nhạc Thiều, được Đức Khổng Tử khen là “tận thiện, tận mỹ”. Nhạc Thiều là điệu nhạc của đời thịnh trị.

Vậy là dân làng Then đã dâng cúng lên thần thành hoàng làng khúc nhạc dịu êm thanh bình và mong thần phù trợ cho được hòa vui, yên ổn. Và khúc nhạc đó được ví như nhạc Thiều của vua Thuấn. Với đôi câu đối thờ trong đình, người dân làng Then xưa vừa thể hiện niềm tôn kính với thành hoàng làng, vừa ca ngợi cuộc sống thanh bình no đủ, vừa tự hào với những khúc nhạc thành kính nơi đình trung.

Về làng Then nghe khúc nhạc Thiều.


Đón chúng tôi tại đình là các cụ ông cụ bà và đông đảo dân làng, và cả một dàn nhạc vĩ cầm. Sau khi nghe giải thích về đôi câu đối thờ của tiền nhân để lại, và biết rằng không phải ngẫu nhiên mà làng Then lại có truyền thống âm nhạc như vậy, dân làng mừng lắm. Sau lời phát biểu của cụ Nguyễn Văn Đưa (78 tuổi) và ông đội trưởng đội vĩ cầm Nguyễn Quang Khoa là phần trình tấu của đội vĩ cầm làng Then. Trên bục cao, những bản tổng phổ được mở ra, các nghệ sĩ làng quê đã trình bày bốn bản nhạc: Du kích sông Thao, Dòng Đa-nuýp xanh, Trống cơm và Bóng cây Kơ –nia. Bữa tiệc âm nhạc làng Then đãi khách lại cũng không chỉ có dàn nhạc vĩ cầm. Người làng Then còn hát quan họ, hát chèo lời cổ rất lề lối với lòng mến khách hiếm có!
.

Nhạc sĩ Phạm Chỉnh (PGĐ Trung tâm Văn hóa thông tin Hà Nội) cho biết ông rất bất ngờ khi thấy những người nông dân làng Then đọc được tổng phổ, và cho dù tiếng đàn chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng cách chơi đã rất chuyên nghiệp. Những người dân làng Then thực sự là những nghệ sỹ rất có phong cách và đầy tính ngẫu hứng. GS. Lê Văn Cường (ĐH. Paris 1, Pháp) tranh thủ dịp về dự hội thảo ở Việt Nam, ghé thăm làng Then cho biết, ông đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa thấy có một làng nào yêu nhạc và có một dàn nhạc độc đáo như làng Then.

Tôi chỉ mỉm cười đứng nép đằng sau các vị ấy, vì cho rằng làng Then được vậy là bởi ông thành hoàng làng Then thích nhạc. Mong sao tiếng nhạc Thiều ấy ngàn đời ở mãi với làng Then thanh bình no đủ!

Nguyễn Xuân Diện
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

TS. Giáp Văn Dương: HÃY TỪ BỎ CHẤT GÂY NGHIỆN CHẦU VỀ TRUNG CỘNG!

Thoát Trung Luận 
Giáp Văn Dương

Thời gian gần đây, khi thảo luận về những nguy cơ đối với nước ta trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, về lựa chọn mô hình phát triển cho Việt Nam, về tình hình tranh chấp Biển Đông …, một số người thuộc giới trí thức trong và ngoài nước, dù chưa chính thức, cũng đã ít nhiều đi đến một nhận định chung: Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!

Tuy nhiên, nhận định này chưa bao giờ được viết ra một cách mạch lạc, có hệ thống, và dường như chỉ mới dừng ở mức trực giác. Vì thế, một bài luận nhằm phân tích rõ ràng về nhận định quan trọng này là cần thiết. 

Tư tưởng thoát khỏi Trung Quốc thực ra không hề mới. Lịch sử nước ta có thể được diễn giải tương đối đầy đủ dưới góc nhìn thoát Trung. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta đều mang trong mình một thông điệp nóng hổi: Thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc! 

Sự kiện dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa và giành lại được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc là một sự kiện hy hữu trên thế giới. Đó là kết quả của một quá trình thoát Trung bền bỉ kiên trì. Sau khi giành được độc lập, quá trình này được tiếp nối không chỉ ở các cuộc kháng chiến vệ quốc, mà còn ở các nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa ở các triều đại sau này. 

Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”.  Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía: Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.

Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội. Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.

Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục. Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó. Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.

Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước. Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa: Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.

Như thế, tổ tiên chúng ta bằng kinh nghiệm và trực giác, thông qua cách chọn tên nước, đã di lệnh cho con cháu: Muốn tồn tại thì phải tiến về phương Nam, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Lịch sử mở nước của chúng ta trong thời cận đại có thể  được hiểu là gì khác hơn việc thực hiện di lệnh của tổ tiên mình?

Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.

Sở dĩ có sự giằng xé này là vì, trong suốt thời phong kiến, do sự hạn chế của phương tiện giao thông, thế giới bên ngoài đối với nước ta dường như chỉ có một mình Trung Quốc. Khi người của ta chưa đủ đông, kinh tế của ta chưa đủ mạnh, văn hóa của ta chưa đủ trưởng thành, thì việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng ngày nay, thời thế đã đổi thay. Một em bé sinh ra ở một vùng quê hẻo lánh cũng có đủ thông tin để biết rằng, thế giới không chỉ có một mình Trung Quốc. Thế giới còn có nhiều nền văn hóa khác, mang nhiều giá trị tiến bộ hơn, đáng học hỏi hơn nền văn hóa Trung Hoa, đến mức bản thân người Trung Quốc cũng phải mau mau thay đổi để học hỏi những điều tiến bộ này. Trên thực tế, những vùng nào của Trung Quốc gỡ bỏ được một phần văn hóa Trung Hoa truyền thống để du nhập các giá trị văn hóa phương Tây như các Hồng Kông, Đài Loan… thì đều phát triển vượt bậc so với những phần còn lại của Trung Quốc lục địa.

Nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thành công và trở thành những con rồng con hổ châu Á mới. Họ không chỉ giữ được độc lập, mà còn tiến nhanh thành một nước phát triển, được thế giới kính nể trọng vọng. 

Hãy lấy trường hợp Nhật Bản làm ví dụ: Bằng cách thực hiện cuộc thoát Á nhập Âu từ nửa sau của thế kỷ 19, Nhật Bản đã tránh được ách nô lệ thực dân và phát triển thành cường quốc chỉ sau một thời gian ngắn. Thoát Á với Nhật Bản thời gian đó là gì, nếu không phải là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa? Vì vậy có thể nói, chìa khóa để Nhật Bản phát triển thành công là thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Vậy thì tại sao chúng ta lại không làm như họ? Tại sao ta lại không vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc để phát triển, khi gương thành công đã bày ra trước mắt cả trăm năm, khi di lệnh của tổ tiên vẫn còn bên tai văng vẳng?

Câu trả lời chỉ có thể là: Tư tưởng chầu về Trung Quốc đã trở thành một quán tính tâm lý, một vô thức xã hội hay một phản xạ có điều kiện. Tư tưởng này đã ăn sâu vào đời sống ở nhiều dạng nhiều mặt nên khó lòng dứt bỏ được. Với người dân thì đó là sự tiếp nhận văn hóa Trung Hoa một cách vô tư hào hứng qua phim ảnh, sách báo… đến mức trẻ em thuộc sử Tàu hơn sử Ta, quen với đồ chơi Tàu hơn đồ chơi Ta. Thương nhân ta thì chỉ chăm chắm nhập hàng Trung Quốc giá rẻ về bán cho dân, dù biết là hàng kém và có nhiều độc hại. Ở mức quốc gia thì đó là sự ràng buộc đến mức vô lý về ý thức hệ vào người Trung Quốc, dẫn đến thua thiệt và bất bình đẳng trong bang giao quốc tế. 

Những việc này đều diễn ra một cách trơn tru tự động, đến mức không mấy ai tự hỏi: Vì sao mọi chuyện lại quá dễ dàng như vậy? Câu trả lời hẳn nhiên là tư tưởng chầu về Trung Quốc đã bén rễ sâu trong tiềm thức của xã hội ta như một chất gây nghiện, tuy độc hại nhưng rất khó từ bỏ. Vì nếu từ bỏ thì sẽ gây ra đau đớn và chống chếnh phần nào. Nhưng từ xưa đến nay, có chất gây nghiện nào có lợi?

Trong hoàn cảnh đó, chỉ còn một cách duy nhất là quán chiếu để nhìn sâu hiểu kỹ tác hại của việc chầu về Trung Quốc, để thấy được mối nguy lâu dài của nó đối với đất nước thì may ra mới có thể dứt bỏ được.

Trước hết là về văn hóa: Có so sánh ra bên ngoài mới thấy, bản sắc văn hóa của ta quá đỗi mong manh. Lý do chính là văn hóa của ta đã bị áp đảo bởi văn hóa Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, nay càng bị áp đảo mạnh hơn bởi tiến bộ của phương tiện truyền thông. Nhiều người khi còn sống thì một chữ tượng hình bẻ đôi không biết, nhưng khi chết thì lại được cúng tế bằng các bài văn khấn chữ Nho. Chuông, khánh trong chùa dù mới đúc, cũng hết thảy được khắc bằng thứ chữ của người Hán dù chẳng ai đọc được. Truyền thanh truyền hình, tuy sống bằng tiền thuế của dân Việt Nam ta, lại ngày đêm truyền bá văn hóa Trung Hoa đến tận hang cùng ngõ hẻm. Thời sự hơn nữa thì phim về tổ tông được quay bên Trung Quốc, Vạn Lý Trường Thành được mang về Đà Lạt... Ôi thôi, biết bao nhiêu mà kể!

Xin hỏi: Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình?

Chính do sự áp đảo của văn hóa Trung Hoa nên những thói hư tật xấu của họ đã tìm được đất sống và tác oai tác quái ở ta. Nạn chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, chính trị thống soái …– những đặc trưng của văn hóa hủ nho Trung Quốc không hề giảm đi trên đất Việt Nam ta mà ngược lại, như rồng gặp nước, múa may phát triển tràn lan, biến hóa gây hại không biết bao nhiêu mà kể. Vì sao vậy? Vì không sáng tạo ra chỉ học đòi bắt chước, nên nhiều người mang lòng kính sợ, nhất nhất tuân theo không dám đổi thay, nên chỉ nhăm nhắm chầu về, nghiêm cẩn như học trò đối với ông thầy.  

Nay những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến , nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người. 

Ta phải tự gỡ bỏ tấm khăn đang bịt mắt ta ra, phải vứt bỏ sợi dây đang trói buộc mình thì bàn tay khối óc mới được giải phóng, hoa thơm trái ngọt của sự sáng tạo mới được thành tựu. Còn như chỉ mê muội sùng kính những thứ người ta đã phải bỏ đi, thì mãi lếch thếch lôi thôi cũng là điều tất yếu!

Thứ hai là về kinh tế: Việt Nam ta đang bị áp đảo trong thương mại đối với người Trung Quốc. Nhập siêu từ họ lên đến 90% so với tổng nhập siêu của cả nước ta. Trong khi đó, xuất khẩu từ ta sang họ chỉ chiếm một phần rất nhỏ, lại chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng nông sản, là những thứ mà giá trị chẳng được bao nhiêu. Vậy có thể nói, về kinh tế, chúng ta đang phụ thuộc vào họ một cách nặng nề. Nền kinh tế của ta đang ở mức chông chênh, có thể sụp đổ khi họ chủ tâm đóng cửa.

Nhưng điều đáng lo hơn cả là những người có thẩm quyền lại không thấy sự bất thường này. Những dự án lớn hầu hết đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tỷ như, 90% các dự án tổng thầu gần đây đã rơi vào tay họ. Chất lượng của những công trình này rất kém, vì một lẽ giản đơn: Trình độ về công nghệ của họ còn thấp, việc tôn trọng môi trường và văn hóa bản địa họ chẳng quan tâm. Hàng hóa xuất phát từ Trung Quốc luôn bị thế giới cảnh báo là độc hại và kém chất lượng. Chính họ đã gây ra nhiều vấn nạn về văn hóa và môi trường trong nước họ. Vậy thử hỏi, vẫn những con người đó sang nước ta thì làm sao có thể làm tốt cho được?

Đáng tiếc thay, tư duy chộp giật, “sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi” của nhiều người có trách nhiệm đã dung túng tình trạng này, gây hại lâu dài cho nền kinh tế. Việc này ta phải trách ta trước hết, vì nếu ta không tiếp tay thì làm sao họ có thể tác oai tác quái. Tiếp tay cho họ hại mình, thời buổi cạnh tranh, hỏi có khác nào mua dây để tự trói chân mình. Mà đã mua dây để tự trói chân mình thì làm sao có thể đi nhanh đi xa cho được?

Chính vì thế, bên cạnh việc vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa về văn hóa, chúng ta cần tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa về kinh tế. Nhà nước cần có chính sách giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc, khuyến khích người trong nước sản xuất kinh doanh. Người Việt phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập so với người Trung Quốc, phải mở được những lối đi riêng, tạo dựng được những mô hình phát triển khác hẳn so với họ. Phải phấn đấu trở thành hội điểm đầu tư và thương mại toàn cầu. Việc này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Nhưng không vì thế mà không gắng sức, vì tương lai dân tộc phụ thuộc phần nhiều vào chính chỗ này.

Thứ ba là về chính trị: Nước ta đang có một sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ đối với người phương Bắc. Họ làm gì thì sớm muộn ta cũng làm theo như bị thôi miên. Rất nhiều khổ đau trong lịch sử của ta đã có nguồn gốc từ việc làm theo như họ.

Dân ta khác, phong hóa của ta khác, đất đai vị thế của ta khác, vậy hà cớ gì ta phải dập khuôn theo? Đành rằng, trước đây ta chỉ biết đến Trung Hoa nên triều chính phải rập khuôn bắt chước, tuy đáng trách những có thể cảm thông. Nhưng nay thế thời đã đổi, thế giới đã mở rộng muôn phương, mà sao ta vẫn nhăm nhắm hướng về phương Bắc? Bao phen cửa nát nhà tan, bị đè đầu cưỡi cổ, mà sao vẫn chưa hết tỉnh hết mê? Lẽ nào, luồng tư tưởng chầu về Trung Quốc, tưởng chừng sẽ nhạt đi khi thế giới được mở rộng ra, lại một lần nữa giở trò mánh khóe kéo chìm ta xuống đáy?

Vì sao vậy? Vì đâu vậy? Vì sự u mê đã đến mức thâm căn cố đế, hay vì đặc quyền đặc lợi của một nhóm người? Di lệnh của tổ tiên và những bài học lịch sử vì sao không còn tác dụng? Dù câu trả lời là thế nào đi chăng nữa thì trên thực tế, sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ này đã gây ra nhiều thua thiệt cho ta trong quốc tế bang giao, làm mất đi nhiều cơ hội làm ăn của ta với thế giới bên ngoài. Người ngã xuống vì biên cương hải đảo ta cũng chẳng dám vinh danh… Hỡi ôi!

Thời thế đã đổi thay. Thế giới ngày nay không chỉ có một mình Trung Quốc. Đoàn thuyền ra khơi phần đông đều đi theo một hướng, vậy lẽ gì ta phải tách nhóm đi riêng với kẻ vẫn bắt nạt mình? Sợi dây trói tay trói chân gỡ ra còn chưa được, vậy cớ gì ta lại mua dây để tròng đầu tròng cổ ta thêm?

Và cuối cùng là chủ quyền bị đe dọa: Khi chân tay ta bị trói, đầu cổ ta cũng chẳng được tự do, mắt ta cũng bị buộc nhìn về một hướng, thì thân thể ta làm sao mà vẹn toàn tự chủ? Sự trỗi dậy của người Trung Quốc tất yếu dẫn đến việc họ mở rộng biên giới quốc gia. Tranh chấp với xung quanh là điều khó tránh khỏi. Điều này họ đã công khai thừa nhận. Biển Đông đã nổi sóng. Giờ việc ta cần làm là hãy nhanh nhanh tự cởi trói cho mình, làm cho ta hùng mạnh thêm lên thì mới có thể giữ được vẹn toàn cương thổ.

Khi lực ta còn yếu thì mắt ta phải nhìn xa trông rộng, phải tìm cách kết thân với những kẻ có thế có quyền, có cùng lợi ích cùng mối lo âu để đồng tâm đối phó. Muốn vậy ta phải thiện chí thành tâm, đặt lợi ích quốc gia lên trên những tính toan nhỏ nhặt. Tình thế đã trở nên nguy ngập. Nước Việt ta đang đứng trước một lựa chọn lịch sử: Thoát Trung để phát triển hay cam tâm làm nô lệ một lần nữa?

Là người Việt, không ai muốn trở thành nô lệ ở bất cứ dạng nào. Điều này có nghĩa, lựa chọn duy nhất là vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người Trung Quốc để phát triển.

Vậy thì, hãy làm một cuộc thoát Trung toàn diện để hội nhập cùng thế giới và kiến tạo một kỷ nguyên phát triển mới!

Hãy tỉnh cơn mê, dứt cơn mộng mị! Hãy từ bỏ chất gây nghiện chầu về Trung Quốc! Hãy cởi bỏ tấm khăn bịt mắt! Hãy vứt sợi dây đang trói tay, trói chân, tròng cổ, tròng đầu!

Hãy trở về với di lệnh của tổ tiên: Thoát Trung hay là chết!
Nguồn: Viet-Studies


-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

GIÁP VĂN DƯƠNG: BIỂN ĐÔNG - BƯỚC NGOẶT TRONG NHẬN THỨC


Biển Đông: Bước ngoặt trong nhận thức

Những diễn biến gần đây cho thấy, đã có bước ngoặt lớn trong nhận thức đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông, cả trong nước lẫn quốc tế.

Ngày 26/5/2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc đã vào sâu trong thềm lục địa của Việt Nam để uy hiếp và cắt cáp của tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 2 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN)[1]. Việc này đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, và đã chính thức được Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nêu ra tại Diễn đàn an ninh Châu Á lần thứ 10([2]). Vì tính chất nghiêm trọng của nó, nhiều nhà quan sát đã đặt tên là "Sự kiện Bình Minh 2" ([3]).

Sự gây hấn của Trung Quốc không dừng lại ở đó: ngày 9/6/2011, tàu Viking 2 do PVN thuê của hãng CGG Veritas, khi đang khảo sát địa chấn tại lô 163-3D hoàn toàn nằm trong vùng thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, không xa mỏ Đại Hùng và cách Vũng Tàu chưa đầy 150 Hải lý, đã bị hai tàu đánh cá và ngư chính của Trung Quốc đến quấy rối và phá thiết bị. Sự kiện này được giới quan sát quốc tế đánh giá là một sự leo thang có chủ ý không thể chối cãi[4].

Với Việt Nam nói riêng và toàn bộ diễn tiến của quá trình tranh chấp Biển Đông nói chung, hai sự kiện Bình Minh 2 và Viking 2 này là những cột mốc quan trọng vì nhiều lý do. Thứ nhất, nó diễn ra rất sâu trong khu vực thềm lục địa trực thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách mũi Đại Lãnh thuộc tỉnh Khánh Hòa của Việt Nam chỉ 120 Hải lý, chứ không thuộc vùng biển có tranh chấp như trong những lần va chạm trước.

Thứ hai, nó nhắm đến hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí, một trong những hoạt động kinh tế trên biển quan trọng nhất của Việt Nam.

Thứ ba, nó diễn ra có chủ ý, có hệ thống (3 tàu hỗ trợ nhau) chứ không phải một tai nạn.

Thứ tư, so với những va chạm trước đó, nó là một sự leo thang rõ rệt, nhất là thời điểm xảy ra ngay sau diễn ra ngay sau chuyến thăm các nước Singapore, Indonesia và Philippines (từ 15/5) của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc và ngay trước thềm Diễn đàn an ninh Châu Á, tổ chức tại Singapore ngày 03-05/2011.

Thứ năm, sự kiện này nguy hiểm ở chỗ: toàn bộ cỗ máy truyền thông của Trung Quốc đã lên tiếng khắp nơi vu cáo Việt Nam là bên gây hấn và Trung Quốc đóng vai nạn nhân trước nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân thế giới. Trong khi Việt Nam hầu như chưa kịp có một kế hoạch đối kháng nào về truyền thông.

Trước sự kiện này, Việt Nam như bừng tỉnh. Sự đe dọa về chủ quyền biển đảo và an toàn của các hoạt động kinh tế biển đã tiến đến sát cửa nhà chứ không còn xa xôi như trước. Ngay lập tức, báo chí và truyền thông vào cuộc, đưa tin và cập nhật liên tục về sự kiện. Nhiều phân tích của giới quan sát và học giả cho rằng, Việt Nam hoàn toàn có thể đưa "Sự kiện Bình Minh 2" này ra Tòa án quốc tế[5].

Chính phủ Việt Nam cũng phản ứng nhanh và quyết liệt hơn. Chỉ một ngày sau khi xảy ra "sự kiện Bình Minh", đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc để trao công hàm yêu cầu Trung Quốc chấm dứt những hành động vi phạm chủ quyền đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời yêu cầu Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại cho tàu Bình Minh 2([6]). Sau đó, như đã đề cập ở trên, sự kiện này lại được Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chính thức nêu ra tại Diễn đàn an ninh Châu Á lần thứ 10, diễn ra một tuần sau đó.

Cộng hưởng với những động thái trên của Chính phủ và truyền thông, người dân, nhất là giới trẻ, ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã tuần hành ôn hòa trước Đại sứ quán và Lãnh sự quán Trung Quốc để bày tỏ sự phản đối vào ngày 5/6/2011([7])và sau đó là ngày 12/6/2011; 19/6/2001 để phản đối sự leo thang của Trung Quốc với sự kiện Viking 2.



Đội tàu bảo vệ Bình Minh 02 sau vụ bị tàu hải giám Trung Quốc được tăng cường thêm 5 chiếc nữa lên 8 chiếc. Ảnh VNE

Trung Quốc đang ráo riết tìm cách hiện thực hóa điều mà họ tuyên bố trước đó: coi Biển Đông là "lợi ích cốt lõi" và đòi hỏi độc chiếm 80% diện tích Biển Đông qua yêu sách "đường lưỡi bò" 9 đoạn vô lý của mình.

Nếu những va chạm hoặc gây hấn trước đây thường xảy ra ở khu vực được Trung Quốc cho là nằm trong vùng tranh chấp, thì nay đã chuyển dịch về phía bờ biển Việt Nam, hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trung Quốc đang tìm cách biến những nơi không tranh chấp thành có tranh chấp để thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông của mình.

Nhân dân Việt Nam bừng tỉnh trước nguy cơ chủ quyền biển đảo bị xâm phạm, lợi ích hợp pháp bị đe dọa, các hoạt động kinh tế biển bị phá hoại. Sự bừng tỉnh này đang lan rộng trong khắp mọi tầng lớp nhân dân. Chưa khi nào, thông tin và sự quan tâm về chủ quyền biển đảo lại được cập nhật nhanh chóng và thảo luận sôi nổi như trong thời gian này.

Về thông tin, người dân và báo chí đã ý thức rõ ràng rằng, dù có chính nghĩa thì trước hết chúng ta cũng vẫn phải lên tiếng để nêu cao chính nghĩa đó và tranh thủ sự ủng hộ của công luận thế giới. Công luận quốc tế sẽ chỉ lên tiếng nếu như công luận trong nước lên tiếng trước.

Về ngoại giao, việc yêu cầu Trung Quốc không chỉ chấm dứt sự khiêu khích, mà còn phải bồi thường thiệt hại do các hoạt động phá hoại và cản trở này đã thể hiện sự kiên quyết về chủ quyền biển đảo, do đó có tác dụng thu hút và đoàn kết toàn dân. Bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam tại Diễn đàn an ninh Châu Á lần thứ 10 cũng là một sự cộng hưởng đầy ý nghĩa.

Về kinh tế, ý thức ủng hộ hàng Việt, sử dụng hàng Việt và chấn hưng kinh tế cũng bùng lên. Vì người dân đã nhận thức rõ, không thể bảo vệ chủ quyền khi kinh tế của mình yếu.

Giới nghiên cứu cũng tích cực thu thập tài liệu, tìm kiếm các bằng chứng lịch sử và chuẩn bị các hồ sơ pháp lý nhằm bảo vệ chủ quyền theo công pháp quốc tế. Hội Luật gia[8] và Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng đã ra "tuyên bố phản đối phản đối Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế"[9]. Một số đoàn thể quan trọng khác cũng đã có những phản ứng tương tự.

Chiến lược giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cũng có những đổi mới đáng khích lệ. Thay vì giải quyết bằng đàm phán song phương như Trung Quốc đề nghị, chiến lược đàm phán đa phương trên cơ sở công pháp quốc tế đã được đề cập ngày càng rõ ràng. Ý thức đoàn kết các quốc gia có lợi ích chung ở Biển Đông đã được khởi động bằng những hành động cụ thể: 7 nước ASEAN đã "cùng kệu gọi việc tìm ra giải pháp hòa bình và sử dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 để giải quyết tranh chấp tại Biển Đông"[10] trong Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS (13-17/6/2011, New York) cũng như tuyên bố chung Việt - Mỹ trong Đối thoại về chính trị - an ninh - quốc phòng Việt-Mỹ lần thứ tư (17/6/2011, Washington) nhấn mạnh "mọi tranh chấp về lãnh thổ ở Biển Đông phải được giải quyết thông qua con đường ngoại giao và hợp tác, không gây sức ép hay sử dụng vũ lực"[11].

Nhưng hơn hết là tinh thần đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong vào người nước của người Việt, bước đầu gạt qua những bất đồng tưởng chừng đã hằn sâu trong tâm thức, để cùng cất lên tiếng nói chung bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Nhiều vấn đề được cho là nhạy cảm nay đã bắt đầu được xới lên: tất cả đều hướng đến một mục tiêu duy nhất: bảo vệ chủ quyền biển đảo. Chẳng hạn, trong bài trả lời phỏng vấn báo VietnamNet ngày 16/6/2011, Giáo sư Hồ Trọng Ngũ, Ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng An ninh Quốc hội, cho rằng[12]: "Lâu nay, để giữ hòa hiếu với Trung Quốc nên ta đã chấp nhận là một người "đồng chí". Nhưng xin nhắc lại là một Trung Quốc có hai chế độ thì họ không có nhu cầu quan tâm đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Mục đích của họ là lợi dụng luận điểm rằng cả Việt Nam và Trung Quốc đều có Đảng cộng sản để dễ bề qua mắt người dân Việt Nam rằng ta là đồng chí của họ. Trong khi đó, họ lại gặm nhấm từng mẩu đất. Đây là luận điệu rất nguy hiểm mà nếu nhân dân không hiểu được hết để giải thích thì bạn bè quốc tế cũng có thể hiểu sai."

Không chỉ dừng lại ở sự chuyển biến nhận thức ở trong nước, quốc tế cũng có bước ngoặt lớn trong nhận thức về tranh chấp Biển Đông.

Trước sự xâm phạm của Trung Quốc, Philippines đã nhiều lần lên án mạnh mẽ và hiện đang chuẩn bị hồ sơ pháp lý để kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế[13].

Nước Mỹ cũng đã có những thay đổi quan trọng trong nhận thức về Biển Đông qua việc tuyên bố Mỹ có "quyền lợi quốc gia quan trọng" ở khu vực này của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Diễn đàn khu vực ASEAN ở Hà Nội tháng 7 năm 2010([14]). Và gần đây nhất, ngày 13/6/2011, hai thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb và James Inhofe, thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, đã đệ trình một nghị quyết lưỡng đảng mang tiêu đề: "Kêu gọi một giải pháp đa phương, hòa bình cho những tranh chấp lãnh hải ở Đông Nam Á", nhằm "yêu cầu Trung Quốc ngưng các hành động quân sự và trở lại bàn đàm phán đa phương để giải quyết các vấn đề chủ quyền. Mục đích của chúng ta trong tương lai ở khu vực là thúc đẩy giao ước đa phương".[15]

Tất cả những điều đó cho thấy, với Việt Nam, sức mạnh tổng hợp từ mọi giới, mọi ngành, mọi nơi, mọi người, mọi nguồn đã bắt đầu được huy động. Sự đồng thuận lớn đang có cơ hội hình thành và phát huy tác dụng.

Nhận thức về cách thức bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam đã có bước ngoặt lớn và từng bước cộng hưởng với những chuyển biến quan trọng trên trường quốc tế về tranh chấp Biển Đông chống lại sự gây hấn của Trung Quốc.

Sức mạnh dân tộc đã bắt đầu kết hợp cùng sức mạnh thời đại. Giải pháp cho tranh chấp Biển Đông đã bắt đầu bước sang một chương mới. Nhưng chương mới này được viết như thế nào, sự cộng hưởng trong nước và quốc tế có được duy trì và khuếch đại hay tắt dần theo thời gian, trước hết phụ thuộc vào hành động của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt quan trọng là ở những người đang trực tiếp lãnh đạo đất nước.



Tác giả cảm ơn Phạm Thu Xuân, Lê Vĩnh Trương, Nguyễn Quang A đã đọc và góp ý cho bản thảo.
Ghi chú:
[1] Thông tấn xã Việt Nam, ngày 27/5/2011.
[2] Phát biểu của Bộ trưởng Phùng Quang Thanh tại Diễn đàn an ninh châu Á 10.
[3] Tuần Việt Nam, ngày 30/5/2011.
[4] Thayer Consultancy, ABN # 65 648 097 123
[5] Báo Tuổi trẻ, ngày 17/6/2011.
[6] VietNamNet, ngày 27/5/2011.
[7] Thông tấn xã Việt Nam, ngày 5/6/2011.
[8] Thông tấn xã Việt Nam, ngày 5/6/2011.
[9] Thông tấn xã Việt Nam, ngày 12/6/2011.
[10] Vnexpress.net, ngày 19/6/2011.
[11] Giaoduc.net.vn, ngày 18/6/2011.
[12] VietNamNet, ngày 16/6/2011.
[13] BBC Vietnamese, ngày 3/6/2011.
[14] Báo Tuổi trẻ,ngày 23/7/1010.
[15]Báo Tuổi Trẻ, ngày 15/6/2011.

Nguồn: Tuần Việt Nam (VNN) và Giáp Văn -Blog.
-->đọc tiếp...