Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hán Nôm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hán Nôm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

TIN BUỒN: NHÀ GIÁO LÊ ANH TUẤN TỪ TRẦN

.
.
.

TIN BUỒN
Chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin
Nhà giáo LÊ ANH TUẤN
Sinh năm : 1948.
Quê quán: thôn Tây Mỗ, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, 
tỉnh Thanh Hóa.

Giảng viên Hán Nôm, nguyên Phó chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, 
ĐH Tổng hợp HN (nay là ĐH KHXH và NV HN). Đã nghỉ hưu.
 
Đã từ trần tại quê nhà vào hồi 15h30, ngày 2/12/2013 
(30/10 Quý Tỵ), hưởng thọ 66 tuổi.

Lễ viếng bắt đầu vào hồi 21h00, ngày 2/12/2013.
Lễ truy điệu được tổ chức vào hồi 8h05, ngày 4/12/2013 
(mùng 2/11 Quý Tỵ).

An táng tại Nghĩa trang quê nhà.

Chúng con xin dâng lời cầu nguyện linh hồn Thầy Lê Anh Tuấn thanh thản về cõi vĩnh hằng. Và thành kính chia buồn cùng Anh Lê Văn Cường cùng toàn thể tang quyến.

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM CHƯA HỒI ÂM THƯ CỦA TÔI

09h00 sáng 15.10.2013, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tới trụ sở Bộ Ngoại giao Việt Nam, số 1 Tôn Thất Đàm, Ba Đình, Hà Nội để chuyển tới Ông Phạm Bình Minh (ảnh), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao văn thư đề nghị Bộ Ngoại giao sớm ra lệnh thu hồi toàn bộ số sách đã phát hành (biếu tặng), không cho lưu hành và lưu trữ cuốn sách "Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" vì những sai sót nghiêm trọng về kiến thức của cuốn sách

Sách in bằng 4 thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Hoa) và bản gốc chữ Hán Nôm. Sách được in tại Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, phát hành quý II năm 2013. 

Chủ trì biên soạn là Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam.Ban biên tập có ba người: Lê Quý Quýnh, Đinh Ngọc Linh và Phạm Văn Thắm.
Ông Trần Đình Dũng, cán bộ của văn phòng Bộ đã tiếp nhận văn thư và ký vào giấy biên nhận.
____________________
Hà Nội, Ngày 15  tháng 10 năm 2013
Kính gửi: ÔNG PHẠM BÌNH MINH
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa XHCN Việt Nam;

Thưa Ông,

Tôi là Nguyễn Xuân Diện, công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) xin gửi đến Ông lời chào trân trọng, và muốn gửi tới Ông một đề nghị sau:

Vừa qua, Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa xuất bản cuốn sách "Tuyển tập các châu bản triềuNguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa".

Sách in bằng 4 thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Hoa) và bản gốc chữ Hán Nôm. Sách được in tại Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, phát hành quý II năm 2013. 

Chủ trì biên soạn là Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. 

Ban biên tập có ba người: Lê Quý Quýnh, Đinh Ngọc Linh và Phạm Văn Thắm.

Một cuốn sách quan trọng, có liên quan đến các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vậy mà ngay trang thứ hai của bài Lời Giới thiệu (của Ban biên tập) đã ghi thế này:

"Vua Gia Long tạ thế năm 1819, cháu nộilà Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi năm 1820, lấy hiệu là Minh Mệnh".

Thật không thể tưởng tượng được! Một cuốn sách viết về Triều Nguyễn mà lại sai đến như thế! Vì ai cũng biết Vua Gia Long là VUA CHA của Vua Minh Mệnh.
Mặc dù trang cuối của cuốn sách đã có bản đính chính cho sai sót tầy trời trên, nhưng chỉ đính chính cho phần tiếng Việt là không thể chấp nhận được!
Nghiêm trọng hơn, cuốn sách "Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". Nhưng những người làm sách không hiểu thế nào là Châu bản, nên đã đưa một văn bản không phải là Châu bản vào cuốn sách này. Đó là văn bản tờ lệnh Lý Sơn, tuyệt nhiên không phải là Châu bản vì nó là văn bản không có châu phê (lời phê bằng mực son - màu đỏ của nhà vua).
Sách in 2000 bản, ghi rõ ở bìa 4 là SÁCH KHÔNG BÁN. Như vậy sách này do nhà nước bỏ tiền để biên soạn và in ấn, và chủ yếu để biếu tặng trong các hoạt động đối ngoại.
 
Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao đã sử dụng tiền thuế của nhân dân để lo một việc trọng đại của quốc gia, vậy mà những người thừa hành lại để xảy ra những lỗi về kiến thức tồi tệ đến không thể chấp nhận được. 

Tôi đề nghị Bộ Ngoại giao sớm ra lệnh thu hồi toàn bộ số sách đã phát hành (biếu tặng), không cho lưu hành và lưu trữ cuốn sách này.

Trường hợp nếu vẫn muốn lưu hành trở lại thì phải hủy bỏ các trang có sai sót trên và thay bằng trang giấy cùng loại và đã được sửa lỗi. Đặc biệt, phải loại văn bản tờ lệnh Lý Sơn ra khỏi cuốn sách thì mới đảm bảo khoa học.

Thưa Ông,

Như Ông đã biết, các hãng xe hơi Toyota, Nisan...chỉ một lỗi nhỏ họ còn thu hồi hàng triệu xe đã bán để xử lý, huống hồ đây lại là tài liệu về lịch sử, về biên giới lãnh thổ, về quốc gia và danh dự dân tộc nên càng không thể cho qua việc này.

Trân trọng,
Nguyễn Xuân Diện
.


Đăng lúc 09h44, ngày 15 tháng 10 năm 2013


Vậy là sau đúng nửa tháng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh không hồi âm thư của tôi - Nguyễn Xuân Diện

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO ĐÃ TRẢ LỜI THƯ CỦA TÔI NHƯ THẾ NÀO?


Như chư vị đã biết, 09h00 sáng 15.10.2013, TS. Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tới trụ sở Bộ Ngoại giao Việt Nam, số 1 Tôn Thất Đàm, Ba Đình, Hà Nội để chuyển tới Ông Phạm Bình Minh (ảnh), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao văn thư đề nghị Bộ Ngoại giao sớm ra lệnh thu hồi toàn bộ số sách đã phát hành (biếu tặng), không cho lưu hành và lưu trữ cuốn sách "Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" vì những sai sót nghiêm trọng về kiến thức của cuốn sách. (Xem toàn văn bức thư tại đây).

Sách in bằng 4 thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Hoa) và bản gốc chữ Hán Nôm. Sách được in tại Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, phát hành quý II năm 2013.

Chủ trì biên soạn là Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam.Ban biên tập có ba người: Lê Quý Quýnh, Đinh Ngọc Linh và Phạm Văn Thắm.

Ông Trần Đình Dũng, cán bộ của văn phòng Bộ đã tiếp nhận văn thư và ký vào giấy biên nhận.
______________

Ngày 6 tháng 11 năm 2013, TS. Diện đã nhận được một văn thư như sau:
(Dấu bưu điện là ngày 05.11.2013. Thời gian ghi trong thư là 30.10.2013) 

  
Và đây, phong bì của Bộ Ngoại giao:

Kính gửi: TS. Nguyễn Xuân Diện
Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số 183 - Đặng Tiến

Đông, Hà Nội
 

Kính đề nghị chư vị độc giả xa gần cùng bình luận về cách trả lời của Bộ trưởng Phạm Bình Minh và văn thư trả lời của Ông Trần Duy Hải - có thể chính là Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. (trong văn thư ông Hải không ghi chức danh).

Riêng tôi thấy, nếu không có cái phong bì thì tưởng như tờ giấy lộn! 
Mà biết đâu đấy, có chú nào nhặt được cái phong bì của Bộ chưa dùng rồi viết cái thư này trêu tôi chăng?

Nguyễn  Xuân Diện
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

RFA PHỎNG VẤN NGUYỄN XUÂN DIỆN VỀ CUỐN SÁCH CỦA BỘ NGOẠI GIAO

Sai lầm của cuốn sách từ Bộ Ngoại giao

Mặc Lâm - RFA thực hiện

TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện vừa gửi một thư yêu cầu Bộ Ngoại Giao Việt Nam ngưng phát hành cuốn sách mang tên “Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” vì những sai sót nghiêm trọng của nội dung cuốn sách có thể phản lại những cố gắng mà Bộ Ngoại Giao mong đạt tới. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn TS Nguyễn Xuân Diện về vấn đề này. 

Mặc Lâm: Mới đây chính TS đã đích thân đến Bộ Ngoại Giao để chuyển thư yêu cầu ngưng phát hành cuốn sách mà Bộ này đã phát hành. Xin TS cho biết nội dung phản đối này là gì?

TS Nguyễn Xuân Diện: Sáng hôm nay tôi có đến trụ sở của Bộ Ngoại giao Việt Nam ở số 1 Tôn Thất Đàm , Ba Đình. Mục đích của chúng tôi là chuyển đến ông Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao văn thư đề nghị thu hồi toàn bộ số sách đã phát hành và không cho lưu hành cũng như lưu trữ cuốn “Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” vì những sai sót nghiêm trọng của cuốn sách về mặt kiến thức.

Như mọi người đã biết, cuốn sách này in bằng 4 thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Hoa và bản gốc chữ Hán Nôm nữa. Sách được in 2.000 bản tại nhà xuất bản Tri Thức, phát hành quí II năm 2013 và ghi rõ là sách không bán. Cuốn sách này do Ủy ban Biên giới Quốc gia chủ trì biên soạn mà  người đứng ra chủ trì là ông Trần Duy Hải, phó chủ nhiệm của Ủy ban này. Đây là cuốn sách quan trọng liên quan đến các văn bản Châu bản về thực thi quyền chủ quyền của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà những người làm cuốn sách này không hiểu thế nào là Châu bản, họ đã đưa một văn bản không phải là Châu bản vào trong cuốn sách này. Đó là tờ lệnh Lý Sơn, một văn bản không phải là Châu bản.

Mặc Lâm: Xin TS vui lòng giải nghĩa Châu bản là gì để quý thính giả tiện theo dõi.

TS Nguyễn Xuân Diện: Châu bản là những văn bản mà trên đó phải có châu phê, tức là những lời phê của nhà vua, mà những lời phê này phải là những lời phê bằng mực son (mực đỏ)[châu = chu = son đỏ; phê = lời phê]. Chúng ta cũng biết là trên các văn bản, tấu biểu ngày xưa đều được viết bằng bút lông với màu mực đen trên giấy bản; Các tờ tấu, biểu của các nơi gởi về thì nhà vua sẽ phê duyệt vào các bản tấu và lời phê của nhà vua bao giờ cũng ngắn gọn và bao giờ cũng viết bằng mực son. Những bản đó chỉ là độc bản có nghĩa là chỉ có một bản duy nhất, không có thêm một bản thứ hai nào nữa.
Trong cuốn sách có đưa vào văn bản tờ lệnh Lý Sơn đã được phát hiện ở Lý Sơn năm 2009 và tôi cũng đã có bản dịch cùng bản khảo cứu công bố rộng rãi trên báo chí, nhưng văn bản đấy không phải là Châu bản. - TS Nguyễn Xuân Diện
Giá trị của những bản này vô cùng quí báu vì đây là văn bản thể hiện quan điểm, ý kiến hoặc là ý chí chính thức từ triều đình, từ các cấp nhà nước đối với các vấn đề được nêu lên trong các bản tấu chương đó.

Mặc Lâm: Như vậy thì Châu bản mà cuốn sách xác định đã không đúng với tinh thần mà TS vừa nói có nghĩa là nó bị gán ghép hai chữ Châu bản vào nội dung tờ lệnh Lý Sơn?
.
 Một trang Châu bản, trên có châu phê của Vua Thiệu Trị

Ngay cả lời phê bằng chữ Quốc ngữ của Vua Bảo Đại cũng màu đỏ (châu phê)

TS Nguyễn Xuân Diện: Trong cuốn sách có đưa vào văn bản tờ lệnh Lý Sơn đã được phát hiện ở Lý Sơn năm 2009 và tôi cũng đã có bản dịch cùng bản khảo cứu công bố rộng rãi trên báo chí, nhưng văn bản đấy không phải là Châu bản. Vậy mà vẫn được đưa vào trong cuốn sách này, không biết vì sao.

Mặc Lâm: Còn những cái sai khác về triều Nguyễn mà cuốn sách đã viết ra TS thấy có nghiêm trọng lắm hay không?

TS Nguyễn Xuân Diện: Có một điều vô cùng nghiêm trọng ở ngay trang thứ hai trong lời giới thiệu của ban biên tập: “Vua Gia Long tạ thế năm 1819, cháu nội là Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi năm 1820 lấy hiệu là Minh Mạng”. 

Ở đây có 3 cái sai:

Cái sai thứ nhất là Vua Gia Long không tạ thế năm 1819 mà là 1820; 1819 là năm dương lịch, mà ở bên đây phải là năm âm lịch [Sử chép Gia Long mất ngày ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (tức ngày 3 tháng 2 năm 1820) hưởng thọ 59 tuổi, ở ngôi 18 năm, Chứ không phải mất năm 1819 tháng Chạp lịch âm thì vẫn là kỷ mão, nhưng Tây lịch đã là tháng 2 rồi]

Cái sai nữa cũng rất nghiêm trọng đó là ai cũng biết vua Minh Mạng là con của Vua Gia Long thế mà ở đây là Vua Minh Mạng được viết là cháu nội của Vua Gia Long. 

Cái sai thứ ba là “lấy hiệu là Minh Mệnh” mà đúng ra thì phải là lấy “niên hiệu là Minh Mệnh” vì hiệu là tên hiệu, ai cũng có thể có tên hiệu, còn niên hiệu thì chỉ có nhà vua mới có niên hiệu vì đó là niên hiệu cho triều đại trong thời gian trị vì của mình. 

Đây là một sai lầm không thể tưởng tượng được và không thể đổ cho lỗi đánh máy được. 

Hình thức  

Mặc Lâm: Đó là nội dung còn hình thức có gì đáng nói không thưa TS? 

TS Nguyễn Xuân Diện: Ngay cả tờ bìa của cuốn sách này thì phần tiếng Anh bị dịch sai, phần tiếng Trung quốc thì đã bỏ sót 2 chữ “triều Nguyễn”. Như vậy người ta chỉ biết đây là những Châu bản chứ không biết Châu bản của triều nào. Bên cạnh đó là đầy dẫy những lỗi cơ bản về dịch thuật, về văn phạm cũng như là các lỗi về in ấn nữa. Vì vậy chúng tôi thấy rằng cuốn sách này không nên để cho lưu hành.

Cuốn sách được in bằng 4 thứ tiếng, ghi là sách không bán và đây là sách do nhà nước bỏ tiền để biên soạn, in ấn và chủ yếu là để biếu tặng trong các hoạt động đối ngoại, các sứ quán hoặc các đoàn ngoại giao. Những lỗi như thế này là không thể chấp nhận được nhất là chúng ta đang đấu tranh chủ quyền và đặc biệt là về vấn đề này với nhà cầm quyền Trung quốc.

Trong khi đó nhà cầm quyền Trung quốc sử dụng những chuyên gia và những học giả lão luyện về công tác văn bản học với một truyền thống rất lâu đời mà nếu chúng ta hớ hênh như thế này thì khi mình đưa ra thì họ sẽ cười chê vào trình độ học thuật của những nhà khảo cứu người Việt Nam với những vấn đề như thế này.
Bên cạnh đó là đầy dẫy những lỗi cơ bản về dịch thuật, về văn phạm cũng như là các lỗi về in ấn nữa. Vì vậy chúng tôi tin rằng cuốn sách này không nên để cho lưu hành. - TS Nguyễn Xuân Diện
Mặc Lâm: Xin được quay lại với những Châu bản triều Nguyễn, theo TS thì sự quan trọng của Châu bản ảnh hưởng thế nào đến tài liệu lịch sử để có thể lấy chúng để chứng minh chủ quyền của Việt Nam?

TS Nguyễn Xuân Diện: Những Châu bản liên quan đến việc Việt Nam đưa ra để thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rất quan trọng. Thứ nhất nó là độc bản, đó là bản duy nhất không có bản thứ hai. Thứ hai nó là những bản có lời phê của nhà vua, là người đứng đầu nhà nước phong kiến ngày xưa và họ chịu trách nhiệm toàn bộ về những vấn đề đó, những lời phê đó trước lịch sử, toàn thể đất nước cũng như toàn thể quốc gia. Châu bản, bên cạnh những giá trị nghiên cứu quí giá như vậy nó còn thể hiện ý chí của nhà vua cũng như về mặt thư pháp, tức là về mặt văn hóa còn thể hiện được di bút của nhà vua mà chúng ta chỉ có thể nhìn thấy trên Châu bản mà thôi.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

Nguồn: RFA.
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

ỐI GIỜI ƠI! THẾ NÀY MÀ CŨNG VÁC MẶT ĐI ĐẤU TRANH ĐÒI CHỦ QUYỀN ĐÂY

Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao vừa xuất bản cuốn sách "Tuyển tập các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Sách in bằng 4 thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Hoa) và bản gốc chữ Hán Nôm. Sách được in 2000 bản và in tại Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, phát hành quý II năm 2013. 



Chủ trì biên soạn là Ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. 

Ban biên tập có ba người: Lê Quý Quýnh, Đinh Ngọc Linh và Phạm Văn Thắm.

Ông Phạm Văn Thắm là Tiến sĩ Hán Nôm, đã từng công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (mời chư vị xem lại bài viết về ông Thắm, tại đây).

Một cuốn sách quan trọng, có liên quan đến các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vậy mà ngay trang thứ hai của bài Lời Giới thiệu của Ban Biên tập đã sai đến mức nhục nhã như thế này:

"Vua Gia Long tạ thế năm 1819, cháu nội là Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi năm 1820, lấy hiệu là Minh Mệnh".

Thật không thể tưởng tượng được! Một cuốn sách viết về Triều Nguyễn mà lại sai đến như thế này! Vì ai cũng biết Vua Gia Long là VUA CHA của Vua Minh Mệnh (Minh Mạng). 

Đó là chưa kể dùng từ "lấy hiệu là Minh Mệnh" là chưa chính xác. Đúng ra phải là "lấy niên hiệu là Minh Mệnh" vì tên hiệu khác với niên hiệu

Nghiêm trọng hơn, cuốn sách "Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". Nhưng những người làm sách không hiểu thế nào là Châu bản, nên đã đưa một văn bản không phải là Châu bản vào cuốn sách này. 

Văn bản Tờ lệnh Lý Sơn, tuyệt nhiên không phải là Châu bản vì nó không có Châu phê (lời phê bằng mực son - màu đỏ của nhà vua). Xin xem các bài về văn bản này:

Ông Phạm Văn Thắm đã đưa nó vào cuốn sách, và đây là bản dịch của ông:

Quá ngu dốt!
Thế này mà cũng đòi vác mặt  đi đấu tranh chủ quyền à? 


Dưới đây là bản Tiếng Anh: Cũng ghi Vua Minh Mệnh là Cháu nội của Vua Gia Long.


Rồi bản Tiếng Pháp: Cũng ghi Vua Minh Mệnh là Cháu nội của Vua Gia Long.


và cả bản Tiếng Trung Quốc: Cũng ghi Vua Minh Mệnh là Cháu nội của Vua Gia Long.


Hú vía, có một mảnh giấy bằng cái lá tre (tương đương hai ngón tay) dính vào trang cuối của cuốn sách để đính chính cho sai sót tầy trời trên. 

Đính chínhcũng sai luôn.
"Cháu nội" = "Con là" thì sẽ đọc thành:
"Vua Gia Long tạ thế năm 1819, con là là Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi năm 1820, lấy hiệu là Minh Mệnh".  

Thừa một chữ "là".
 
Nhưng mà, hỡi ôi! chỉ đính chính cho phần tiếng Việt mà thôi!
Sách in bằng 4 thứ tiếng, tức là in cho Tây cho Tàu nó đọc mà làm như thế này, thì quá nhục!


Sách in 2000 bản, ghi rõ ở bìa 4 là SÁCH KHÔNG BÁN. Như vậy sách này do nhà nước bỏ tiền để biên soạn và in ấn, và chủ yếu để biếu tặng trong các hoạt động đối ngoại.
 
Sáng nay, ngày 7 tháng 10 năm 2013 tôi đã sang tận 53 Nguyễn Du để gặp ông Chu Hảo - GĐ Nhà xuất bản Tri thức là nơi in cuốn sách này để hỏi xem vì đâu nên nỗi.

Giáo sư Chu Hảo cho biết rằng: Từ trước đến nay, cứ những cuốn sách về chủ quyền quốc gia là đều phải chuyển sang Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao để thẩm định mới được phép in. Cuốn sách "Tuyển tập các châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" do Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao tổ chức biên soạn, nên bản thảo đưa sang, nhà xuất bản phải tuyệt đối tôn trọng bản thảo và in đúng như bản thảo. 

Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao đã sử dụng tiền thuế của nhân dân để lo một việc trọng đại của quốc gia, vậy mà những người thừa hành lại dốt nát và làm ăn tắc trách như thế này, quả là không chấp nhận được. 

Tôi đề nghị Bộ Ngoại giao sớm ra lệnh thu hồi toàn bộ số sách đã phát hành (biếu tặng), không cho lưu hành và lưu trữ cuốn sách đáng xấu hổ này. Tiếp theo, nếu vẫn muốn lưu hành trở lại thì phải hủy bỏ các trang có sai sót trên và thay bằng trang giấy cùng loại và đã được sửa lỗi. Đặc biệt, phải loại văn bản tờ lệnh Lý Sơn ra khỏi cuốn sách thì mới đảm bảo khoa học.

"Các hãng xe hơi Toyota, Nisan...chỉ một lỗi nhỏ họ còn thu hồi hàng triệu xe đã bán để xử lý, huống hồ đây lại là tài liệu về lịch sử, về biên giới lãnh thổ, về quốc gia và danh dự dân tộc mà lại kẹp "đính chính" bẩn đến như vậy"(Độc giả Người Hà Nội).

Hà Nội, ngày 7.10. 2013
  Nguyễn Xuân Diện

-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

KINH DƯƠNG VƯƠNG - "ÔNG NỘI CỦA VUA HÙNG" LÀ SẢN PHẨM VĂN HÓA TÀU

Kinh Dương Vương- ông là ai?
TS. Trần Trọng Dương

Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, được biết tỉnh Bắc Ninh đã triển khai một dự án khôi phục và tăng quy mô xây dựng khu di tích thờ "Thủy tổ Kinh Dương Vương - ông nội của Vua Hùng", với vốn đầu tư 500 tỷ đồng. Thật là hãi hùng về con số chi phí khổng lồ này, trong khi tình hình kinh  tế đang hồi bấn loạn, ngân khố cạn kiệt, nhân tâm đang xáo động. 

"Ông nội của Vua Hùng" - chính điều này đã thôi thúc một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước lại cất công truy tìm nguồn gốc của Kinh Dương Vương. Và thật bàng hoàng: Kinh Dương Vương phải chăng chỉ là một sự cóp nhặt của Ngô Sĩ Liên từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ Trung Hoa? Phải chăng, chúng ta đã và đang, và còn mãi về sau thờ một ông vua giả có nguồn gốc của Tàu? - Lâm Khang.
Như trong bài viết trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng Đại Việt sử ký toàn thư- bộ sử quan trọng nhất của Việt Nam đề cập đến những sự kiện từ khởi thủy cho đến thế kỷ XVII- là một tư liệu được biên soạn trên tư duy đa nguyên "văn- sử- triết" của thời Trung Đại. Trong đó, bộ sử này đã sưu tập nhiều huyền thoại dân gian của đời sau để bù đắp cho những khuyết thiếu của sử liệu. Trong bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa ra những cứ liệu để làm rõ hơn vấn đề tai hại trên. Đối tượng được đề cập đến ở đây chính là Kinh Dương Vương- một nhân vật được coi là thủy tổ của Việt Nam- phải chăng chỉ là một ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc? 

 Cổng đền thờ Kinh Dương Vương có bốn chữ Hán đắp nổi THỦY TỔ ĐÀI MÔN, 
ảnh: Thọ Bình, Bá Kiên, theo tienphong.vn 

Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương 

Theo như cách trình bày ở Kỷ Hồng Bàng thịtrong Toàn thư, Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông, vị vua khai sáng ra nước Xích Quỷ (quỷ đỏ). Vì thế Kinh Dương Vương này được Ngô Sĩ Liên coi như là là vị thủy tổ đầu tiên của người Việt và nước Việt. Chẳng những thế, Kinh Dương Vương còn lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long để sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau lấy Âu Cơ- con gái của Đế Lai, sinh ra trăm con trai, 50 con lên rừng, 50 con xuống bể. Vị con trưởng được nối ngôi cha, phong là Hùng Vương. Sử gia Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV đã bình luận đoạn này như sau: "Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?"[1]. Kể từ sau Ngô Sĩ Liên, phần lớn các bộ lịch sử Việt Nam đều công nhận Kinh Dương vương là thủy tổ của nước Việt. Ví dụ như sách Thiên Nam minh giám (thế kỷ XVII) mở đầu như sau:
.
"1-   Tượng mảng xưa sách trời đã định,
Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
Tày nhường phải đạo mở mang phải thì.

5-   Tới Lạc Long  nối vì cửu ngũ,
Thói nhưng nhưng  no đủ đều vui,
Âu Cơ  gặp gỡ kết đôi,
Trổ sinh một bọc trăm trai khác thường.
Xưng Hùng Vương cha truyền con nối,

10-  Mười tám đời một mối xa thư,
Cành vàng lá ngọc xởn xơ,
Nước xưng một hiệu năm dư hai nghìn."[2]

Đến thế kỷ XVII, Kinh Dương Vương đã chính thức được văn hóa dân gian đưa vào thờ làm vị thủy tổ trong đền ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh (ngày nay). Năm 1840, đền cho dựng bia đá "Kinh Dương Vương lăng". Năm 1940, đời vua Bảo Đại, đền làm thêm hai đại tự "Nam Tổ miếu" và "Thần truyền thánh kế". Năm 2000, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã về thăm đền và để lại bút tích gợi ý tỉnh Bắc Ninh có đề xuất lên trung ương nâng cấp cơ sở thờ tự của tổ tiên. Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đã đến thăm đền và để lại những lời kỷ niệm sâu sắc về cội nguồn dân tộc[3]. Năm 2012, các tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm đã xuất bản cuốn sách “Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương” - Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc. Sách tập hợp các tư liệu từ “Đại Việt Sử ký toàn thư”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Thủy Kinh chú”… từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả, nhà sử học. Ngày 25 tháng 2 năm 2013, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức lễ hội kỷ niệm 4892 năm Đức thủy tổ khai sinh mở nước. Đến dự lễ khai hội có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và lãnh đạo một số Bộ, ngành.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cùng các đại biểu dâng hương tưởng niệm Đức Thủy tổ Kinh Dương Vương. Ảnh: dangcongsan.vn -

Sau lễ dâng hương, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã dự lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương. Theo quy hoạch đã được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, dự án có tổng diện tích gần 40ha, gồm không gian bảo tồn di tích, không gian phát huy giá trị di tích, không gian quản lý và dịch vụ phụ trợ, với nguồn vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng[4]. Như vậy, sau nhiều trăm năm tồn tại, tín ngưỡng thờ Kinh Dương Vương đến nay đã chính thức được sự đồng thuận của nhà nước. 

Kinh Dương Vương- từ nhân vật của truyện truyền kỳ Trung Hoa 

Tuy nhiên, như ngay ở đầu bài viết, chúng tôi có ý nghi vấn rằng, Kinh Dương Vương chưa chắc đã là một nhân vật lịch sử có thật, mà có thể đó chỉ là một sự nhầm lẫn của Ngô Sĩ Liên khi ông đã sưu tầm một câu chuyện văn học để mở đầu cho một công trình sử học của nước nhà. Chứng cớ nào đề chúng tôi có thể đi đến nghi ngờ như vậy?

Chứng cứ nằm ngay trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi”[5]. Nhưng chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái (một tác phẩm văn học sưu tầm những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam) của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?)[6], rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang[7].

Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu sau này. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc có chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường[8]. Truyện có thể tóm tắt như sau: Liễu Nghị là một nho sinh thi trượt, trên đường gặp một thiếu phụ chăn dê xinh đẹp nhưng dáng vẻ tiều tụy. Người phụ nữ ấy nói rằng mình là con gái của Long Vương ở hồ Động Đình, vốn lấy con trai thứ của Kinh Xuyên, nhưng bị bạc đãi, bắt đi chăn dê, nên muốn nhờ Liễu Nghị chuyển thư đến cho cha để báo tình cảnh của mình. Liễu Nghị đem thư xuống Long cung. Em trai Long Vương là Tiền Đường giận quá nên giết con trai của Kinh Xuyên, cứu cháu về, rồi định gả cho Liễu Nghị. Nghị từ chối, xin về, được Long vương ban cho nhiều vàng bạc châu báu. Sau Liễu Nghị lấy vợ, lần nào lấy xong vợ cũng chết. Con gái Long Vương thấy vậy bèn nhớ lại duyên cũ, muốn báo đáp bèn hóa làm người con gái xinh đẹp mà lấy Liễu Nghị làm chồng. Sau hai vợ chồng đều thành tiên[9]. 

Liễu Nghị truyện” được coi là một truyện truyền kỳ sớm nhất của Trung Quốc. Từ cuối đời Đường, truyện được lưu hành rộng rãi trong dân gian. Đến thời Tống trở đi, truyện Liễu Nghị được Thượng Trọng Hiền chuyển thể sang kịch bản tạp kịch với tên “Động Đình hồ Liễu Nghị truyền thư[10]. Liễu Nghị đã trở thành một tích truyện rất được ưa thích trong văn hóa diễn xướng của người Trung Quốc. Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng đã ra đời, như nhà Tống có Liễu Nghị đại thánh nhạc, nhà Kim có Liễu Nghị truyền thư của Gia Cùng Điệu, triều Nguyên có Liễu Nghị Động Đình long nữ (Nam hí), thời Minh Thanh có Quất bồ ký của Hứa Tự Xương, Long tiêu ký của Hoàng Thuyết, Long cao ký của Dương Ban, Thẩn trung lâu của Lý Ngư, Thừa long giai thoại của Hà Phủ[11].

Cho đến nay, Liễu Nghị truyền thư (còn có tên Thủy tinh cung, Liễu Nghị kỳ duyên) vẫn được người Trung Quốc coi như là một kịch mục kinh điển của hý kịch Trung Hoa. Từ năm 1952, vở kịch này đã nhiều lần được dàn dựng bởi các đạo diễn khác nhau, số lần trình diễn có lẽ là khá nhiều, hiện chưa thể thống kê hết được[12]. Không những thế, tích truyện này đang có xu hướng được áp dụng sang các hoạt động văn hóa khác hiện nay ở Trung Quốc. Ví dụ, người ta lấy đề tài này làm tranh khắc ván, thư họa truyền thống (thủy mặc).

Ngày 17 tháng 7 năm 2004, Bưu cục Quốc gia Trung Quốc đã phát hành seri tem “Dân gian truyền thuyết- Liễu Nghị truyền thư”, gồm 4 con tem với 4 hoạt cảnh: “Long nữ gửi thư”, “Thư gửi Động Đình”, “Cốt nhục đoàn tụ”, và “Nghĩa trọng tình thâm”[13].

Và những nhận định của sử gia đời sau 

Đến đây có thể nhận định về nguồn gốc của các mô típ, các nhân vật, cũng như địa danh trong truyện Kinh Dương Vương được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên đã tình cờ đem một số chi tiết của truyện Liễu Nghị để ghép với các huyền thoại khác như Lạc Long Quân- Âu Cơ, và coi đó như là nguồn gốc khởi đầu cho sự xuất hiện của Hùng Vương- cái triều đại mà người Việt ngày nay coi như là lịch sử đích thực của mình. Nhưng, với một tác phẩm có ảnh hưởng lớn như vậy, các nhà Nho Việt Nam trong nhiều thế kỷ hẳn cũng phải biết đến. Bằng chứng là nhà thơ nổi tiếng Thái Thuận (Tiến sĩ 1475) cũng đã sáng tác bài thơ Liễu Nghị truyền thư. Nhưng đó là chuyện của văn học.

Còn với tư cách là những người viết sử, không ít sử gia thời Trung Đại đã phản đối cách lắp ghép của Ngô Sĩ Liên. Đầu tiên, phải kể đến những nhận định của Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử kí tiền biên. Ông viết: “Nay xét phần Ngoại kỉ chép: Năm Nhâm Tuất thì bắt đầu Giáp Tí là năm nào? Ghi chép tên húy Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân sao riêng lược bỏ Hùng Vương? Thời Ngũ Đế trở về trước thì chưa từng gọi là vương. Xích Quỷ là tên nào, mà lại để làm tên nước. Một loạt hoang đường càn rỡ đều là đáng bỏ đi. Cái lỗi ấy là tại kẻ hiếu sự thấy trong Liễu Nghị truyền thư. Trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên Vương, tưởng càn Kinh Xuyên là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn, cốt cho đủ số đời vua, nhà làm sử theo đó mà chọn dùng, và cho đó là sự thực. Phàm những chuyện lấy từ Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, cũng như Bắc sử lấy ở Kinh Nam Hoavà thiên Hồng Liệt đấy.”[14] 

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856 - 1883) viết: “Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân trong ‘Kỉ họ Hồng Bàng, vốn từ thời Thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ[15]. Chuẩn tâu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã  nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và kiên quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”[16].  

Qua những trình bày ở trên, độc giả đã phần nào mường tượng ra con đường thu nhận biến đổi tích truyện từ truyện Liễu Nghị đến truyện Kinh Dương. Đây sẽ là những tư liệu thú vị để nghiên cứu về tiếp xúc văn học văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa. Đồng thời cũng là “mẫu sử liệu” thú vị cho giới nghiên cứu khám nghiệm và giám định. Đến đây, chúng tôi xin mượn lời của giáo sư Liam Christopher Kelley (Đại học Hawaii) để kết thúc bài viết này: trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới sự ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi[17].

Trần Trọng Dương

[1] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.131-133.
[2] Trịnh thị. (1624-1657). Thiên Nam minh giám. tr.4a. (Thư viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh , ký hiệu HNv.006) trang 1a. Tham khảo phần phiên khảo của Hoàng Thị Ngọ, (1994). Nxb Văn học. Hà Nội.

[3] Thọ Bình - Bá Kiên. Đầu năm thăm lăng Kinh Dương Vương ( ông nội vua Hùng ). Theo tienphong.vn


[4] Việt Cường. Bắc Ninh khai hội Kinh Dương Vương. http://vtv.vn
[5] Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. sdd. tr.133.
[6] Trần Thế Pháp. (XIV?). Lĩnh Nam chích quái. ký hiệu. A.1200 (Viện NC Hán Nôm), tr.4a-4b.
[7] Nguyễn Thanh Tùng. 2010. Giao lưu tiếp biến văn hoá Trung - Việt trong lịch sử: khảo sát sự tiếp nhận tích truyện Liễu Nghị truyền thư ở Việt Nam thời trung đại. Hội thảo Quốc tế giao lưu Văn hóa Việt Nam Trung Hoa. Tp Hồ Chí Minh.
M. Durrand. 1959. Technique et Pantheon des médiems Vietnamien. BEFEO. Vol.XLV, Paris. [chuyển dẫn Ngô Đức Thịnh. 2009. Đạo mẫu Việt Nam.(Tập 1) Nxb Tôn giáo. Hà Nội. tr.63- 64.
[8] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. Trung Quốc văn học đại từ điển(thượng). Thượng Hải từ thư xuất bản xã. Thượng Hải. tr.277.
[9] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr.409.
Bản dịch tiếng Việt có thể tham khảo : Lí Triều Uy, Liễu Nghị truyện, Xuân Huy dịch, in trong “Tuyển dịch một số truyện truyền kì ưu tú thời Đường Tống”, Tạp chí Hán Nôm, 1990. – Số 2 (9). - Tr.90-109.
[10] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.
[11] Tiền Chung Liên vcs (tổng chủ biên). tb2000. sdd. Tr. 831.

[12] Quý vị có thể copy chữ Hán “柳毅传书” xem các trích đoạn vở kịch này trên http://www.youtube.com

[14] Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản.  Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). Nxb KHXH.H.1997. tr.40.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển I, Thư viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu: R.591, tờ 4a- 5b.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 - 1883), sdd.R.591, tờ 9b-10a.
[17] Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.

* Bài đã đăng trên Tia Sáng.
-->đọc tiếp...