Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ thuật VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ thuật VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

ĐỎ TÁI MẶT XEM TRANH BÙI XUÂN PHÁI VẼ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

Đỏ tái mặt xem tranh Bùi Xuân Phái minh họa thơ Hồ Xuân Hương 

Những ý thơ gợi tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được khắc họa sinh động qua nét bút phóng khoáng của cố danh hoạ Việt Nam. 

Đó là bộ tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ theo ý thơ của Hồ Xuân Hương, được cố danh họa thực hiện từ năm 1982 đến 1986. Bộ tranh này hiện do người con trai của ông là họa sĩ Bùi Thanh Phương lưu giữ. Gầy đây, nhiều tác phẩm trong bộ tranh đã được giới thiệu trên mạng. 

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu...
(Đèo Ba Dội - Hồ Xuân Hương).

Lắt lẻo cành thông cơn gió thổi
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
(Đèo Ba Dội - Hồ Xuân Hương).

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay
(Quả mít - Hồ Xuân Hương).

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn...
(Tự tình - Hồ Xuân Hương).

Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
(Tự tình - Hồ Xuân Hương).

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh
(Tranh hai Tố nữ - Hồ Xuân Hương).

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm...
(Hang cắc cớ - Hồ Xuân Hương).

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Ṿây mà chút tẻo tèo teo
Thuyền cừ cương muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn leo
(Kiếp Tu Hành - Hồ Xuân Hương).

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng...
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông...
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Giếng ấy thanh tân ai đã biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long...
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông..
.
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

 
 .
 
.
 
.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay...
(Vịnh cái quạt (1) - Hồ Xuân Hương).

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này
(Vịnh cái quạt (1) - Hồ Xuân Hương).

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự bao giờ
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa...
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa...
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi...
(Trống thủng - Hồ Xuân Hương).

 
.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!
(Đánh đu - Hồ Xuân Hương).

Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(Mời ăn Trầu - Hồ Xuân Hương).

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau...
(Dệt vải - Hồ Xuân Hương).

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết...
(Đánh cờ - Hồ Xuân Hương).

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

NỖI KHIẾP HÃI CỦA BỘ VĂN - THỂ - DU XUNG QUANH HOẠT ĐỘNG MỸ THUẬT

Ngại hoạt động mỹ thuật lộ bí mật, an ninh!
15/01/2013 - 05:35 

Nhiều ý kiến cho rằng quy định “Tác giả được chỉ định sáng tác mẫu phác thảo tượng đài, tranh hoành tráng phải có trình độ đại học trở lên” không phù hợp. 

Phiên họp chiều 14-1 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trở nên sôi nổi khi các đại biểu thảo luận về chủ đề “tượng đài, tranh hoành tráng”. Đây là nội dung được đề cập trong dự thảo nghị định về hoạt động mỹ thuật do Bộ VH-TT&DL chủ trì soạn thảo. 

Thế nào là hoành tráng? 

Theo ông Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL, thời gian qua việc xây dựng tượng đài, tranh hoành tráng không còn bó hẹp trong chủ đề về các anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu hay đề tài lịch sử, cách mạng. Hiện nhiều nơi đã mở rộng sang xây dựng tượng tôn giáo, tín ngưỡng với quy mô lớn, có ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường, văn hóa, xã hội. Do chưa có quy định về cấp phép xây dựng nên công tác quản lý gặp rất nhiều khó khăn. Vì thế, việc ban hành các quy định về tượng đài, tranh hoành tráng là hết sức cần thiết.

Giải thích từ ngữ về “hoành tráng”, dự thảo nghị định nêu rõ: “Tranh hoành tráng là tác phẩm mỹ thuật có kích thước lớn, chất liệu bền vững, ngôn ngữ tạo hình có tính biểu tượng cao, đặt cố định nơi công cộng”. Tuy nhiên, giải thích trên không làm cho Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý và Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện hài lòng. “Sự hoành tráng đôi khi không đến từ kích thước mà có khi lại hoành tráng về nội dung” - ông Lý đặt vấn đề. Còn ông Hiện thì đề nghị nên thay “hoành tráng” bằng một từ khác.
. 
  Việc quy định “Tác giả được chỉ định sáng tác mẫu phác thảo tượng đài, tranh hoành tráng phải có trình độ đại học trở lên” gây nhiều tranh cãi. Ảnh: CTV

Dự thảo cũng quy định: Tác giả được chỉ định sáng tác mẫu phác thảo tượng đài, tranh hoành tráng phải có trình độ đại học trở lên chuyên ngành điêu khắc đối với tượng đài; có trình độ đại học trở lên chuyên ngành hội họa, đồ họa và phải có ít nhất hai công trình tượng đài, tranh hoành tráng đạt chất lượng loại A… Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn, quy định như thế là không phù hợp. 

“Làm tranh hoành tráng mà bắt buộc phải có bằng cấp là không đúng. Thực tế có rất nhiều người không có bằng cấp vẫn làm được những công trình lớn. Nghệ thuật là thiên phú, quy định như thế là không hợp lý” - ông Sơn nhấn mạnh. Đồng quan điểm, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cũng cho rằng không nhất thiết bắt buộc những người làm ra tác phẩm nghệ thuật phải có bằng đại học hoặc thỏa điều kiện này, điều kiện kia.

Sao chép tranh lãnh tụ phải thể hiện sự tôn kính

Ngoài nội dung trên, dự thảo nghị định cũng đưa ra nhiều quy định khắt khe đối với hoạt động mỹ thuật. Trong đó, nghiêm cấm các hành vi mỹ thuật làm tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước; bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại; bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật; xuyên tạc sự thật lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa; xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân... 

Đặc biệt, dự thảo nghị định quy định các tổ chức, cá nhân muốn sao chép tranh, tượng danh nhân, lãnh tụ phải làm đơn và được Sở VH-TT&DL cấp phép mới được thực hiện. Các cơ sở hành nghề sao chép, trưng bày tranh, tượng danh nhân, lãnh tụ phải đảm bảo sự tôn kính đối với danh nhân, lãnh tụ.

Thẩm tra về các nội dung trên, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Đào Trọng Thi cho rằng quy định cấm “tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước; bí mật quân sự, an ninh kinh tế, đối ngoại; bí mật đời tư của cá nhân” không mang tính đặc thù đối với hoạt động mỹ thuật. Ngoài ra, ban soạn thảo cần xem lại quy định cấm “xây dựng các công trình mỹ thuật không đúng quy hoạch” tại khoản 3, vì dự thảo nghị định chỉ quy định quy hoạch về tượng đài, tranh hoành tráng, không quy định quy hoạch về các công trình mỹ thuật.


Không tổ chức tràn lan các ngày kỷ niệm
Thảo luận về dự thảo nghị định quy định công nhận ngày truyền thống, ngày kỷ niệm và ngày hưởng ứng của Việt Nam, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh cho biết: Hiện mỗi năm cả nước có hơn 500 ngày truyền thống, ngày kỷ niệm của các ban, bộ, ngành, các tổ chức và các địa phương. Do mỗi cơ quan có một cách làm riêng nên dẫn đến tình trạng tổ chức tràn lan, lãng phí, gây mất lòng tin trong nhân dân. Vì thế, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh nhận định: Việc ban hành nghị định là cần thiết, nhằm tạo cơ sở pháp lý, đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay.
Theo ông Đào Trọng Thi, việc ban hành nghị định là cần thiết. Tuy nhiên, nếu luật hóa toàn bộ ngày truyền thống, ngày kỷ niệm của các đơn vị từ trung ương đến địa phương có thể sẽ làm phát sinh nhiều ngày truyền thống, ngày kỷ niệm. Điều đó sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động này.


THÀNH VĂN
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

CHÚC MỪNG TRIỂN LÃM "CAO NGUYÊN ĐÁ" CỦA HỌA SĨ ĐỖ ĐỨC



Trân trọng kính mời quý vị
Tới dự Khai mạc triển lãm cá nhân lần thứ VII của Họa sĩ Đỗ Đức

CAO NGUYÊN ĐÁ

Khai mạc: 16h30 Thứ Năm, ngày 1 tháng 11 năm 2012
Tại: Nhà triển lãm Hội Mỹ Thuật Việt Nam
Số 16 Ngô Quyền, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

Triển lãm mở cửa từ 1//11 đến 15/11/2012.

Xin chúc mừng Họa sĩ Đỗ Đức và chúc triển lãm thành công tốt đẹp!
________________________________________________________________
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

NƯỚC PHÁP VÀ SỰ HÌNH THÀNH MỸ THUẬT HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Pháp và sự hình thành mỹ thuật hiện đại Việt Nam

Huế- Victor Tardieu
Huế- Victor Tardieu            @Bảo Tàng Cernuschi
Thanh Hà
.
"Từ sông Hồng đến Cửu Long» giới thiệu đến những tầm nhìn khác nhau của các nghệ sĩ Pháp và Việt về cùng một vùng đất còn rất xa lạ ở vào đầu thế kỷ XX là Đông Dương. Trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội là nhịp cầu nối liền hai dòng sáng tác Đông và Tây. RFI phỏng vấn bà Christine Shimizu, giám đốc kiêm quản thủ bảo tàng Cernuschi. Bà cũng là một trong hai người điều hành triển lãm này.

Tạp chí văn hóa của RFI tuần trước đã giới thiệu đến quý thính giả và các bạn triển lãm « Từ sông Hồng đến Cửu Long, tầm nhìn Việt Nam » tại viện bảo tàng Cernuschi, quận 8 Paris. Hôm nay chúng ta cùng trở lại với sự kiện này để tìm hiểu thêm về vai trò và ảnh hưởng của các họa sĩ người Pháp đối với hội họa nói riêng và nền mỹ thuật hiện đại nói chung của Việt Nam.

Giải thưởng Đông Dương, được thành lập từ năm 1910 cấp học bổng cho các nghệ sĩ Pháp sang Đông Dương sáng tác. Giải thưởng này cũng là điểm khởi đầu của giao lưu văn hóa hóa Pháp – Việt. Những giải thưởng đầu tiên như họa sĩ François de Marliave (1911), Charles Fouqueray (1914) hay Géo Michel (1923) đã đến và sáng tác rất nhiều từ Đông Dương.

Hành trình về phương Đông ấy đã cho phép họ đem về Pháp và triển lãm nhiều tác phẩm với một cái nhìn thực tế hơn về một vùng đất, mà cho đến khi đó, mới chỉ có « trong trí tưởng tượng » của các nhà sáng tác.

Phải đợi đến năm 1924, nhờ nỗ lực của họa sư Victor Tardieu, cùng với sự hợp tác của họa sĩ trẻ, Nguyễn Nam Sơn, trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời tại Hà Nội. Victor Tardieu là giám đốc điều hành trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội cho đến ngày ông qua đời vào năm 1937.

Trường Mỹ thuật Hà Nội với nhiều bộ môn khác nhau (từ kiến trúc đến hội họa, từ nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật trang trí đến sơn mài…) là chiếc nôi của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Đấy cũng là nơi những tài năng của Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX đã thăng hoa và tỏa sáng, như Lê Văn Đệ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, ...

Trường Mỹ thuật là nơi nhiều thế hệ các nghệ sĩ Pháp ( Louis Rollet, André Maire, Lucien Lièvre, Léo Crastre, Alix Aymé …) đến đến giảng dạy và mở ra một chân trời mới cho các họa sĩ trẻ Đông Dương.
Triển lãm « Từ sông Hồng đến Cửu Long » giới thiệu với khách tham quan Paris khoảng 70 tác phẩm, từ hội họa đến sơn mài và điêu khắc … Trong số những tác phẩm của các nghệ sĩ Pháp, ta thấy có Femmes et Flamboyants- Thiếu phụ và cây phượng vĩ của Henry Vollet ; có Vịnh Hạ Long của Charles Fouqueray hay Lucien Lièvre ; có kinh đô Huế trong nhãn quan của Louis Rollet ; có lăng Tự Đức dưới bút pháp của François de Marliave ; có con thuyền đơn độc trên mặt nước sông Hương (Henri Mège)  ; có bức sơn dầu của Tardieu về một góc Hà Nội, có bức tượng đồng Mọi  sắc sảo của Manette de Lyee de Belleau ; có buổi Trưa hè yên tĩnh của Alix Aymé, hay Peuples des Hauts Plateaux – Dân tộc Cao Nguyên của André Maire.

Vậy thì câu hỏi đặt ra là sự cọ sát và tiếp cận với các nghệ sĩ Pháp đã đem lại những gì cho ngành hội họa  mỹ thuật hiện đại Việt Nam ? Cuộc hội ngộ với phương Đông đã thay đổi và ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp sáng tác của những nhà nghệ thuật Pháp ?

Trước hết bà Christine Shimizu, giám đốc kiêm quản thủ bảo tàng Cernuschi và là một trong hai người điều hành cuộc trưng bày giới thiệu qua về triển lãm « Từ sông Hồng đến Cửu Long, tầm nhìn Việt Nam » :

Christine Shimizu : "Cuộc triển lãm này đưa người xem theo dòng thời gian cùng với sự phát triển của hội họa Việt Nam. Một phần những tác phẩm được trưng bày là những sáng tác của các nghệ sĩ Pháp đã đến Đông Dương từ cuối thế kỷ thứ 19. Đó là phần đầu của cuộc triển lãm, với nhiều tác phẩm của các họa sĩ Pháp từng đoạt Giải thưởng Đông Dương. Giải thưởng gồm một năm học bổng và sau đó họ được cử đến giảng dậy tại trường Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội thêm một năm nữa.

Ở phần thứ nhì, chúng tôi tập trung vào những tác phẩm của các danh họa Việt Nam, được đào tạo từ trường Mỹ thuật Đông Dương –Hà Nội. Trong số đó phải kể đến một vài sáng tác của cố họa sư Nam Sơn, đồng sáng lập viên trường Mỹ thuật Đông Dương. Bên cạnh những tac phẩm hội họa, còn có cả những bức sơn mài cũng từ trường Mỹ thuật Đông Dương - Hà Nội. Ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu đến công chúng tài năng của các họa sĩ trẻ Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đấy là những bức họa được thực hiện với những kỹ thuật khác nhau, chẳng hạn như sơn dầu hay than vẽ và đương nhiên là phải kể đến tranh lụa".

RFI : Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng, đã đem lại những gì và đã ảnh hưởng như thế nào đến mạch sáng tác của các nghệ sĩ Pháp, nếu không muốn nói là ảnh hưởng đến cả sự nghiệp nghệ thuật và cuộc đời của họ ? 

Christine Shimizu : "Những người như là Lucien Lièvre, Henri Dabadie hay Michel Géo đã bị sắc màu của Đông Dương làm mê hoặc. Sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương, phong cảnh đồng quê, đời sống thôn dã là nguồn sáng tác đa dạng và hết sức phong phú. Các nghệ sĩ này đã đưa nhiều đề tài mới vào tác phẩm của mình. Đó là những đề tài chưa từng được hội họa Pháp cũng như của Việt Nam quan tâm. Chẳng hạn như họ đề cập đến các sinh hoạt ven sông, đến làng quê … Họ cũng đã có một cái nhìn hoàn toàn mới về các sắc tộc thiểu số ở vùng cao nguyên. Tôi muốn nói đến nữ họa sĩ Marie Antoinette Bouillard Devé (hai bức tranh sơn dầu Portrait- Chân Dung  và Terre Rouge, femme de Cochinchine – Đất đỏ, phụ nữ Nam Kỳ ), hay một tác giả khác là Léa Lafugie ( Tonkin- Bắc Kỳ  và Hà Giang, Đồng Văn, Lô Lô )"

RFI : Riêng đối với trường hợp của bà Alix Aymé, hành trình Đông Dương đã thay đổi hẳn cuộc đời bà. 

Christine Shimizu : "Đúng, Alix Aymé là một nhà hội họa. Bà đã theo chồng (Paul de Fauterau –Vassel) sang Trung Quốc và sau đó là sang Đông Dương công tác. Họ định cư tại Hà Nội.Riêng bản thân bà đã ở lại Hà Nội cho đến năm 1945. Alix Aymé đã đem lại một tầm nhìn mới không chỉ cho ngành hội họa Việt Nam mà bà còn có những đóng góp rất lớn đối với nghệ thuật sơn mài của Việt Nam.

Trong một chuyến tham quan Nhật Bản, Alix Aymé đã tiếp cận với nghệ thuật sơn mài của Xứ phù tang. Tại trường Mỹ thuật Hà Nội, bà dẫn dắt học trò đến với « nghệ thuật trang trí » rất thịnh hành ở Pháp thời đó và bà cũng đã đem đến một làn gió mới cho nghệ thuật sơn mài Việt Nam. Chẳng hạn như bà đã truyền lại nghệ thuật thếp vàng của ngành sơn mài Nhật Bản".
Peuple des Hauts Plateaux/ Dân tộc Cao Nguyên- André Maire
@Edition Findakly 2012/Christian Murtin

RFI : Trở lại với vai trò và ảnh hưởng của trường Mỹ thuật Đông Dương đối với nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam ?

Christine Shimizu: "Đương nhiên sự hình thành của trường Mỹ thuật Đông Dương là một cột mốc quan trọng, đã đưa hội họa cũng như nền mỹ thuật Việt Nam sang một ngõ rẽ khác. Các nghệ sĩ trẻ của Việt Nam thời đó và những người được tuyển chọn vào trường, chỉ một sớm một chiều đã tiếp cận với một phong cách mới, với những kỹ thuật mới. Tại đây, họ đã khám phá tranh sơn dầu, tranh khắc gỗ, màu nước … Họ không chỉ vẽ trên giấy mà còn vẽ trên vải.

Về phương diện nghệ thuật, các họa sĩ Việt Nam thời đó được tiếp cận với trường phái hiện thực, và họ cũng đã có những khái niệm mới trong cách bố trí, trong tầm nhìn và chiều sâu của bức họa. Trong tinh thần của trường phái hiện thực, các danh họa Việt Nam thời bấy giờ đã chú ý đến những chủ đề rất ‘riêng tư’ với những cảnh sinh hoạt thường ngày trong đời sống của người Việt, trong một gia đình chẳng hạn.

Có những cảnh chưa bao giờ được đưa vào hội họa, chẳng hạn như bức tranh lụa của Tô Ngọc Vân với bốn cô thợ thêu (Les brodeuses) hay bức họa với tranh khổ lớn Trong Gia Đình- En Famille  của Lê Văn Đệ hay tác phẩm Lên Đồng – La Sorcière (năm 1931) của Nguyễn Phan Chánh.

Những bức họa kể trên cho thấy đời sống và phong tục của người dân Việt Nam. Trước đó thì hội họa Việt Nam thường được biết tới qua những bức chân dung của các vị chức sắc, hay những bức tranh thờ phụng .. Qua giao lưu với các nghệ sĩ Pháp, nền mỹ thuật Việt Nam quan tâm nhiều đến khía cạnh thực tế của cuộc sống, đến thiên nhiên (chẳng hạn như là những bức họa nói về Vịnh Hạ Long) cũng như là đến những sinh hoạt bình thường nhất trong cuộc sống, trong một gia đình …

Đó cũng là thời điểm mà nhiều họa sĩ Việt Nam đã đưa vào nghệ thuật tranh vẽ khỏa thân. Bức thiếu nữ khỏa thân, tranh sơn dầu của Mai Thứ được trưng bày trong cuộc triển lãm này, đương nhiên đã gây xôn xao trong dư luận Việt Nam thời đầu thế kỷ trước".

Trong một bức thư đề ngày 11/12/1932 gửi đến người vợ, cha đẻ của trường Mỹ thuật Đông Dương, Victor Tardieu viết « Tôi hài lòng khi thấy những gì mình gây dựng là có thực và tôi có thể rời khỏi nơi đây  nhưng vẫn biết rằng, công việc đó được tiếp tục ».

Giáo sư Tardieu đột ngột từ trần vào năm 1937. Trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội đã đào tạo được rất nhiều nhân tài và các học trò của trường đã trở thành những nghệ sĩ bậc thầy của nền mỹ thuật Việt Nam và của cả nước Pháp.

-->đọc tiếp...