Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ thuật cổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ thuật cổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

QUAN SÁT CỘT ĐÁ "CHÙA MỘT CỘT" Ở CHÙA DẠM

Nguyễn Hùng Vĩ 

Lời dẫn của tác giả: Bài báo này được tác giả viết cách nay 14 năm và đã in ở Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 10 (184) 1999 (từ trang 102 đến trang 106) với 5 ảnh chụp hiện trạng cột đá lúc đó. Ở chỗ chèn ảnh, bài viết đã bị mất một đoạn trích dẫn các ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước. Nay tác giả đánh máy lại nguyên văn bản in vừa để lưu giữ làm tư liệu cá nhân vừa cung cấp tư liệu cho những ai cần tham khảo. Đến nay, việc tiếp xúc với nhiều tài liệu hơn đã giúp tác giả tiếp tục khẳng định giả thiết về công trình kiến trúc trên cột đá này là hợp lí và đang tiến hành làm các bản vẽ kĩ thuật đối chứng các tài liệu mới.
.
Cột đá chùa Dạm là một di vật quen thuộc đối với giới nghiên cứu văn hóa, lịch sử, nghệ thuật và tôn giáo.. Nhờ giá trị chủ yếu mà từ tháng 1 năm 1964, chùa Dạm được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử-văn hóa của Quốc gia. Thác bản của nó được phục chế với tỉ lệ 1:1 đặt trước mặt Viện Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội. Tính chất hoành tráng nhưng tinh tế của nó đã chinh phục lòng chiêm ngưỡng của chúng ta.

Tất nhiên, cũng như nhiều di vật nổi tiếng, việc nghiên cứu nó để lại nhiều ý kiến khác nhau đặc biệt là về chức năng và tác dụng của ...[Đoạn bị chèn ảnh mất]… Mỹ thuật Lý-Trần, Mỹ thuật Phật giáo của Chu Quang Trứ, nhà nghiên cứu mỹ thuật có nhắc tới cột đá nổi tiếng này. Trong khoa học, ý kiến khác nhau là chuyện thường tình. Người viết bài này sở dĩ gọi nó một cách quyết đoán là “Cột đá chùa Một Cột” là vì sau khi đọc những trong cuốn sách đang có uy tín này của ông. PGS Chu Quang Trứ ở bài Trông về chùa Dạm viết: “Có người cho cột đá chùa Dạm phải đỡ một tấm kiến trúc ở trên đỉnh nó, như kiểu chùa Một Cột (Hà Nội). Nhưng quan sát kĩ, ta thấy những cái hốc quanh đầu cột rải ra không đều, chỗ thì quá mau, chỗ lại quá thưa, tất cả 6 lỗ mà có tới một phần ba vòng thân cột không có lỗ nào. Dầu cho có một trí tưởng tượng đến mức cao độ cũng khó có thể vẽ nên một kiểu nhà xây trên cột này được”.

Để bài viết nhanh đi đến kết thúc, tôi có thể nói ngay rằng ý kiến của PGS Chu Quang Trứ là hoàn toàn sai. Lí do của sự sai là do ông chưa quan sátkĩ mà thôi. Có lẽ ông ngắm trực tiếp cột đá, nhưng khi nghiên cứu ông chỉ dựa vào ảnh chụp và đặc biệt dựa vào thác bản ở Bảo tàng Mỹ thuật, mà theo tôi phần ngọn cột đá được các nhà phục chế làm rất chi là cẩu thả nên sai trầm trọng nhiều chi tiết.

1. Những số liệu đo được:

Ngày 23 tháng 9 năm 1999, được sự giúp đỡ của PGS Đặng Văn Lung (Viện Văn học) và hai sinh viên chuyên ngành Hán Nôm (Khoa Văn học, Trường Đại học KHXH &NV) tôi đã tiến hành khảo sát và đo đạc trực tiếp cột đã này. Dầu đã qua non ngàn năm gội nắng mưa sấm sét nhưng những gì còn lại là có thể đo được tương đối chính xác. Trụ đá vẫn đứng thẳng trơ gan cùng tuế nguyệt tuy có bị sứt gãy một số chỗ.

Trước hết là dáng thẳng đứng của cột vẫn hoàn toàn bảo đảm khi ngắm các góc băng dây dọi. ta dễ dàng nhận ra mặt tiền của công trình nhờ đôi rồng chầu mặt trời trên phần trụ tròn. Hướng mặt của trụ là hướng tây (hơi chếch nam 5-7 độ) và có thể gọi là chính tây.

Từ mặt nền trở lên, trụ đá được chia làm bốn phần tương đương.

Phần dưới cùng là một khối hộp vuông mỗi bên có cạnh ngang là 1m65 (165cm) và 1m55 (155cm). Hộp có chiều cao từ mặt nền là 1m07 (107cm).

Phần trên tiếp theo gồm hai giật cấp liên tục từ khối vuông sang khối tròn bằng cách chem. các cạnh vuông đứng. Phần giật cấp một cao gần 0,70m (70cm). Phần giật cấp hai, vát sâu hơn để tạo khối gần thành trụ tròn, cao khoảng 0,30m (30cm). (Vì khi chém vát, có độ nghiêng nên khá khó đo, tuy nhiên, chịu khó thì vẫn đo được). Tổng cộng chiều cao cả hai giật cấp là khoảng 1,01m (101cm).

Phần trụ tròn có trang trí đôi rồng chầu mặt trời, lượn thoăn thoắt quấn quanh cột và phần đuôi ngoắc vào nhau xoắn xuýt, uyên chuyển, có chiều cao 1m07 (107cm).

Hiện trạng, phần phù điêu này ở mặt bắc bị hư hại nặng, còn ở mặt nam vỡ một ít. Phần còn lại hầu như nguyên vẹn. Giới hạn trên cùng của phần này là hai đường chân chỉ nổi song song còn thấy được ở mặt sau trụ. Bằng nhiều lần đo phần tròn của chu vi, phần thu vào so với khối vuông, chúng tôi qua tính toán gần đúng và ước lượng phần trụ tròn này có đường kính hơn 1,30 (130cm) mội ít. Và sau này chúng ta sẽ biết, nó trong điều kiện tròn tuyệt đối sẽ có đường kính chính xác là 1,347m (134,7cm).

Phần mà chúng tôi đặc biệt quan tâm là phận ngọn của trụ đá, nơi bắt đầu xuất hiện các lỗ dầm để tạo kết cấu đỡ công trình chùa. Trong tình trạng hiện nay, phần ngọn bị hư hại khá nặng. Chúng ta có thể nhìn thấy những vết vỡ lớn mà theo nhân dân truyền lại là do sét đánh. Quan sát trực tiếp, chúng tôi cho rằng các vết vỡ thư nhất là do công trình bị sập trong một thời gian nào đó và đồng thời do con người có thể đập nó. Hầu như trên đó, không để lại dấu vết lạ nào chứng tỏ sét đánh trực tiếp vào đầu cột đá này (dấu vết nóng chảy của cát chẳng hạn). Đồng thời mặt ngoài của nó không có trang trí. Tuy bị hư hại nhưng dấu vết gia công con lại của con người trên đó còn để cho ta có thể nghiên cứu khá mạch lạc nó với tư cách là một trụ đỡ công trình chùa Một Cột.

Trước hết, các lỗ ngoàm chính (6 lỗ). Phải nói ngay rằng các lỗ ngoàm này hoàn toàn nằm trên một mặt phẳng song song với mặt phẳng nền. Không có cái cao cái thấp như ở bảng phục chế nói trên. Chúng tôi lần lượt đo số liệu các lỗ ngoàm này. Để tiện chúng tôi đánh số từ lỗ 1 đến lỗ 6 theo chiều ngược chiều kim đồng hồ và lấy lỗ bên phải mặt chính diện (mặt tây) nhìn từ tâm cột ra làm lỗ 1.

Lỗ 1: Mặt ngoài trụ còn nguyên dấu, cong khá đều, lỗ hầu như còn nguyên vẹn. Số đo được là: chiều ngang miệng lỗ 16,5cm; chiều cao lỗ 30cm, chiều sâu mặt lỗ ngoàm chịu lực: 30cm, góc mặt (cạnh huyền) tối thiểu 24 độ (nếu mặt dài thẳng đứng).

Lỗ 2: Mặt ngoài trụ có phần gia công và có phần tự nhiên (dựa theo mép trên lỗ cột ta thấy rõ điều đó), lỗ còn nguyên vẹn. Số đo được là: chiều ngang miệng lỗ 16,6cm, chiều sâu chịu lực mặt lỗ (mặt dưới): 14cm. Chiều cao tối đa 30cm. Vì mặt đá có lẹm không tính được góc nghiêng tối thiểu. (Nếu có đủ dụng cụ đo vẫn có thể tính được), lỗ 1 và lỗ 2 nằm ở mặt chính diện (mặt tây).

Lỗ 3: Nằm trên đường sinh chia đôi mặt phía nam trụ. Mặt trụ từ lỗ 2 đến lỗ 3 hơi gồ hình trán trâu, có thể bởi các lõi cát kết cứng, khó gia công. Mặt ngoàm dưới và mặt trụ xung quanh bị sứt mẻ. Ngắm cái cách sứt vỡ ở mặt này, đối chiếu với dấu vết hư hại một cách khéo léo của mặt đối xứng, chúng ta đoán chắc được chiều đổ sập của ngôi chùa dựng trên đó. Lỗ này vẫn cho ta các số đo: chiều ngang: 15,5cm, chiều sâu còn lại 4cm, chiều cao: 28cm.

Lỗ 4: Nằm ở bên phải mặt đông cũng là mặt sau của công trình. Lỗ còn nguyên vẹn nằm trên mặt trụ còn khá nguyên và còn dấu vết gia công mài phẳng. Các số đo như sau: rộng 16,0cm, sâu: 16,0cm, chiều cao 34cm, góc chéo (cạnh huyền) vào: tối thiểu 250 (giả thiết mặt trụ thẳng đứng).

Lỗ 5: Nằm ở bên trái mặt đông. Phần trên lỗ bị vát do sứt mẻ. Các số đo là: chiều rộng: 16,5cm, chiều sâu: 12cm, chiều cao: 30cm. Vì sứt mẻ nên không tính góc nghiêng.

Lỗ 6: Nằm trên đường sinh chia đôi mặt phía bắc trụ (đối xứng với 3). Phần mặt này bị hư hại nặng. Chúng tôi cho rằng đây là phía mà công trình đã sập xuống. Số đo còn lại như sau: chiều rộng 16cm, chiều sâu 17cm, chiều cao còn lại 17cm.

Đó là 6 lỗ ngoàm chính, phản ánh 6 dầm đỡ chéo công trình, đầu dưới cắm vào trụ, đầu trên đỡ các dầm ngang chịu lực như ta thấy ở phục chế chùa Một Cột hiện nay ở Hà Nội. Trên phần ngọn này của trụ ta còn gặp các loại lỗ khác hết sức thú vị (rất tiếc là ở bản phục chế, điều này được thể hiện một cách ví dụ mà thôi, nên vừa quá sót lại vừa sai).

Trước hết là trên toàn bộ phần ngọn, chúng tôi thấy có tất cả 8 lỗ nhỏ hình chữ nhật khá đồng dạng, với kích thước là 5cm và 6cm x 4cm. Lỗ sâu nhất là 8cm và lỗ cao nhất là 4cm. Mặc dù không phân bố đều trên tất cả các mặt nhưng trên mỗi mặt, vị trí lỗ (7/8) đều có một tương tác cân bằng nào đó với các lỗ dầm. Mặt chính (tây) có một lỗ cân giữa hai lỗ dầm và cùng cao độ mặt lỗ dầm chịu lực (mặt dưới). Giữa lỗ dầm 2 và lỗ dầm 3 không có lỗ nhỏ. Giữa lỗ dầm 3 và lỗ dầm 4 có một lỗ nhỏ khá cân. Giữa lỗ dầm 4 và lỗ dầm 5 (mặt đông) có 4 lỗ phân bố cân lực với lỗ dầm và một lỗ lệch. Giữa lỗ dầm 4 và lỗ dầm 5 không có lỗ nhỏ. Giữa lỗ dầm 6 và lỗ dầm 1 có một lỗ nhỏ cân lực với dầm. Như vậy ta thấy rằng hai phần không có lỗ nhỏ đối xứng với nhau. Theo chúng tôi, các lỗ nhỏ này không được tạo ra một lần cùng với công trình mà có thể qua một thời kỳ tu sửa nào đó, người ta đục thêm để chống hoặc níu cho công trình khỏi xộc xệch qua thời gian. Nếu chống, người ta rèn các cây sắt, rồi 2 đầu bẻ hình chữ Z lệch để một đầu cắm vào trụ đá, một đầu cắm (theo lỗ đục) vào dầm gỗ chịu lực. Nếu để níu, người ta đóng một đoạn gỗ tròn vào lỗ, đóng khuy kim loại vào giữa rồi dùng dây sắt níu đều công trình xuống. Chúng tôi cũng thoáng nghĩ đến đây là những lỗ treo đèn hoặc treo cờ trong các hội tắm Phật, cũng như trong Lãm Sơn dạ yến nhưng điều này khó xảy ra nếu công trình trên là gỗ (mà chắc là thế). Ngoài ra, khó nói gì hơn về tác dụng của các lỗ này nếu nghiên cứu phân bố của chúng.

Điều thú vị tiếp theo là chúng tôi khi trèo lên trụ đá để đo đạc đá phát hiện tiếp các lỗ ngoàm phụ, hình chữ nhật, có chiều rộng 10cm, chiều cao không xác định vì bị vỡ phía trên và chiều sâu còn lại 3-4cm. Qua phân bố rất hợp lý của chúng, không thể gọi tên nào đúng hơn đây chính là các lỗ ngoàm con sơn. Hai lỗ ở mặt chính diện nằm cao cách đáy 2 lỗ dầm chính là 78cm và đều dịch vào giữa một thân gỗ ngoàm. Đây chính là nơi lắp các con sơn trợ lực kiểu xỏ kèo lá, ép với dầm ngang chịu lực của công trình. Có điều là, quan sát kỹ các lỗ ngoàm con sơn này, chúng tôi thấy phong cách đục lỗ không thống nhất với phong cách lỗ ngoàm chính. Lỗ đục vụng, các lốt đục không đều, trông có vẻ vất vả, lực tác dụng vào cột ít và không đồng đều. Chúng tôi nghi các lỗ này cũng được làm trong quá trình tu bổ công trình chứ không được tạo tác từ đầu?

Điều phát hiện cuối cùng khiến chúng tôi vui thích là khi trèo lên và trông thấy rãnh dầm chịu lực chính còn để lại trên nóc cột. Đây chính là dầm cuối cùng của chùa. Rãnh dầm chia đôi nóc trụ, theo hướng bắc nam, song song với mặt tiền của trụ đá. Phần còn đo được như sau: chiều rộng 23,0cm, chiều dài còn đo được 7cm, gờ bên còn đo được 3cm. Rãnh dầm đáy bằng phẳng và còn hết sức vuông thành sắc cạnh. Rất tiếc là, các tác giả phục chế cột đá đã bỏ qua một cách đáng tiếc chi tiết này. Đến đây chúng ta đã có thể hình dung dầm ngang chịu lực đầu tiên của công trình là một phiến gỗ (hoặc đá?) hình hộp có gáy 23,0cm và dóng thẳng lên trên đó chính là đòn nóc của ngôi chùa. Mặt trên của dầm hộp gỗ này với những lý do sau này bạn sẽ hiểu, chúng tôi cho là 46cm (hơn hai gang tay). Chỉ với một hộp dầm này, chúng ta đã có thể tính được sức chịu lực uốn của nó có thể đỡ nặng bao nhiêu theo khẩu độ vượt tùy ý. Đến đây, các bạn có thể dựng được một bộ dầm đỡ công trình gồm: 3 hộp gỗ chéo hình chong chóng, tạo hệ thống dầm ngang chịu lực, 6 dầm chống từ cột lên dầm ngang tạo hình các đài sen và có thể là thêm các kết cấu phụ (?). Tôi xin cùng các bạn đi đến điều bất ngờ lý thú của phần 2 bài viết này.

2. Các số đo và tín ngưỡng:

Sau khi đã đo đạc với các số liệu trên, tôi trở về Hà Nội và trong hai ngày chạy tìm thước thợ. Những gì đọc được ở văn bia trong cuốn Thơ văn Lý Trầnvà đặc biệt là đoạn trích về cách chọn đất làm chùa mà cụ Nguyễn Bá Lăng dẫn trong cuốn sách tôi rất mực yêu mến (bởi những bức ảnh đen trắng thật tuyệt) là cuốn Kiến trúc Phật giáo Việt nam khiến tôi nghĩ về ý nghĩa tín ngưỡng của các số đo mà tôi thu thập được trên thực trạng di tích. Là một công trình kiến trúc, hơn nữa là kiến trúc đậm tính tôn giáo, chắc hẳn các số đo phải tuân thủ các quy định tín ngưỡng. Trong hai ngày, tôi nhặt được một lượng thông tin làm công vụ rất tối thiểu nhưng đạt đến hiệu quả không thể ngờ. PGS.TS sử học Vũ Minh Giang nhắn qua PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc cho tôi những thông tin sau:

Thước đo trong lịch sử Việt Nam có sự biến động so với mét của phương Tây. Ngay bây giờ chỉ có thể tạm nói những thông tin: Thời Nguyễn Gia Long 1 thước bằng 0,42m. Thời Tự Đức 1 thước bằng 0,46m. Thời Thành Thái 1 thước bằng 0,40m. Thời Lý chưa khảo được nhưng ước tính khoảng bằng 0,40m.

Qua GS Trần Quốc Vượng, tôi gọi điện hỏi PGS.TS Trịnh Sinh và được ông cho biết thời Hán chuẩn hóa số đo nhưng đến Vương Mãng có cải cách khá đồng bộ, còn thước đời Tống chưa tra được. Và ông giới thiệu cho tôi PGS Nguyễn Duy Hinh nhưng tôi chưa kịp gặp để học hỏi. 

PGS Hoàng Văn Khoán cung cấp cho tôi một phiên bản (chép lại với tỉ lệ 1:1) chiếc thước Lỗ Ban của đình Viềng với những lời giải thích trên đó cùng một phiên bản (ảnh chụp tỉ lệ 1:1) chiếc thước Minh Mạng cùng các cung và lời giải thích bằng thơ chữ Hán năm chữ. Tôi đem dịch cả hai thước và thú thật lần đầu tiên tôi tiếp xúc với cái gọi là thước Lỗ Ban và hiểu được đôi điều vỡ lòng về nó. Sau khi hiểu nguyên lý của thước, điều bất ngờ lại nằm trong ngăn bàn nhà mình, đó là chiếc thước Lỗ Ban tàu bán rất nhiều ở các cửa hàng tạp phẩm. Trên thước có ghi chữ Lỗ Ban xích và thể hiện tương ứng bốn loại thước khác nhau trong đó có 2 loại thước mà theo sự mách bảo của bản thảo thước Viềng, tôi cứ hiểu đại là Lỗ Ban bát bộLỗ Ban cửu phân thập tam thức. Đây là tôi tạm gọi thế để chỉ công cụ tri thức dùng nóng trong lúc này. Có gì sai sau này học thêm vậy. Chúng ta thử quy đổi theo hệ số chiều dài bằng m hiện nay, tiếp tục thử quy ra thước đời Đường và đời Tống là triều đại Trung Quốc trước và tương đương triều Lý. Các số đo thường đẹp một cách đáng quan tâm:

Đối tượng
m (±số lẻ tín ngưỡng)
Lỗ Ban hiện tại
Lỗ Ban quy ra Đường, Tống
-Chiều ngang phần khối vuông
-Mặt Tây: 165cm
-Mặt Nam: 155cm
Thiên đức, Hỉ sự, Tiến bảo, Nạp phúc (cung Vượng).
Tiến bảo, Tài đức (cung Tài).
Thiên Đức, Hỉ sự, Tiến bảo, Nạp phúc (cung Vượng.)
Tiến bảo, Tài đức, Phúc tinh, Cập đệ (giữa cung Tài và Đinh).
-Chiều cao phần khối vuông
107cm
Đăng Khoa, Quý tử, Thiêm Đinh (cung Hưng).
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
-Chiều cao phần giật cấp
101cm
Hoành tài, Thuận khoa (cung Quan).
Thiên đức, Hỉ sự, Tiến bảo (cung Vượng).

-Chiều cao phần trụ tròn có hoa văn rồng
107cm
Đăng Khoa, Quý tử, Thiêm Đinh (cung Hưng).
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
-Chiều cao lỗ ngoàm dầm chống (gáy dầm chống)
16,5cm
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
-Chiều rộng rãnh dầm ngang chịu lực (gáy dầm chịu lực)
23cm
Hoành tài, Thuận khoa (cung Quan).
Đăng Khoa, Quý tử (cung Hưng).
-Khoảng cách tâm 2 lỗ ngoàm dầm chống mặt tiền và mặt hậu còn đo được chính xác
70,5cm
Cô quả (cung Thất).
Thiên đức, Hỉ sự (cung Vượng).



Theo bảng đối chiếu trên, các nhà nghiên cứu lịch sử có thể có những suy nghĩ liên hệ nó với cuộc đời Ỷ Lan, Lý Nhân Tông cũng như mục đích xây dựng chùa Dạm. Có thể chính xác thế chăng khi đo trên mặt đá gồ ghề? Chả lẽ thước đời Lý lại là 2 loại Lỗ Ban mà một loại ứng với 39cm chẵn (0,39m) và một loại ứng với 43cm chẵn (0,43m)? Câu hỏi thứ nhất có thể trả lời bằng cách cầm thước đi đo cột đá, vì nó rất gần Hà Nội, nó đã còn 900 năm và nó đang còn. Câu hỏi thứ 2 thì trên thước nó đã cho những chỉ số hiển nhiên biết làm sao được. Riêng chúng tôi sắp tới sẽ đi đo tất cả những gì là kiến trúc mà nhà Lý còn để lại vì số đó quả không nhiều lắm. So sánh hai bản số liệu, chúng tôi nghiêng về phía cho rằng nhà Lý đã dùng thước đo Đường Tống. 

Bài viết hết phần 2 này, ở cả phía tín ngưỡng và các số liệu mô tả chỉ cho ta kết luận hiển nhiên rằng: những người tạo tác cột đá hành động theo tư duy kiến trúc thời đó và cột đá càng đích thị là cái chùa Một Cột còn đứng trơ gan khi chùa đã đổ sập về phía núi (phía Bắc). Nhưng vấn đề không dừng lại ở đây.

3. Suy luận đến đâu là vừa:

Tôi không chép lại đây những gì mà những văn bản khả tín trung đại đã ghi về Lãm Sơn. Để hiểu các văn bản đó một cách thông thường là không khó lắm (hiểu xuyên qua folklore mới khó) và ghi chép lại chỉ là chuyện công phu. Tôi cũng biết rằng, cho đến nay, sự kiện dựng chùa Một Cột, thậm chí dựng cột đá Lãm Sơn đi nữa  quan trọng đến thế nhưng chưa phát hiện một dòng ghi nào về nó. “Lập thạch trụ vu địa (đìa?) trung là chuyện ở Thăng Long trước làm chùa Dạm gần 40 năm. Nhưng có những chuyện cung cần nói thêm.

Cột đá này được tạo tác bằng chất liệu đá cát kết nguyên khối, loại đá này phổ biến từ núi Tiêu (núi sót cuối cùng) lên đến Lục Ngạn. Nhìn độ sâu của lốt đục và màu đá, ta thấy đây là loại cát kết điển hình, không non cũng chẳng già quá. Loại đá này có tỉ trọng 265 gram trên một cm khối. Ta thử làm một phép tính nhân thì sẽ được một khối lượng 12 m khối cho phần nổi của cột đá trên mặt đất. Nếu đây là một cột đá lăn từ núi xuống hoặc chở nơi khác đến (lý do đào ngòi Con Tên hướng phần chính nam ra sông Đuống, ngòi to, rộng, thẳng như tên bắn và chắc là sâu, hiện còn vết tích(?) thì chắc sẽ còn phần chân là 4m khối. Ta có một trọng lượng toàn bộ cột dễ đến hơn 42 tấn cả thảy. Để chở khopois lượng này bằng cách cốn bè với sông sâu là được, còn để kéo nó trên đất bằng phải ước lượng 840 người. Còn kéo lên núi với độ cao hơn 60m với nhiều giật cấp thì ông cha ta là đồng long gắng sức, muôn người như một. Đã diễn ra một kì tích ở đây. Chúng ta có thể tưởng tượng đến một đại công trường cổ với niềm vui cộng đồng, tâm lí hướng thần, hướng thượng và một niềm đam mê tôn giáo tuyệt vời. Nhìn các tháp Chăm chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Chúng tôi nghiêng về phía trụ đá này đã được dựng nên. Nhưng nếu nó vốn đứng đó 165 triệu năm trước thì sao? Ngăm hướng đi, nhịp điệu của những lốt đục trên phần khối vuông còn để lại chúng tôi nghi nó được tạo nên trong tư thế đứng thẳng và của những người cầm búa tay phải. Nhưng mà thôi, câu hỏi này quá dễ trả lời khi ta cần một mũi khoan bé nhỏ bên cạnh, không ảnh hưởng gì về mặt vật lý cũng như cảnh quan. Đến lúc đó, chúng ta sẽ rõ hơn nó là văn hóa cự thạch, văn hóa ling a, văn hóa trụ biểu hay văn hóa…chùa Một Cột và hay là một tích hợp tất cả, vừa đứt đoạn, vừa liên tục.

Còn như bây giờ, tôi mạnh dạn đọc nó theo nghĩa chính, nghĩa đen là cột đá chùa Một Cột núi Dạm. Khi tôi phát ngôn từ xem, mặc dù nó được cấu tạo cả về không gian thời gian là bằng phụ âm đầu x, nguyên âm chính e và phụ âm cuối m nhưng thông tin của tôi đến người nghe không phải là thế và tư duy của tôi cũng không nghĩ đến. Những lớp văn hóa khác tích lũy trong cột đá này cũng vậy. Trước hết phải gọi nó, hiểu nó như cái chức năng, tác dụng, ý nghĩa mà nó được chứa đựng.

Dựa trên hai mặt tây và đông (trước và sau) còn đo được chính xác, chúng tôi thấy khoảng cách lỗ ngoàm 1 và 2, 4 và 5 (từ tâm ngoàm đếm tâm ngoàm) đều là 70,5cm (lại là một con số tuyệt đẹp của thước Lỗ Ban: Thiên đức, Hỉ sự cung Vượng ). Chúng tôi cho rằng nếu phần này được gia công tuyệt đối tròn thì tât nhiên đường kính của trụ tròn theo tính toán sẽ là 134,7cm (các tài liệu trước đây cho rằng nó khoảng 130cm). tôi cho rằng đây mới là con số chính xác trong tư tưởng những người dựng cột. trên thực chất, họ đã chia trụ đá làm 6 cung bằng nhau thành một dàn dầm chóng cân đối hoàn toàn. Điều tương hợp giữa con số thực địa và con số trong đồ án khiến chúng ta không thể có cách lí giải nào khác. Bài viết chúng tôi tạm dừng ở đây vì phần còn lại dành cho các nhà kiến trúc. Và chính phần còn lại này (thử dựng một ngôi chùa Lý lên cột đá đó) có thể làm được nhưng khó khăn muôn vàn vì đơn giản là chúng ta hầu như không còn một kiến trúc gỗ nào nguyên vẹn từ Lý đến giờ để tham khảo. Chùa Một Cột Hà Nội đẹp hài hòa, tinh tế và tài hoa nhưng đó chỉ là dị bản sau nhiều lần dị bản của nguyeenbanr đã mất đi. Nó còn xa nguyên bản hơn cả cái phục chế cột đá chùa Dam đặt tại Bảo tàng Mĩ thuật Hà Nội.

Kết thúc bài viết này, tôi cảm thấy vui khi một tuần hè của mình trôi qua có ý nghĩa, đặc biệt là tâm lý hướng đến 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Tôi xin được nhận sự góp ý của những người quan tâm./.


Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 1999. 
N.H.V. 

Tài liệu tham khảo: 
-Chu Quang Trứ - Mỹ thuật Lý – Trần, Mỹ thuật Phật giáo. Nxb Thuận Hóa. 1998.
-Nguyễn Bá Lăng – Kiến trúc Phật giáo Việt Nam – Tập 1, Nxb Đại học Vạn Hạnh, Sài gòn 1972.
-Xem: Ngô Thừa Cát : Trung Quốc độ lượng hành sử - Thương vụ ấn thư quán 1957, tr. 90.


-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

VĂN BIA THỜI LÝ CHO BIẾT NHỮNG GÌ VỀ KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO THỜI KỲ NÀY


 Chiểu thả sen, giữa hồ nổi lên một cột đá lớn, trên đỉnh cột là đóa sen vàng ngàn cánh nở rộ.

VĂN BIA THỜI LÝ CHO BIẾT NHỮNG GÌ VỀ KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO THỜI KỲ NÀY

Trần Thị Kim Anh
-viết riêng cho NXD-Blog

Văn bia thời Lý hiện còn cho biết về kiến trúc của 13 ngôi chùa. Dưới đây là những gì các văn bia ghi lại:
1. Chùa Linh Xứng trong văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (1089)
Chùa nằm trên sườn núi Ngưỡng Sơn (nay thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, Thanh Hóa) được Lý Thường Kiệt và Sùng Tín trưởng lão là thầy học của Thái Hậu Ỷ Lan chọn đất xây dựng trong 4 năm (1085-1089). Văn bia cho biết Lý Thường Kiệt và Sùng Tín trưởng lão đến vùng núi Ngưỡng Sơn, thấy cảnh trí thanh u, cây cối tốt tươi lại không quá xa làng xóm, bèn quyết định cho xây dựng chùa. Chùa được xây khá bề thế ở phía đông núi:
Ở giữa là điện Phật thênh thang; hai bên là nhà trai dài rộng rãi. Phía sau xây ngôi bảo tháp gọi là tháp Chiêu Ân, chín tầng chót vót, giăng mắc rèm the, cửa mở bốn mặt, lan can vây quanh. Góc mái treo chuông đồng nhỏ. Lan can hàng hiên quanh thềm. Đầy sân hoa cỏ. Trong chùa, ngự ở chính giữa trên cao là tượng Ngũ trí Như lai  mạ vàng rực rỡ, ngồi trên tòa sen trồi lên mặt nước. Quanh tường tô vẽ dung nghi đẹp đẽ của Thập lục bồ tát cùng các thứ bậc biến tướng muôn hình vạn tượng, không thể kể xiết.. Phía trước có cổng chính, trong treo chuông đồng, Thẳng ngay phía trước là một con đường, hai bên khơi ngòi dẫn nước đổ vào. Sát bên sông dựng ngôi đoản đình, thuyền bè qua lại thường dừng chèo tạm nghỉ, lên chùa quỳ gối chiêm bái.
2. Chùa Báo Ân trong văn bia An Hoạch sơn báo ân tự bi ký (1100)
Chùa Báo Ân ở núi An Hoạch (núi Nhồi), nay thuộc huyện Đông Sơn Thanh Hóa. Chùa do Lý Thường Kiệt cho xây dựng vào niên hiệu Hội Phong đời vua Lý Nhân Tông, bắt đầu từ mùa hạ năm 1099 đến mùa hạ năm 1100 thì hoàn thành. Văn bia cho biết:
Chùa ngoảnh hướng nam, Giữa đặt tượng phật Thích Ca Mầu Ni, tiếp đó bày tượng Bồ Tát, mặt đẹp rực rỡ sắc vàng, mình đều sơn vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành: Chùa được sơn vẽ rực rỡ, hướng về phía nam, trông ra quang cảnh của huyện Cổ Chiến. Đồng ruộng từng ô xanh tốt, phía sau liền với gò Tường Bằng. Bên cạnh sừng sững núi Bạch Long, một dòng sông trong xanh chảy ngang, làm thành một giải.
3.Chùa Diên Hựu trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1106)
Chùa được xây dựng vào năm 1049 thời vua Lý Thái Tông trong viên lâm phía tây cấm thành, theo cách dựng chùa trên kinh chàng (Nhất trụ tự) ở kinh đô Hoa Lư . Năm 1106 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân tông, chùa được trùng tu lớn. Sau khi trùng tu  chùa trở thành một quần thể kiến trúc với trung tâm là một hồ vuông gọi là hồ Linh Chiểu thả sen, giữa hồ nổi lên một cột đá lớn, trên đỉnh cột là đóa sen vàng ngàn cánh nở rộ. Giữa đóa sen là tòa điện nhỏ màu tía, Trong điện đặt tượng phật mạ vàng. Vây quanh hồ sen là hành lang chạm vẽ, vòng ngoài hành lang là hào nước xanh biếc, mỗi mặt đều bắc cầu vồng để đi thông vào, ở mỗi sân phía trước hai bên cầu đều dựng hai ngọn tháp lợp ngói lưu ly.
4.Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc trong văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi văn (1107)
Chùa do quan Thái phó Hà Hưng Tông xây dựng ở Tuyên Quang vào năm 1107 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân Tông. Chùa này:
Nhà liên tiếp bao quanh. Xà uốn cong cong như cầu vồng đôi nhịp. Mái hiên như cánh chim tung bay bốn phía, bày tượng vàng. Đốt trầm hương, treo chuông khánh, treo cờ phướn, trồng thông xanh.
5.Đài đèn Quảng Chiếu trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1116)
Đài đèn Quảng Chiếu được vua Lý Nhân Tông cho xây dưng vào năm 1116 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7. Mùa xuân hàng năm vào tết Nguyên tiêu, triều đình mở hội, đốt đèn rực rỡ một góc trời, tăng chúng đi vòng quanh đèn tụng kinh, quan liêu sắp hàng bái lạy, cầu cho quốc thái dân an. Hội đèn Quảng Chiếu đã tồn tại rất lâu, suốt đến hết thời Trần.
Theo văn bia, Đài đèn Quảng Chiếu là một quần thể kiến trúc ở phía trước cổng Đoan Môn của hoàng thành Thăng Long, bao gồm một đài đèn lớn, điện phật, tháp tượng, lầu chuông. Quần thể kiến trúc này được mô tả khá kỹ như sau: 

Đèn được đặt trên đài, gồm một cây cột lớn được gắn bảy tầng đèn, mỗi tầng đèn gồm những tay đỡ hình rồng uốn cung chìa ra. Mỗi hình rồng đỡ một đóa sen thếp vàng, giữa đóa sen đặt một ngọn đèn lớn, mỗi ngọn đèn được che bằng một chiếc lồng may bằng nhiễu, dưới đài giấu một trục bánh xe để giúp cây đèn lớn này xoay tròn, tỏa ánh sáng  rực rỡ một góc trời. Cây đèn này được đặt trong tổng thể kiến trúc gồm một tòa điện Phật trang nghiêm, hai bên là hai dãy tượng tạc vẽ sinh động, tiếp đó là hai tòa lầu sơn vẽ lộng lẫy, trong treo chuông đồng và tạc hình thầy tăng mặc áo quê, có giấu máy ở bên trong, khi máy hoạt động thầy tăng giơ vồ chuông lên như sắp đánh, nghe tiếng vỗ bao kiếm là quay đầu lại, nhìn đức vua mà khom lưng cúi đầu. Phía sau là dãy tháp thất bảo rực rỡ. Chính giữa là ngọn tháp vàng, trong đặt tượng Đa Bảo Như Lai, bày mấy tầng chân hình pháp giá, màu ngói rực rỡ như mây biếc. Tiếp hai bên là hai tòa tháp bạc, tòa bên trái đặt tượng A Di Đà Như Lai, tòa bên phải để Diệu Sắc Thân Như Lai, dáng tháp cao khỏe, vút lên, lấp lánh ánh bạc. Tiếp nữa là hai tòa tháp đá chạm, tòa bên trái để tượng Quảng Bác Thân Như Lai, tòa bên phải bày tượng Ly Bố Úy Như Lai, làm gác cao hình tròn, dựng tầng chênh vênh, nóc lợp ngói quý, vách chạm hình rồng. Cuối cùng là hai tòa tháp bằng ngà voi, tòa bên tả bày hình Cam Lộ Vương Như Lai, tòa bên hữu là Bảo Thắng Như Lai, thềm bằng đá mộc, cột hiên gác cao, rường cột chạm vẽ, các khe đều nạm sừng tê, xung quanh tòa sen đều khắc bài ký, vẽ chín tầng trời bằng ngũ sắc, khắc câu đối ở bốn cột. Bày đèn lấp lánh  hai bên.
Qua đó có thể thấy đây là một quần thể kiến trúc lớn, độc đáo, được làm công phu tốn kém, là một sáng tạo tuyệt vời về kiến trúc ở thời Lý, xứng đáng sánh ngang với các công trình kiến trúc nổi tiếng trong khu vực. Cùng với cây đèn là hội đèn Quảng Chiếu với nghi lễ trang nghiêm mang tính quốc lễ, đậm chất Việt. Theo tôi, việc cho phục dựng công trình kiến trúc này và lễ hội đèn Quảng Chiếu tại Thăng Long – Hà Nội là điều Bộ văn hóa và Giáo hội Phật giáo nên tiếp tục trình Chính phủ xem xét.
6.Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh trong văn bia Sùng Nghiêm Diên thánh tự bi minh
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh do Thông phán họ Chu -  người được cử làm quyền trấn giữ, cai quản quận Cửu Chân cho xây dựng năm 1116 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7, đời vua Lý Nhân Tông, trên nền một ngôi chùa cũ ở góc phía nam thành quận này. Văn bia cho biết:
Chùa sát đường lớn. Rường nhà cong cong như cầu vồng nhô ra, lợp gói uyên ương. Các góc mái vươn lên như cánh bay, khắc hoa văn hình rong, chạm trổ hình phượng múa. Mái cong, song lượn, Tường vách vây quanh, lang vũ  bao bọc, Bên hữu có vườn thơm, phía tả có ao sen. Dựng nhà khách, xây nhà bếp.
Trong chùa thì chùa chiền ngăn nắp, tượng phật trang nghiêm. Đúc ba pho tượng Như lai bằng đồng. Chính giữa đặt tượng Thích ca mâu ni phật, tượng Ca Diếp một bên, tượng Từ Thị (Di Lặc) một bên. Chạm đá làm đài hoa sen để đặt tượng. Thứ đến là tượngTân Đầu hòa thượng ngồi trên ngọn núi Ma lị, đặt trước cửa phật gọi là Hộ Pháp. Đúc một quả chuông lớn, dựng giá lớn ngoài hiên chùa, treo bằng dây đồng, đánh bằng vồ gỗ. Lại vẽ các tranh trên tường về các duyên nhân quả, thiên biến vạn hóa tường tận khúc nhôi. Tượng phật thì có cả tượng đất cả tượng đồng.  
7.Chùa Long Đội và tháp Sùng Thiện Diên Linh trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi
Chùa Long Đọi nằm trên núi Đọi sơn có tên chữ là Diên Linh tự. Chùa được vua Lý Nhân Tông cho xây dựng, bắt đầu từ niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín (1118), đến mùa thu niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) thì hoàn thành. Chùa hướng ra sông Kinh, lưng tựa núi Điệp. Văn bia miêu tả chùa và tháp khá cụ thể, khiến ta có thể hình dung ra chùa Long Đọi là một tổng thể kiến trúc gồm ba cấp (theo độ dốc của sườn núi):
Bậc trên cùng là thềm tháp, trên thềm tháp dựng cây tháp vuông bốn mặt, cao 13 tầng, các tầng có cửa, Đỉnh tháp đặt tượng người tiên bưng mâm hứng sương lành. Các tầng mái tạo góc uốn cong, các góc mái đều treo chuông nhỏ. Vách tháp đều tạc rồng ổ. Trong tháp, tầng trên cùng thờ xá lỵ Phật, tầng dưới cùng đặt tượng Đa Bảo Như Lai thếp vàng, bên trên tượng có treo phướn treo lọng, có tượng bát vị kim cương bằng đá đứng hộ vệ. Thềm tháp có bậc lên xuống, hành lang giải vũ tỏa ra hai bên.
Bậc tiếp liền thì bên tả xây ngôi nhà tứ giác mái vòm, có đôi rồng cuổn trấn giữ, đội Bát vị kim cương chầu trời. Bên hữu dựng khám vuông mái nhọn kiểu Phạn, trong là tượng Tân đầu hòa thượng (tức Tân Đầu Lô - Bhâradvâja) đặt trên ngọn núi Ma Lị.
Bậc dưới thì  phía trước dựng gác Lăng Hán, treo khánh đá quý. Xây tường vây giữ, làm hành lang giải vũ để điểm tô, làm cầu thông ra con đường lớn trồng hai hàng thông hai bên. Vật liệu kiến trúc gồm đá gỗ và gạch.
Đây cũng là một công trình kiến trúc đặc sắc của thời Lý. Có lẽ trongtương lai, chúng ta nên  phục dựng lại những công trình như đài đèn Quảng Chiếu, chùa tháp Sùng Thiện Diên Linh, bởi chúng hoàn toàn là của ta, là tinh hoa trí tuệ của Phật giáo Việt Nam?. 
8.Chùa Hương Nghiêm trong văn bia Càn Ni Hương Nghiêm tự bi minh
Chùa Hương Nghiêm vốn là một ngôi chùa cổ, do Bộc xạ tướng công Lê Lương xây dựng từ đời hậu Đường (923 – 937) tại núi Càn Ni (nay thuộc làng Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Thời Tiền Lê, vào năm 1003, vua Lê Đại Hành đi tuần du, đến giang Ngũ Huyện ở Thanh Hóa thấy chùa đổ nát cho chữa lại. Đến Thời Lý, năm 1031, vua Thái Tông đi chơi về phương nam, tới Ái Châu thấy chùa đổ nát lại cho tu sửa. Năm 1122 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ đời vua Lý Nhân Tông, sư Đạo Dung ở kinh thành về thăm thấy chùa cũ nát lại cho trùng tu. Chùa trùng tu xong được mô tả là:

Tượng phật đặt trên các bệ đá cao chạm khắc núi non sóng nước. Mái cong cong như cánh trĩ; ngói lớp lớp như vẩy xếp. tường làm lan can thoáng mát; cổng rộng lớn. Mé trái có một tòa lầu nguy nga, trong treo chuông lớn. Bên phải dựng tấm bia đá ghi công đức. Tường xây bao quanh, cách xa trần giới; có hoa tươi tốt, ngào ngạt khói hương.
9.Chùa Thánh Ân trong văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh
Chùa do Tín nữ Diệu Tính, cháu gọi Thái úy Lý Thường Kiệt bằng cậu, đến lập trang viên ở núi Ngưỡng Sơn cho xây dựng ở phía đông núi. Trong chùa đặt Phật vàng và các vị Bồ tát phò tá hai bên, trải qua bốn năm, công việc mới hoàn thành.

10.Chùa Viên Quang trong văn bia Viên Quang tự bi minh
Chùa Viên Quang do Thiền sư Giác Hải xây dựng vào năm 1137 niên hiệu thiên Chương Bảo Tự năm thứ 5 đời vua Lý Thần Tông. Chùa rất đẹp, các vua Thần tông và Anh tông nhà Lý thường đến thăm.
Bảo điện nghiêm trang vách vàng rực rỡ, bên trong đặt tượng phậtA Di Đà, bên cạnh là Bồ Đề Đạt Ma. Các vị bồ tát đứng hầu tả hữu. Bên ngoài là hai vị Hộ Pháp giơ qua đứng hai bên. Hoành phi đề là Viên quang tự. Lại làm lầu cao bên trong, làm gác chuông, tháp nhạn cao vút, nhà bếp ngang dọc phía sau, thờ tổ sư 6 đời. Cổng chính uy nghiêm sừng sững phía trước, mở ra đường lớn
11.Chùa Diên Linh Phúc Thánh trong văn bia Phụng thánh phu nhân Lê Thị mộ chí
Chùa Diên Linh Phúc Thánh do phi tần của vua Lý Thần Tông là Lê Thị Lan Xuân đứng ra xây dựng trên núi Ngọc Phác (nay thuộc xã Hương Nộn, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phúc) vào năm 1145 niên hiệu Đại Định đời vua Lý Thần Tông, vừa để hoằng dương Phật pháp vừa để thờ phụng tổ tiên, Được đặc ân thánh chỉ cấp cho thợ thuyền, gỗ ngói. Chùa xây xong uy nghiêm tráng lệ, trở thành nơi lui tới của phật tử một vùng.
12.Chùa Diên Phúc trong văn bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh
Chùa Diên Phúc còn gọi là chùa Tổng, nay là thôn Cảnh Lâm, xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ,  tỉnh Hưng Yên. Chùa do thân mẫu của Thái uý Việt Quốc Công Đỗ Anh Vũ đứng ra xây dựng vàonăm 1156 niên hiệu Đại Định năm thứ 17 đời vua Lý Anh Tông. Chùa được bố cục như sau
Ở giữa là một tòa điện tía, hồi lang mở rộng ở mặt ngoài, trong đặt tượng Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát, hai bên là Văn Thù cưỡi sư tử,  Phổ Hiền cưỡi voi trắng, bên tả là Bà Tẩu tiên nhân (Vasu), bên hữu là Công đức thiên nữ (Sridevi), bậc dưới tòa sen có Tứ Đại Thiên vương hộ vệ, hai bên nhà lang vũ đặt Bát đại Kim Cương . Góc phía trước lang vũ đặt tượng Pháp Thi. Phía trong của tam quan dựng hai tượng Thiện thần Hộ Pháp. Chi sơn hòa thượng, thổ thần đại vương đứng đối nhau ở nhà lang vũ phía trước, bên ngoài lang vũ phía trước thì bên tả dựng lầu cao để treo chuông, bên hữu xây nhà che văn bia. Bên ngoài tam quan đào hai ao hai bên để trồng sen, phía sau chính điện mở một kho để chứa thóc lúa.
13.Chùa Báo Ân trong văn bia Báo Ân thiền tự bi ký
Chùa ở xã Tháp Miếu huyện Yên Lãng, nay thuộc huyện Mê Linh Hà Nội. do một một người họ Nguyễn xuất thân võ tướng đứng ra xây dựng vào năm 1210 niên hiệu Trị Bình Long Ứng năm thứ 6 đời vua Lý Cao Tông. Chùa được mô tả:
Cung cao, điện lớn, cột sơn vẽ rực rỡ, tòa sen lộng lẫy, tượng vàng trang nghiêm, tàn phướn muôn màu. Gác phượng treo chuông lớn, đài rồng treo khánh quý.
***
Qua những mô tả trong văn bia, kết hợp với một số tư liệu hữu quan khác, tôi xin đưa ra một số nhận xét nhỏ dưới đây về kiến trúc Phật giáo thời Lý:

1-Thời Lý, nhiều công trình kiến trúc Phật giáo được làm với quy mô lớn, tráng lệ, do vua, đại sư, đại thần, hậu phi trong triều đình đứng ra xây dựng.

2-Đến thời Lý, đã khá ổn định một phong cách chùa Việt, thể hiện rõ rệt ý thức tự khẳng định mình của Phật giáo Việt Nam trong sự tiếp thu hợp lý các yếu tố mang màu sắc Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa. Chỉnh thể phong cách chùa thời kỳ này thường là kiến trúc điện đường lang vũ và bảo tháp kết hợp với vẻ đẹp của phong cảnh tự nhiên. Sự khéo léo của con người được kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên.

3-Ở thời Lý, mô thức kiến trúc chùa - tháp rất thịnh hành. Tháp còn được gọi là phù đồ. “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Đây cũng là điện gác dùng để thờ Phật. Tháp thời Lý hoặc ở trung tâm của ngôi chùa (Sùng Thiện Diên Linh), hoặc ở phía sau hay bên cạnh chính điện. Tháp thường có mặt bằng hình vuông, cao 7, 9 hoặc 13 tầng, các tầng có mái cong chìa ra, góc mái treo chuông nhỏ, tường vách thường chạm rồng hoặc sơn vẽ, vật liệu kết hợp cả gạch, đá và gỗ.
4-Bố cục chùa thời Lý thông thường là lấy điện Phật hoặc tháp làm trung tâm, trai đường, lang vũ phối hợp hai bên. Cũng có chùa theo kết cấu tiền hậu tả hữu phối hợp, lớp lớp điện đường sâu vào trong (như chùa Viên Quang). Phía trước thường là lầu chuông, lầu khánh, nhà bia, cổng chính. Đôi khi cổng chính xây thêm gác ở trên làm gác chuông. Tường vây quanh. Sân chùa trồng hoa lá cây cối, trước chùa có ao sen. Quanh chùa trồng thông.
5-Chùa tháp thời Lý đều có mái cong, tùy theo quy mô mà lợp ngói uyên ương, ngói lưu ly hoặc ngói vẩy cá và sườn mái có gắn hình ly vẫn (một loài chim thần) để trang trí và tỵ tà. Chân tảng kê cột đều bằng đá xanh chạm cánh sen tỏa, cột đá thì chạm rồng, cột gỗ thì sơn thếp. Trên tường sử dụng nhiều bích họa về tích Phật, bích họa đều được vẽ ngũ sắc. Phía trước dùng vách gỗ có song con tiện tạo độ thoáng.
6-Trong chùa, bố trí tượng phật không thống nhất. Đặc biệt tượng Phật ở chính điện, nơi là Đa Bảo Như Lai, nơi là Ngũ Trí Như Lai, nơi là Thích Ca Mầu Ni, nơi là A Di Đà, nơi là Quán thế âm Bồ tát. Có lẽ do tùy theo các môn phái song mang nhiều màu sắc Mật tông. Thời kỳ này chưa thấy thờ tam tôn như về sau. Do văn bia không phản ảnh đầy đủ nên chỉ xin nói qua như vậy, chờ các nhà am hiểu cho biết thêm. Tiếp đó là Bồ Đề  Đạt Ma, A Nan, Ca Diếp, Văn Thù, Phổ Hiền, Tứ đại thiên vương. Bát vị Kim Cương, Thập bát La Hán, Thập lục Bồ Tát, Hộ Pháp …, tùy theo quy mô mà chùa ít chùa nhiều. Đến cuối thời Lý, lối bố cục của chùa Diên Phúc như đã mô tả ở trên có lẽ là sự bắt đầu cho một mô thức chung khá thịnh hành về sau. 
7-Tượng Phật thời Lý thường bằng đá, gỗ, đất, được chạm khắc sơn vẽ lộng lẫy sinh động. Tượng ở chính điện hoặc bằng đá, hoặc bằng gỗ, đôi khi bằng đồng, song hầu hết đều thếp vàng, đều đặt trên tòa sen chạm khắc tô vẽ khéo léo, được treo thêm phướn lọng bên trên để tạo vẻ uy nghi. 
8-Chùa thời Lý có nơi người đứng ra xây dựng chùa cho xây thêm nhà thờ cha mẹ tổ tiên để báo hiếu (Chùa Diên Linh Phúc Thánh), điều này sang thời Trần khá phổ biến. Đây có lẽ là nguồn gốc dẫn đến tục gửi giỗ lên chùa trong dân gian, để dần dần tục lệ này kết hợp với việc công đức cúng dường cho nhà Phật mà diễn biến thành tục lập Hậu phổ biến ở các đời sau - một tục lệ tốt chỉ riêng có ở Việt Nam. 
Do hiểu biết về Phật giáo còn rất hạn chế nên tôi chưa thể khai thác hết những gì văn bia cung cấp, đồng thời những nhận xét trên đây có thể cũng rất nhiều sai lầm, rất mong được các nhà am hiểu chỉ giáo thêm và lượng thứ.
Hà Nội 3/3/2011
*Bài viết do nhà nghiên cứu Trần Kim Anh viết và gửi riêng Nguyễn Xuân Diện-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Trần Thị Kim Anh: TRAO ĐỔI TIẾP VỀ CỘT ĐÁ CHÙA DẠM

.
Trao đổi tiếp về cột đá chùa Dạm
Trần Thị Kim Anh

Lời dẫn của T- Blog: Bài viết này, tác giả Trần Thị Kim Anh nhằm trao đổi với một độc giả có ý kiến bình luận dưới đây, đăng trên Tễu Blog:

Chị Kim Anh nữ sĩ thân yêu của em. Em tra mãi các từ điển mà chưa ra cái chữ "Phật tràng", chỉ gặp cái chữ là "Kinh tràng / chàng" hoặc "thạch tràng / chàng" mà thôi. Kinh tràng có nghĩa như sau:Nhà Phật viết kinh vào lá cờ dùng làm nghi vệ thì gọi là kinh tràng, khắc vào cột đá thì gọi là thạch tràng. Cũng có khi người ta chú giải: Kinh chàng, cũng được gọi là thạch chàng. Cây cột đá có khắc văn kinh. Thông thường là cột đá hình bát giác khắc kinh Phật đính tôn thắng đà la ni. Phong tục này thịnh hành ở Trung quốc từ khoảng giữa đời Đường đến đời Ngũ đại Liêu Kim. Về sau truyền đến Triều Tiên, Nhật bản. Hiện nay rất nhiều di tích Kinh chàng còn được tìm thấy ở miền Bắc Trung quốc. Đọc "tràng" hay "chàng" thì cũng một chữ mà thôi.

Như vậy, cái khái niệm "Phật tràng" mà chị nói có thể là cách nói tắt "Phật kinh tràng" rồi bỏ chữ "kinh" đi chăng? Hoặc nó là một tạp ngữ / tục ngữ nên từ điển không đưa vào. Bởivậy, ta nên cứ nói là Thạch tràng hoặc Kinh tràng cho nó ổn. Ngày trước, khi thầy Hà Văn Tấn viết bài về mấy Kinh tràng Hoa Lư chúng em cũng đã dị nghị một số điều cần sửa rồi. Hai cái "kinh tràng" tiêu biểu, gần như cùng thời, ở ta là: 1 ở Nhất trụ tự (Hoa lư), 1 ở thôn Cầu Tự (vốn là Cựu tự) ở xã Ngọc xá huyện Quế võ, Bắc ninh. Bao giờ chị em mình lên đó chơi.

Còn cái chuyện cái cột đá chùa Dạm là gì, em mách chị gõ lên mạng mấy chữ Hán " Đăng Tháp - Đồng Tử Tự " thì thấy rõ Lý Nhân Tông đã "kiến Quảng chiếu chi đăng đài, hướng đoan môn chi đình thượng" ở Lãm Sơn như thế nào. Nó cũng là cái Đăng đài quảng chiếu như cái Đăng đài chùa Đồng tử đời Bắc Tề (dựng năm 556, cao 4m có 6 góc) bên Trung quốc thôi. Có điều cái của mình cao đẹp hơn 1 ít. Ông Nguyễn Hùng Vĩ ngày xưa nói trúng rồi đấy. Kính.


1. Cột đá chùa Dạm có phải là Nhiên đăng đài không?

Gần đây, ở bài viết Cột đá chùa Dạm là một Phật chàng đăng trên Blog NguyễnXuân Diện, tôi đã cho rằng cột đá này có thể là một Phật chàng - Kinh chàng. Về Phật chàng, một độc giả có ý kiến rằng không biết tại sao lại gọi kinh chàng là Phật chàng?, cũng xin được nói luôn, đây là từ gọi tắt kinh chàng Phật giáo, bởi có cả kinh chàng Đạo giáo khắc Đạo đức kinh. Từ này các nhà nghiên cứu văn hóa Phật giáo TQ có dùng, không có gì lạ.
 
Vừa rồi nhân được đọc bài Về cây cột đá chùa Dạm của Tạ Chí Đại Trường ở trang vietsuky.wordpress.com (Bài nguyên được đăng trên Tạp chí Xưa & Nay số 400, tháng 3/2012), thấy ở phần ý kiến, ông Nguyễn Hùng Vĩ đã viết rất khẳng định và dứt khoát rằng Cột đá chùa Dạm là đăng đài tương tự đăng đài chùa Đồng Tử ở Trung Quốc: “Cũng chân tháp 1 cột, cũng song long hiến châu, cũng đến tòa sen, cũng đến công trình kiến trúc 6 góc để đốt đèn, cũng là công trình bằng đá, cũng cao gần tương tự (cao hơn 4 m).Cái may là ở bên đó chưa phế tích bằng bên ta nên nom còn rõ lắm”.

Trăm nghe không bằng một thấy, để xem cột đá chùa Dạm có phải là đăng đài không tôi đã mò mẫm đi tìm, và xin độc giả cùng xem ảnh dưới:

 Nhiên đăng tháp chùa Đồng Tử khi chưa phục chế.

Nhiên đăng tháp chùa Đồng Tử như trong ảnh giúp ta hiểu, người ta đốt đèn ở bên trong để ảnh sáng tỏa ra từ các cửa, không có treo đèn xung quanh như Nguyễn Hùng Vĩ cho biết. Nếu thu nhỏ cây đèn này lại, ta thấy nó tương tự những cây đèn đá được lắp đặt trang trí trong các vườn cảnh Nhật Bản.

So sánh hai phế tích có thể thấy cột đá chùa Dạm có quy mô khác hẳn, tuy chỉ còn phần cột ở dưới nhưng rõ ràng quy mô của nó đem lại cho người chiêm ngưỡng một cảm giác thiêng liêng tôn kính, không thể đơn thuần chỉ là một cây đèn. Xin xem thêm một nhiên đăng tháp thời Đường nữa để so sánh:

Nhiên đăng tháp (Bột Hải quốc thời Đường - tỉnh Sơn Tây TQ)

Cột đá chùa Dạm không thể là một kiến trúc đơn giản như thế này.

Theo tôi, cột đá chùa Dạm với tầm vóc kiến trúc cùng điêu khắc rồng tinh tế và những lỗ mộng lớn còn lại cho phép người ta hình dung trên đỉnh cột phải là một kiến trúc bề thế uy nghiêm. Đồng thời căn cứ ý kiến (cũng tức là ý tưởng kiến trúc ban đầu của chùa Một Cột) của một vị sư khuyên vua Lý nên dựng cột đá trên đặt đài sen và tượng Phật mà Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại; ngoài ra tham khảo thêm ý kiến về Liên hoa đài chùa Một Cột của TS Trần Trọng Dương trong bài Chùa Một Cột không phải là chùa (báo Tia Sáng), tôi vẫn giữ ý kiến về mặt kiến trúc, cột đá chùa Dạm nguyên là một kiến trúc kết hợp gỗ đá, bên trên cột đá là đài sen lớn cùng tượng Phật được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng; còn về mặt biểu tượng, xin rút lại ý kiến đây là một Phật chàng mà nghiêng về ý kiến đây là một Liên hoa đài, tương tự Liên hoa đài chùa Diên Hựu (theo ý kiến về Liên hoa đài của TS Trần Trọng Dương).

2. Cột đá chùa Dạm có phải là phế tích của Đăng đài Quảng Chiếu không?

Sau khi khẳng định cột đá chùa Dạm là đăng đài, Nguyễn Hùng Vĩ khẳng định thêm rằng đây là phế tích của Đăng đài Quảng Chiếu được ghi lại trong bia Sùng Thiện Diên Linh. Về điều này, ông viết: “Theo tôi, cuối cùng cột đá chùa Dạm vẫn là phế tích còn lại của Đăng Đài Quảng Chiếu mà Lí Nhân Tông đã dựng lên và mở hội đèn Quảng chiếu ở đó để hoằng dương phật pháp như bia Sùng Thiện Diên linh đã ghi”.

Ở đây tôi không hiểu lắm ý của Nguyễn Hùng Vĩ, bởi đăng đài Quảng chiếu vốn được dựng trước cửa Đoan Môn của Hoàng thành Thăng Long, không phải ở chùa Dạm, sao có thể coi cột đá chùa Dạm là phế tích của đăng đài Quảng Chiếu, hay tác giả có ý nói cột đá chùa Dạm nguyên có kiến trúc tương tự đăng đài Quảng Chiếu ở Thăng Long?.  

Lại nữa, ở trên Nguyễn Hùng Vĩ đã cho rằng cột đá chùa Dạm tương tự đăng đài chùa Đồng Tử, ở dưới lại nói nó là phế tích của đăng đài Quảng Chiếu, Đã là phế tích của đăng đài Quảng chiếu thì sao không dựng lại nó theo hình mẫu đăng đài Quảng Chiếu được miêu tả rất kỹ trong văn bia Sùng Thiện Diên Linh mà lại đi so sánh nó với đăng đài chùa Đồng Tử, vậy thì theo Nguyễn Hùng Vĩ đăng đài Quảng Chiếu cũng giống đăng đài chùa Đồng Tử sao?.

Nếu so với cột đá chùa Dạm thì đăng đài Quảng Chiếu có kiến trúc khác hẳn, bởi đây là một kiến trúc hoàn toàn bằng gỗ, có thể xoay tròn như kiến trúc Cửu phẩm liên hoa ở thời Lê sau này (điều này chính Nguyễn Hùng Vĩ cũng đã nói tới trong bài viết Tiếp tục quan sát cột đá chùa Dạm đăng trên trang Khoa Văn học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội). Kiến trúc đăng đài Quảng Chiếu qua miêu tả của văn bia Sùng Thiện Diên Linh có thể dựng lại đại để như sau: Đèn được đặt trên đài, là một cây cột lớn được gắn bảy tầng đèn, mỗi tầng đèn gồm những tay đỡ hình rồng uốn cung chìa ra. Mỗi hình rồng đỡ một đóa sen thếp vàng, giữa đóa sen đặt một ngọn đèn lớn, mỗi ngọn đèn được che bằng một chiếc lồng may bằng nhiễu, dưới đài giấu một trục bánh xe để giúp cây đèn lớn này xoay tròn, tỏa ánh sáng rực rỡ như mặt trời.

Với cây đèn này, vào ngày lễ, sư tăng đi vòng quanh vừa tụng kinh vừa đẩy cho đèn xoay tròn tương tự như cách hành lễ ở Cửu phẩm liên hoa. Vậy làm sao cột đá chùa Dạm lại có thể là phế tích của Đăng đài Quảng Chiếu được?

T.T.K.A
-->đọc tiếp...