Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên Ngọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên Ngọc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

HỒ CƯƠNG QUYẾT: ĐẨY LÙI NỖI SỢ HÃI ĐỂ CỨU ĐẤT NƯỚC

Các bài học Munich và những nơi khác: Đẩy lùi nổi sợ để cứu đất nước

André Menras, Hồ Cương Quyết
Nguyên Ngọc dịch từ nguyên văn tiếng Pháp.


Nhiều đồng bào Việt kiều Đức của chúng ta đã tường thuật trên Internet: cuộc biểu tình ở Munich ngày 20 tháng mười, chống bành trướng Trung Quốc, các buổi chiếu ở Munich và Nurnberg bộ phim tài liệu « Hoàng Sa Việt Nam, Nổi đau mất mát » – vẫn luôn bị cấm ở Việt Nam – đã thật sự thành công.

Được mời tham dự các hoạt động ấy, tôi đã là đối tượng của một sự đón tiếp bất ngờ và rất cảm động của những người những người bạn trước đó chưa từng quen. Ở Munich : căn nhà với các phòng bằng kính nơi trồng một cây thông Alep cao 3 mét và một cây chuối trổ những quả chuối Việt Nam tại ngay trung tâm thành phố Đức đẹp đẽ này. Ở Nurnberg : phòng ngủ khắc khổ mà thịnh tình của chùa phật giáo Vĩnh Nghiêm nơi đứng cạnh nhau là tượng vua Hùng Vương và tượng Đại đế Carolus (Karl der Groβe). Hai nơi thật khác biệt song đều thấm đượm cùng một không khí thanh tịnh bình thản và mạnh mẽ, hòa nhập đến tận cùng với đất nước tiếp nhận chúng mà vẫn sâu đậm tâm hồn Việt Nam quê hương.

Một cuộc biểu tình tuyệt đẹp !

Cuộc tuần hành ở Munich thật mẫu mực về tư thế. Khởi đầu là một giờ phát biểu của các bộ phận tham gia tổ chức trước quảng trường Đại học. Bốn chiếc xe cảnh sát địa phương cực kỳ thân thiện và sẵn sàng bảo vệ theo suốt, đoàn người đã tuần hành trong hai giờ liền, yên tĩnh và vui vẻ trên ba cây số của đại lộ lớn nhất của Munich nối liền trường Đại học với các con đường đông người qua lại ở trung tâm thành phố. Tại đấy, trước hàng trăm người qua đường và những người Đức tò mò đã biến thành khán giả, lại có một cuộc phát biểu mới, kéo dài một tiếng đồng hồ. Trên những tấm băng rôn lớn màu xanh là những khẩu hiệu được suy tính rất kỹ, chữ trắng, bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Đức, tố cáo chính sách bành trướng của những người lãnh đạo Bắc Kinh. Tấm bản đồ Việt Nam lớn, với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nổi bật, được giương lên kiêu hãnh ở đầu đoàn người. Những tấm băng rôn dài được bố trí dọc hai bên, thuận tiện cho người qua đường có thể đọc, trong khi các cô chủ nhà duyên dáng mặc áo dài và đội nón lá truyền thống vừa phân phát những tờ gấp có minh họa và in tiếng Đức, vừa giải thích cho họ lý do và mục đích của cuộc biểu tình.Một hoạt náo viên nang nổ và vui vẻ dùng loa hô vang các khẩu hiệu được mọi người đáp lại : « Hoàng Sa, Trường Sa, của Việt Nam ! », « Tôi yêu Việt Nam ! » Hoang Sa, Truong Sa, mein Vietnam ! » « I love Vietnam ! », « Wir lieben Vietnam ! ».Những bài hát dân gian tuyệt vời, cũng tuyệt vời như vô số áo dài và những nụ cười khiến đoàn người rực rỡ sắc màu, biến cuộc biểu tình thật sự trở thành một buổi trình diễn đường phố vừa đậm đà văn hóa vừa rất chinh trị, mang lại cho thông điệp chống xâm lược Trung Quốc của chúng ta một sức hấp dẩn và thuyết phục sống động và đầy truyền cảm. Một thành công. Một thành công lớn sẽ được đánh dấu trong lịch sử phong trào chống xâm lược kiểu mới của Trung Quốc.  Một tham khảo cho tương lai, ở Munich và những nơi khác. Nói về điều này, một người bạn của tôi đã gọi đấy là « tinh thần Munich ». Chính xác là vậy. Nhưng tinh thần của « tám người Munich » là trái ngược với cái tinh thần mà Lịch sử đã ghi lại.


Quả thật về mặt lịch sử, Munich là ký ức buồn. Chình trong thành phố này, tháng chín năm 1938, những người đại diện của Pháp và Anh đã ký với Hitler một hiệp ước nhục nhã sẽ mở cửa cho tên độc tài lao vào cuộc xâm lược bành trướng trên toàn bộ châu Âu. Họ tưởng nhân nhượng cho nước Đức của Hitler sáp nhập bằng vũ lực Tiệp Khắc thì sẽ xoa dịu được sự hung hăng bành trướng và hiếu chiến của chúng. Họ tưởng đã cứu vãn được hòa bình bằng cách phản bội quyền của các dân tộc, trong thực tế họ dọn đường cho chiến tranh ! Sợ hãi không đẩy xa được hiểm nguy. Hèn nhát cũng không. Trái lại, là khuyến khích nó. Tại Munich, về điều này lịch sử đã cho một bài học đau đớn : không thể ký hòa ước với chủ nghĩa bành trướng, nhất là khi nó được tuyến bố rõ ràng và ta là nạn nhân đầu tiên của nó !

Nhưng, rất thận trọng trong so sánh, tinh thần của « tám người ở Munich », những người đã hoàn toàn độc lập tổ chức cuộc biểu tình và chiếu phim HSVNNDMM, không phải là tinh thần cúa sợ hãi cũng không phải của hổ thẹn.

Tôi có thể làm chứng cho tinh thần ái quốc bất diệt của tám đồng bào này. Và tôi có thể nói lòng ái quốc ấy phải đạt đến một sức mạnh kỳ lạ để có thể cho phép họ vượt qua các khác biệt, các đối lập của họ, vượt qua những vết thương quá khứ, vẫn mãi tứa máu, để kháng cự lại những đe dọa trực tiếp hay ngụy trang, và đôi khi cả những lời thóa mạ mà họ là nạn nhân của cả hai phía.

Họ nằm trước làn đạn kín đáo mà hoàn toàn có thực của một chế độ run rẩy cứ đeo bám đến thảm hại « 16 chữ vàng » với lại « 4 tốt » của lũ cướp biển Bắc Kinh (« Hội người Việt » ở Stuttgart đã từ chối hợp tác với Munich để chiếu bộ phim HSVNNDMM). Họ đã nhận được những lời đe dọa hung hăng hay được phát biểu một cách tế nhị hơn của những người lãnh đạo một cộng đồng thuyền nhân khăng khăng trương ngọn cờ đầy đắng cay của mình lên trên trách nhiệm bảo vệ dân tộc. Bao nhiêu nhân nhượng, bao nhiêu thảo luận hăng say, mà cũng biết bao nhiêu khoan dung, thương mến, bao nhiêu tình yêu đất nước.  Bao nhiêu trách nhiệm và can đảm ở tám người đàn ông và đàn bà hữu trách ấy. Cho đến nay tôi chưa bao giờ được chứng kiến một sự chín muồi mang tính người và về chính trị đến như vậy từ những con người đã từng qua những trải nghiệm sống khác nhau sâu đậm đến thế. Thấy tôi ngạc nhiên về điều đó lúc dự cuộc họp tổ chức cuối cùng của họ hôm trước ngày tuần hành, một người trong số  họ mỉm cười trả lời tôi : « Chúng tôi học dân chủ ». Vâng, bạn ạ, dân chủ, đẹp đẽ biết bao, khó khăn biết bao để dân chủ được sinh thành, mong manh biết bao cho ta phải giữ gìn nó, và đắt giá biết bao để nuôi cho nó lớn lên ! Nó chỉ có thể ra đời và lớn lên trong dũng cảm. Đẹp đẽ biết chừng nào là  bài học về cuộc chiến đấu dân chủ mà những người bạn ở Munich đã cho chúng ta. Họ đã thắng nổi sợ hãi để giải phóng được lời nói và hành động, để bảo vệ Việt Nam,

Thắng những nổi sợ

Tôi đã bao nhiêu lần  cận kề với nổi sợ chế độ ấy ở trong nước : sợ bị đe dọa, bị theo rỏi, bị ngược đãi, sợ bị mất việc, sợ thấy người thân của mình bị gây khó khăn trong công việc, trong học tập, sợ bị bắt, bị tống vào tù … cái nổi sợ chế độ, thậm chí lại được thay thế bằng các sứ quán mà ta sợ các hành động khủng bố hành chính tại chỗ hoặc các báo cáo về trong nước có thể khiến ta không còn gặp lại được gia đình, bạn bè. Cái mũ đáng sợ sẽ nhanh chóng xuất hiện: « diễn biến hòa bình », « thế lực phản động » …


Một loại nổi sợ khác mà tôi từng được chứng kiến khi gặp các cộng đồng Việt kiều, cũng hiện diện rất rõ ở « phe bên kia », trong cái phe muốn tự coi mình vừa là nạn nhân đặc quyền của chiến tranh và là người đặc quyền nắm giữ dân chủ.  Nổi sợ này được nuôi dưởng bởi các nhóm cực đoan, quả là rất thiểu số nhưng có thể có hành động bạo lực và các hình thức gây sức ép khác. Ở những chỗ ấy bốc lên mùi vị của một nổi hận thù thật sự, giống như nổi hận thù tôi từng phải chịu đựng trong tù. Một nổi thù hận mù quáng được nuôi dưỡng bằng những trải nghiệm đau đớn, đã đóng băng trong ký ức. Một nổi thù hận muốn trở thành vĩnh cữu và đòi phải đáp trả.  Chỉ cần ta ghé tai về phía bên kia một chút là lập tức bị khoác cho một cái mũ khác : « phản bội », « chơi trò cộng sản », « cộng sản nằm vùng » …

Để không mất mình và để bảo vệ đất nước

 Những nổi sợ ấy, dù đến từ đâu, là một tai họa thật sự đối với con người, với xã hội và quốc gia. Chúng là tội ác vì chúng giam hãm người ta trong tình trạng bất động đồng nghĩa với đồng lõa với bất công, với bạo lực tùy tiện, với tham nhũng mang tính chất mafia chính trị, với tình trạng đất nước bị uy hiếp. Chúng sĩ nhục và thiến hoạn con người vì chúng bóp nghẹt niềm kiêu hãnh công dân và ái quốc, cùng ý chí sáng tạo cái mới. Chúng  hủy hoại nhân tính và đẩy một số người vào tuyệt vọng. Đôi khi được biện minh là phản xạ tự vệ, cuối cùng chúng có tác dụng tự hủy hoại. Ở cấp độ quốc gia, chúng gây ức chế và chỉ nuôi dưỡng sự bất động có lợi cho tất cả hành vi xâm lược của Trung Quốc và cho những kẻ tiếp tay hay ủng hộ các cuộc xâm lược ấy mà không bị trừng phạt. Các nổi sợ hãi tước vũ khí của con người !  

Tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam mong muốn hòa giải, thống nhất dân tộc trong một nền hòa bình mà mình làm chủ. Đấy là nhu cầu sống còn của đất nước để có thể đối mặt với thách thức khủng khiếp của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hau háu tài nguyên thiên nhiên và con người, tàn phá các căn tính văn hóa, chỉ mang đến bạo lực và chiến tranh … Đất nước cần điều đó để chiến thắng nạn dịch tham nhũng, để thắng tình trạng đói nghèo vẫn còn đó.

Thắng những nổi sợ hãi ấy để hành động chặt chẽ cùng nhau trong một cuộc chiến đấu thật sự với chính mình và vì đất nước. Một cuộc chiến đấu nhất thiết phải thắng để không mất đi tất cả. Kể cả đánh mất chính mình. Một chiến thắng cần thiết và khả thể.

Đấy là bài học mà nhóm tám người ở Munich, và cả những người ở  Berlin, Kholn, Praha, Warsava, Leipzig, Hannover, Frankfurt-Offenbach, Sarrebruken, Nurnberg, Toulouse, Lyon, Paris… đã cho chúng ta … Thắng nổi sợ hãi  như các đồng bào của chúng ta ở Bình Châu và Lý Sơn mỗi lần họ ra khơi trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để mưu sinh. Thắng nổi sợ hãi như các bạn của chúng ta ở Sài Gòn và Hà Nội đã xuống đường để bảo vệ tổ quốc mình.

Cám ơn tất cả, tất cả các bạn của tôi, đã nuôi dưởng tôi thêm mỗi ngày bằng dũng khí của các bạn.

Ôi, tôi còn quên một chuyện : trong hai ngày, các đồng bào của chúng ta đã góp ủng hộ các ngư dân, góa phụ và trẻ mồ côi 5300 ơ-rô !

 —
Leçons de Munich et d’ailleurs : faire reculer la peur pour sauver le pays.

Nos compatriotes Viet Kieu allemands en ont déjà rendu compte sur internet : la manifestation de Munich, le 20 octobre, contre l’expansionnisme chinois, la projection à Munich et à Nurnberg du film documentaire « Hoang Sa Vietnam Noi Dau Mat Mat »-toujours empêché au Vietnam- ont été un  franc succès.

Invité à participer à ces actions, j’ai fait l’objet d’un accueil inattendu et très touchant par des amis jusque –là inconnus.  A Munich : appartement aux pièces de verre où poussent un pin d’Alep de 3 mètres de haut et un bananier qui donne des bananes vietnamiennes en plein centre de cette belle ville allemande !…. A Nurnberg : dortoir austère mais chaleureux de la pagode bouddhiste Vien  Nghiem où se côtoient la statue du roi Huong Vuong et du Đại đế Carolus (Karl der Große). Deux lieux si différents mais empreints de la même sérénité tranquille et  forte, parfaitement intégrée au pays hôte mais profondément enracinée dans l’âme du pays natal vietnamien.

Une belle manifestation !

La marche de Munich a été exemplaire par sa tenue. Elle a débuté devant la place de l’université par une heure de prise de parole de la part les diverses composantes de l’organisation. Encadré d’un bout à l’autre par quatre voitures de policiers locaux parfaitement aimables et extrêmement protecteurs, le défilé s’est tranquillement et joyeusement déroulé pendant deux heures sur les trois kilomètres de la plus grande avenue de Munich qui relient l’Université aux belles rues passantes du centre ville. Là, devant des centaines de passants et curieux allemands transformés en spectateurs, eut lieu, pendant une heure, une nouvelle prise de parole. Sur les grandes banderoles bleues, les slogans en lettres blanches étaient méticuleusement pensés, accusant, en vietnamien, en anglais et en allemand la politique expansionniste des dirigeants de Pékin. La grande carte du Vietnam avec, bien en évidence, les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa, se dressait fièrement en tête du cortège.  Les longues banderoles étaient disposées sur chaque côté du défilé, à la vue des passants auxquels de charmantes hôtesses en ao dai et chapeau traditionnel distribuaient des dépliants illustrés et imprimés en allemand tout en leur expliquant les raisons et le but de la manifestation. Un animateur plein d’énergie et de gaité envoyait au micro les slogans repris par tous : « Hoang Sa, Truong Sa, mein Vietnam !», « I love Vietnam ! », « Wir lieben Vietnam ! ». De belles chansons populaires, belles comme la multitude d’ao dai et de sourires qui coloraient le défilé, ont transformé cette manifestation en véritable spectacle de rue, à la fois culturel et très politique, donnant à notre message contre l’agression chinoise un attrait et une force de persuasion vivante et émouvante. Un succès. Un grand succès qui fera date dans l’histoire du mouvement résistant à l’agression chinoise de type nouveau. Une référence pour le futur, à Munich et ailleurs. Pour en parler, un de mes amis a employé l’expression : « tinh than Munich ». C’est exactement cela. Mais l’esprit des « huit de Munich » est le contraire de celui que l’Histoire a retenu.

En effet historiquement, le nom de Munich est de triste mémoire. C’est dans cette ville qu’en septembre 1938 les représentants de la France et de l’Angleterre ont signé avec Hitler un humiliant traité qui allait ouvrir au dictateur la porte de l’agression expansionniste dans toute l’Europe. Ils pensaient que concéder à l’Allemagne hitlérienne l’annexion par la force de la Tchécoslovaquie calmerait ses ardeurs expansionnistes et guerrières. Ils pensaient avoir sauvé la paix en trahissant le droit des peuples, ils ont en fait préparé la guerre ! La peur n’écarte pas le danger. La lâcheté non plus. Au contraire, elles l’encouragent. A Munich, l’histoire en a donné une douloureuse leçon : on ne signe pas de traité avec l’expansionnisme, surtout quand celui-ci est clairement annoncé et qu’on en est la première victime !

Mais, toutes proportions gardées, l’esprit des « huit de Munich » qui ont, en toute indépendance, organisé la manifestation et la projection du film HSVNNDMM, n’est pas celui de la peur ni celui de la honte.

Je peux témoigner du patriotisme indéfectible de ces huit compatriotes. Et, je peux dire que ce patriotisme a dû être d’une force extraordinaire pour leur permettre de dépasser leurs différences, leurs oppositions, d’aller au-delà des blessures du passé, toujours ouvertes, de résister aux menaces directes ou déguisées et quelques fois aux invectives dont ils ont été victimes des deux côtés. Ils ont été sous le feu discret mais bien réel d’un régime frileux qui s’accroche pitoyablement aux « 16 chu vang et 4 cai tot » avec les pirates de Pékin (La « Hoi nguoi Viet » de Stuttgart a refusé de se joindre à Munich pour projeter le film HSVNNDMM). Ils ont reçu les menaces violentes où plus délicatement exprimées de dirigeants d’une communauté de réfugiés thuyen nhan qui fait passer son drapeau chargé d’amertume avant la défense de leur peuple. Combien de concessions, combien de discussions passionnées, mais aussi combien de tolérance, d’affection, d’amour du pays. Combien de responsabilité et de courage chez ces huit hommes et femmes  responsables. Jamais jusqu’ici je n’ai été témoin d’une telle maturité humaine et politique de la part de personnes aux parcours de vie si fortement différents. Comme je m’en étonnais devant eux quand j’assistais à leur dernière réunion d’organisation, la veille du défilé, un d’entre eux m’a répondu en souriant: « Nous apprenons la démocratie ».  C’est vrai, mon ami, la démocratie, si belle, est si dure à enfanter,  si fragile à préserver et si coûteuse à faire grandir ! Elle ne peut voir le jour et grandir que dans le courage. Quelle belle leçon de combat démocratique nous donnent ces amis de Munich ! Ils ont vaincu la peur pour libérer la parole et l’action, pour protéger le Vietnam.

Vaincre les peurs

Cette peur du système, je l’ai maintes fois côtoyée dans le pays : peur d’être menacé, suivi, maltraité, peur de perdre son emploi, de voir ses proches inquiétés dans leur travail, dans leurs études, peur d’être arrêté, jeté en prison… Cette peur du système qui, même à l’étranger est relayée par les pouvoirs des ambassades dont on redoute des représailles administratives sur place ou les rapports envoyés au pays pouvant priver l’accès à la famille, aux amis. Le redoutable chapeau est vite sorti : « dien bien hoa binh », « the luc phan dong »…

Un autre genre de peur, dont j’ai également été témoin au contact des communautés Viet Kieu, est aussi entretenu bien réellement dans « l’autre camp » qui se veut être à la fois victime exclusive de la guerre et tenant exclusif de la démocratie. Cette peur est entretenue par des groupes extrémistes, certes très minoritaires mais capables de violence et d’autres formes de pression. On sent monter de ces milieux une vraie haine, pareille à celle que j’ai subie en prison. Une haine aveugle nourrie d’expériences douloureusement vécues, figées dans les mémoires. Une haine qui se veut éternelle et vengeresse.  Pour peu qu’on soit à l’écoute de « l’autre côté », on est vite affublé d’un autre chapeau : « traître »,  « qui-fait-le-jeu-des-communistes », « communiste infiltré »…

Pour ne pas se perdre et pour protéger le pays

Ces peurs, d’où qu’elles viennent, sont un véritable fléau humain, social, national. Elles sont individuellement angoissantes. Elles culpabilisent car elles confinent à l’inaction synonyme de complicité devant l’injustice, la violence arbitraire, la corruption politico-maffieuse, le pays menacé. Elles sont humiliantes et castratrices car elles étouffent la fierté citoyenne et patriotique, la volonté de créer du nouveau. Elles déshumanisent et poussent certains au désespoir. Quelque fois justifiées comme un réflexe protecteur, ces peurs sont, en fin de compte, auto-destructrices.  Nationalement, elles sont inhibitrices et ne font que nourrir l’immobilisme favorable à toutes les agressions chinoises et à l’impunité de ceux qui les favorisent ou les soutiennent. Les peurs désarment !

Le peuple vietnamien, dans son immense majorité, veut la réconciliation, l’unité nationale dans une paix qui lui appartienne. Il en a un besoin vital pour faire face au terrible défi que lui lance l’expansionnisme chinois prédateur des ressources naturelles et humaines, destructeur des identités culturelles, porteur de violence et de guerre… Il en a besoin pour vaincre la corruption endémique, pour vaincre la pauvreté encore bien présente.

Vaincre ces peurs pour agir solidairement est un vrai combat sur soi-même et pour le pays. Un combat qu’il faut gagner sous peine de tout perdre. Y compris de se perdre soi-même. C’est nécessaire et possible.

C’est la leçon donnée par le  groupe des huit de Munich, mais aussi par ceux de Berlin, Kholn, Praha, Warsava, Leipzig, Hannover, Frankfurt-Offenbach, Sarrebruken, Nurnberg, Toulouse, Lyon, Paris…Vaincre la peur comme nos compatriotes de Binh Chau et de Ly Son le font chaque fois qu’ils prennent le large pour aller gagner leur vie dans le eaux vietnamiennes d’Hoang Sa et de Truong Sa. Vaincre la peur comme nos amis de Saigon et de Ha Noi qui descendent dans la rue pour les protéger et défendre leur patrie.

Merci à vous tous, mes amis, pour me nourrir chaque jour un peu plus de votre courage.

Ah, une information oubliée : en deux jours, nos compatriotes ont contribué à l’aide des pêcheurs, veuves et orphelins pour un montant de 5300 euros !

André Menras, Ho Cuong Quyet
Texte français par l’écrivain Nguyen Ngoc.

Nguồn: Ba Sàm.
 
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC LÊN TIẾNG VỀ MỘT BÀI BÁO BỊA ĐẶT

Một cách làm báo kỳ lạ
Nguyên Ngọc
Ngày 12/09/2012, báo Quân đội nhân dân đăng bài “Tây Nguyên thương nhiều, yêu nhiều và ưu tư cũng nhiều” của hai phóng viên Quang Hồi và Duy Thành, ghi là trao đổi ngắn với nhà văn Nguyên Ngọc. Tôi đọc và  kinh ngạc: Tôi bị nhét vào mồm nhiều câu rất vớ vẩn lẫn những ý rất bậy bạ.
Đọc kỹ đôi chút, có thể thấy hai phóng viên này có hai cách chính để sáng tác nên một bài phỏng vấn như sau:
- Một: Tự mình đặt ra một số câu hỏi, rồi dựa vào một số điều nghe loáng thoáng ở đâu đó, đoán mò người được phỏng vấn có thể nghĩ như thế này, thế này …, lấy những đoán mò  của họ làm câu trả lời có thực của đương sự, cứ thế đăng đại lên! Chẳng hạn đọan rất sếnh họ cho tôi nói về “Tây Nguyên như bầu sửa mẹ …tạo nên ngôn ngữ văn chương Nguyên Ngọc…”; hoặc đoạn từ ý của anh Trung Trung Đỉnh nói ở Pleiku ngày 4-9 rằng “không ai làm cũ được NN”, tưởng tượng và bịa ra toàn bộ câu trả lời rất lảm nhảm của tôi về những cái gọi là “tư duy”.
- Hai: Nhặt nhạnh lỏm bỏm một số ý, một số chi tiết trong vài bài viết vào lúc nào đó của người được phỏng vấn, từ đó tự mình đặt ra câu hỏi (mà chính người được phỏng vấn không hề biết), tự mình sáng tác ra câu trả lời, liều lĩnh đăng lên, bất chấp tất cả. Chẳng hạn đoạn họ gán cho tôi nói (một cách ngu dốt) về “hai thành tố (?) Tây Nguyên đặc sắc đó là căn phòng chung và sử thi” …  Tôi không hề nói một lời nào với họ về hai chuyện ấy. Tôi viết ở chỗ khác, đàng hoàng, chặt chẽ, và không hề bảo rằng đó là “hai thành tố Tây Nguyên đặc sắc”.
 
Trước đây tôi cũng có làm báo, cũng có thời làm báo quân đội; đã lâu không còn làm báo. Không ngờ báo chí ta, có cả báo quân đội, đã đạt được … tự do đến thế!
N.N. 
__________________________________________
Nhà văn Nguyên Ngọc:

Tây Nguyên thương nhiều, yêu nhiều và ưu tư cũng nhiều

QĐND – Thứ Tư, 12/09/2012, 22:3 (GMT+7)

QĐND – Nhân sinh nhật lần thứ 80 của Nhà văn Nguyên Ngọc, vừa qua, tại thành phố Plei-cu (Gia Lai), bạn bè, đồng nghiệp của nhà văn đã tổ chức mừng sinh nhật ông. Nhân dịp này, Nhà văn Nguyên Ngọc đã có cuộc trao đổi ngắn với phóng viên Báo Quân đội nhân dân về trăn trở của ông với văn hóa Tây Nguyên, xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.
Phóng viên (PV): Thưa nhà văn, nhắc tới Nguyên Ngọc người ta nghĩ ngay tới Tây Nguyên, vậy điều gì ở Tây Nguyên đã làm nhà văn gắn bó và thành công?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Tôi sinh ra ở Quảng Nam – Đà Nẵng, nhưng tuổi đời đẹp nhất của tôi lại sống, chiến đấu và viết ở Tây Nguyên. Nếu không có Anh hùng Núp, cụ Mết thì không có “Đất nước đứng lên”, không có “Rừng xà nu”… và đương nhiên không có Nguyên Ngọc. Chính cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ của đồng bào Tây Nguyên, chính văn hóa Tây Nguyên với những mái nhà rông, tiếng cồng chiêng vang giữa núi rừng, những đêm uống rượu cần nghe già làng kể sử thi… tất cả khiến Tây Nguyên như một bầu sữa mẹ, tạo nên ngôn ngữ văn chương Nguyên Ngọc. Tôi không nhận mình là một tài năng văn chương, tôi chỉ ghi lại hiện thực đời sống nơi núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ thôi.
- Nhà văn từng nói: Giờ mỗi lần trở lại Tây Nguyên, nhớ thật nhiều, thương thật nhiều và ưu tư cũng thật nhiều? Nhà văn ưu tư điều gì về vùng đất, con người Tây Nguyên?
- Về với Tây Nguyên tôi như được trở lại tuổi thanh xuân của mình, tôi được gặp lại những người bạn trong kháng chiến, gặp lại những tên đất, tên làng mà một thời tôi cùng đồng đội và đồng bào Tây Nguyên ngăn bước quân thù.

Nhưng niềm vui chẳng tày gang. Giờ đi về các buôn làng thấy bà con cả đời vì cách mạng, sống, chiến đấu, che chở cho bộ đội đánh giặc trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Ấy thế mà, giờ đây sau bao nhiêu năm đổi mới, bà con nơi đây còn nghèo khổ lắm! Cần phải trả ơn lại đối với đồng bào Tây Nguyên.

Càng nhìn sâu về góc độ văn hóa, tôi càng thấy buồn. Giờ đây, hai thành tố văn hóa Tây Nguyên đặc sắc đó là căn phòng chung và sử thi cũng đang bị xâm phạm nghiêm trọng. Dù gọi là nhà gươl (Cơ-tu), nhà rông (Ba-na, Xơ-đăng) hay nhà dài (Ê-đê)… thì căn phòng chung ấy là linh hồn của làng và tượng trưng cho tinh thần cộng đồng. Chúng ta dựng lại, tìm những giải pháp kiến trúc cho các căn phòng trong một ngôi nhà Tây Nguyên hóa ra chẳng đơn giản tí nào, chẳng hề đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật hay thậm chí một vấn đề thẩm mỹ vì từ vị trí, diện tích cho đến trang trí, đều có căn nguyên và ý nghĩa văn hóa xã hội sâu xa.Một điều nữa, ai cũng biết Tây Nguyên như một mái nhà của Đông Dương. Nhắc Tây Nguyên là phải nhắc đến rừng, văn hóa rừng… nhưng giờ nhìn những cánh rừng tan hoang, núi đồi trơ trọc, tôi buồn lắm. Lúc chiến tranh rừng như là một thứ vũ khí hỗ trợ chiến đấu. Không có rừng thì Tây Nguyên không còn là Tây Nguyên nữa! Sự phát triển kinh tế ồ ạt đã phá vỡ cơ chế xã hội đặc sắc đó là văn hóa làng – rừng của đồng bào Tây Nguyên. Rừng là không gian sinh tồn của làng, mất rừng là mất làng, đồng bào Tây Nguyên không hề có quan niệm tư hữu về cái gọi là hộ gia đình. Chính vì vậy, phát triển ổn định vùng đất Tây Nguyên phải nắm vững tổ chức xã hội của đồng bào Tây Nguyên, hiểu rõ sự bảo tồn không tách rời văn hóa rừng và làng.
Sử thi Tây Nguyên đã thực sự làm kinh ngạc thế giới kể từ khi phát hiện viên ngọc vô giá Trường ca Đam San những năm 20 của thế kỷ trước. Cho đến nay, đã có hơn 200 bộ sử thi được sưu tầm, và người ta không thể giải thích được hiện tượng mật độ sử thi kỳ lạ này ở Tây Nguyên. Nó kỳ lạ không chỉ ở số lượng đồ sộ khó tưởng tượng, mà còn kỳ lạ vô cùng ở cách thức biểu hiện trong đời sống hằng ngày của người Tây Nguyên. Khi kể sử thi, không phải người ta đọc lại một bản sử thi đã thuộc lòng mà người ta nhìn thấy, nhìn thấy tất cả những cái ấy, tất cả những nhân vật, những cảnh tượng ấy. Tôi ngồi một đêm nghe kể sử thi thấy cuộc sống của mình nhân lên thêm vô số lần, sống thêm được bao nhiêu cuộc đời khác nữa. Nhưng giờ thì khác rồi, càng đi, càng nghe, càng thấy buồn là vì thế.
 - Nhà văn Trung Trung Đỉnh từng nhận xét: Không có ai có thể làm cũ được Nguyên Ngọc, kể cả thời gian! Nhà văn có nói thêm gì về nhận xét này?
- Đấy là cố gắng của mỗi người. Nhất định nếu mình không tư duy, không suy nghĩ, nhất là sự tư duy ấy không gắn với cuộc sống thì con người dễ cũ lắm! Cái cũ là cái đáng buồn nhất đối với một con người, những suy nghĩ gắn thường xuyên với cuộc sống, từ cuộc sống mình có trách nhiệm, điều đó làm cho tư duy mình mới mẻ. Con người khi trẻ, không cũ trước hết là không cũ trong tư duy. Khi tư duy của mình còn lo lắng, trăn trở về cuộc sống là thể hiện cho mình sức khỏe về tư duy. Có sức khỏe về tư duy mới tạo nên sức khỏe về tinh thần và vật chất.
Người ta thường nói: Con chim bay mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân. Ở tuổi xưa nay hiếm, điều gì thôi thúc nhà văn tiếp tục lên đường, sống và viết?
- Có lẽ cái còn giữ cho mình, thôi thúc mình là mình vẫn còn thấy mắc nợ. Mắc nợ với đất nước, với nhân dân. Nhân dân hy sinh cho mình biết bao nhiêu mà mình đã làm được cho dân bao nhiêu đâu, bà con mình giờ còn khổ quá! Khi mà còn sự thúc đẩy ấy thì mình không muốn nghỉ, không thể nghỉ.
- Xin cảm ơn nhà văn.
Quang Hồi – Duy 
Nguồn: Ba Sàm

 
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

Hoàng Tụy: NGUYÊN NGỌC VÀ TÔI

Anh Nguyên Ngọc và tôi
Hoàng Tụy

clip_image002
Những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu V có một ngôi trường khá đặc biệt: Trường trung học Lê Khiết. Học trò trường này về sau có nhiều người thành đạt, nổi tiếng cả nước trên nhiều lĩnh vực quan trọng: văn chương, âm nhạc, khoa học, chính trị. Điều đáng quý mà ngay cả người trong cuộc cũng không khỏi ngạc nhiên là tình bạn và tình thầy trò ở đây giữ được đằm thắm lâu bền hiếm có: dù ở Hà Nội, thành phố HCM hay Đà nẵng, các nhóm cựu Lê Khiết mà ai nấy đều đã qua cái tuổi xưa nay hiếm, hễ có dịp vẫn hồ hởi đến với nhau. Dường như giữa những người từng một thời đồng cam cộng khổ, hàng ngày chống chọi với bom đạn của địch để giữ vững giáo dục ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt dễ có mối liên hệ gắn bó chân tình. Sự gắn bó càng thêm sâu đậm từ cái buổi chiều thày trò cả trường lặng lẽ đưa tang cô giáo trẻ dạy toán Trần Thị Cúc Hoa, cùng 17 học trò chết thảm trong trận bị máy bay địch ném bom bất ngờ hôm trước.

Và có lẽ một phần nhờ mối liên hệ ấy mà anh Nguyên Ngọc với tôi, cả hai cùng là cựu Lê Khiết, dù kẻ làm văn người làm toán – hai lĩnh vực khá khác biệt – lại đã dễ dàng đến với nhau thân tình khi gặp nhau lại sau mấy chục năm trời mỗi người mỗi ngả: anh Nguyên Ngọc trong suốt thời gian dài tham gia chiến đấu ở chiến trường Miền Nam, còn tôi thường xuyên bám trụ ở Hà Nội hoặc nơi sơ tán khi máy bay Mỹ đánh phá Miền Bắc.

Song, hơn cả mối liên hệ ấy, giữa anh Nguyên Ngọc và tôi còn có một liên hệ tri kỷ. Vốn cả hai đã từng hăm hở đi theo cách mạng và kháng chiến ngay từ buổi đầu, từng có hạnh phúc sống qua cái thời hoàng kim trong sáng đẹp đẽ của cách mạng trước 1950, rồi tiếp sau đó cái thời bão táp bi hùng của dân tộc, thật vĩ đại nhưng cũng pha nhiều mảng tối bi kịch đau thương, dễ hiểu chúng tôi có những trải nghiệm và suy ngẫm giống nhau về cách mạng, về thời cuộc, về trách nhiệm xã hội của trí thức, về thân phận của dân tộc, của con người, rồi sau này về văn hóa, giáo dục. Chính mối tri kỷ đó gắn kết chúng tôi trong nhiều hoạt động xã hội, dù là để phản biện, góp ý thẳng thắn và chân thành một số chủ trương, chính sách không phù hợp, hay để phản đối tiêu cực, chống tham nhũng, đấu tranh bảo vệ công bằng, dân chủ, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bất chấp mọi sự ngăn trở, dọa dẫm bất cứ từ đâu. 

Anh Nguyên Ngọc từng có nhiều năm, trong kháng chiến chống Pháp và cả sau này nữa, lăn lộn hoạt động ở Tây Nguyên, có thể nói ít có ai hiểu biết sâu sắc hơn anh về thiên nhiên, văn hóa và con người Tây Nguyên. Cũng không ai có một tình yêu nồng nàn đến thống thiết bằng anh cái vùng đất và người vô cùng quan trọng này của Tổ quốc. Anh như cuốn từ điển sống về Tây Nguyên, tuy vậy đã có lúc nhiều lời khuyên và cảnh báo sáng suốt của anh đã không được lắng nghe để tránh những chính sách bất cập một thời ít nhiều là nguồn gốc những bất ổn đáng tiếc ở đây. 

Nguyên Ngọc cũng là người từ rất sớm đã nhận ra nguy cơ suy đồi văn hóa dẫn đến bất ổn nhiều mặt của xã hội, kể cả kinh tế, chính trị. Chính qua anh tôi mới hiểu hết tầm vóc của chủ trương cứu nước của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Mà trong văn hóa, quan trọng nhất là giáo dục. Còn nhớ đầu năm 2004, trước tình hình suy sụp kéo dài của giáo dục khiến toàn xã hội lo lắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có khuyến khích tôi đứng ra tập hợp một số anh em trí thức trong và ngoài nước để cùng nhau bàn bạc, trao đổi tìm ra giải pháp cấp bách chấn hưng giáo dục. Anh Nguyên Ngọc đã là một trong những người hưởng ứng nhiệt thành nhất công việc này, tham gia đều đặn và tích cực 5 buổi làm việc nghiêm túc, từ 8 giờ sáng đến trưa không ngưng nghỉ, của nhóm trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 5 - 2004. Kết quả là một bản kiến nghị tâm huyết “ Chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống” của 24 trí thức gửi lên Trung ương tháng 6 - 2004. Mặc dù biết trước không thể kỳ vọng nhiều ở khả năng thay đổi của giáo dục, nhưng chúng tôi cũng được khích lệ bởi thái độ tiếp nhận khá tich cực từ phía Bộ trưởng Giáo dục và Thủ tướng Chính phủ lúc đó. Còn dư luận xã hội thì đương nhiên hưởng ứng nhiệt liệt, vì lần đầu tiên nhiều bức xúc khó nói được giải tỏa, đặc biệt nguyên nhân sâu xa níu kéo giáo dục trong trì trệ lạc hậu triền miên, và những vấn đề cốt lõi thuộc hệ tư tưởng lâu nay bất khả tranh luận được nêu ra thẳng thắn và phân tích nghiêm túc nhằm hướng tới một nền giáo dục lành mạnh, trung thực, hiện đại, phù hợp trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và đáp ứng mục tiêu tối thượng của dân tộc: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy nhiên từ 2005 trở đi tình hình giáo dục chuyển dần theo hướng khác, chẳng những các căn bệnh trầm kha không giảm bớt, mà xuất hiện thêm những xu hướng tiêu cực mới khiến giáo dục vẫn tiếp tục tụt hậu, tệ hơn vẫn tiếp tục lạc điệu với thế giới mặc cho những cố gắng đầu tư của Nhà nước và nhân dân, cùng với nỗ lực phấn đấu của đội ngũ nhà giáo các cấp. Cùng với những khó khăn kinh tế tăng lên, ngày càng sáng tỏ sự thật đã được nêu lên trong bản kiến nghị là nguyên nhân sâu xa của những sai lầm, tiêu cực, bất cập của giáo dục chính là triết lý lỗi thời của nó. Đó là khuyết tật cấu trúc, đó là sai lầm hệ thống mà không chỉnh đốn thì giáo dục mãi mãi không vươn lên nổi, mãi mãi hụt hơi trong cuộc đấu tranh sinh tồn của dân tộc.

Là con người hoạt động không biết mệt mỏi, anh Nguyên Ngọc luôn sẵn sàng dấn thân, xông pha vào những việc đúng, dẫu biết khó khăn muôn trùng. Mấy năm nay phần lớn tâm trí và nghị lực của anh dành cho việc xây dựng lại Trường đại học Phan Châu Trinh. Số là trong quá trình thảo luận đi tới bản kiến nghị giáo dục năm 2004, nhiều anh em chúng tôi nảy ra ý kiến nên có một đại học mới thực hiện những ý tưởng mới về triết lý giáo dục. Anh Nguyên Ngọc lập tức đứng ra vận động thành lập một trường như vậy và nhờ sự ủng hộ nhiệt thành của lãnh đạo tỉnh Quảng Nam lúc đó, Trường đại học Phan Châu Trinh đã ra đời, sau ba năm chờ đợi vất vả mỏi mệt. Thật không may chúng tôi đã đánh giá quá thấp tất cả khó khăn thực tế đẻ ra từ môi trường xã hội, thể chế quản lý, với cả núi những hệ luận tiêu cực có thể làm nản lòng bất cứ ai, dù can đảm dấn thân đến mấy. Riêng tôi cảm thấy có lỗi, dù hết sức muốn góp phần cùng anh vượt lên mọi trắc trở để thực hiện sự nghiệp bất vụ lợi có ý nghĩa khai sáng cao quý này, nhưng lực bất tòng tâm. Không ngờ chỉ nhằm mục đích góp phần chấn hưng giáo dục trong một xã hội đã có truyền thống văn hiến lâu đời mà khó khăn đến như vậy. Cho hay xã hội nhiễu nhương, văn hóa suy đồi, kinh tế lụn bại, tất cả những tai họa ấy bao giờ cũng đồng hành, mà kết quả cuối cùng, nếu không kịp tỉnh ngộ để chấn chỉnh, như thế nào ai cũng biết và chắc không người Việt nào mong muốn. 

Những người như anh Nguyên Ngọc hành động là vì họ không thể chấp nhận cái viễn cảnh đen tối đó để con cháu chúng ta sau này oán giận thế hệ đi trước đã không biết giữ nước cả và trước hết trên mặt trận văn hóa, giáo dục. Đất nước còn có những người như vậy, thì chúng ta vẫn có quyền hy vọng, dù đôi khi cũng cảm thấy, nói như nhà văn Bảo Ninh, trời đất đen sầm, sự thế vô phương.

H.T.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
Nguồn: BVN.
 
-->đọc tiếp...

BVN - TƯỜNG THUẬT LỄ MỪNG THỌ NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC

08/09/2012 

Nguyên Ngọc – Một nhà văn hóa, một tài năng, 

một nhân cách lớn


Phóng viên Bauxite Việt Nam

Những chữ ghi trên nhan đề là mượn lại mấy lời của anh Văn Thành, người mở đầu buổi gặp mặt thân mật tại Quán sách Trung Nguyên 52 Hai Bà Trưng Hà Nội, do tạp chí Tia sáng tổ chức vào sáng ngày 7-9-2012 mừng nhà văn Nguyên Ngọc năm nay vừa tròn 80 xuân.

Đúng 9 giờ sáng khách đến đã gần chật phòng họp, gồm hai gian sảnh, không rộng nhưng cũng không quá chật chội. Toàn những gương mặt quen, vừa thấy nhau đã mừng hớn hở, vậy mà chỉ sau một năm không gặp, nhìn kỹ vào từng khóe mắt và vầng trán, hai má... đã có cái gì đổi khác, vẻ phong sương in trên mái tóc và mặt nào như chừng cũng hằn thêm vài nếp nhăn... thế sự nhiễu nhương. Nhiều chính khách, nhà văn, nhà thơ, GS, PGS, TS, Luật sư, nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh nổi tiếng có mặt: bà Nguyễn Thị Bình, bà Phạm Chi Lan, Hoàng Tụy, Phạm Duy Hiển, Nguyễn Trung, Nguyễn Quang A, ông Giám đốc Trung tâm văn hóa Việt Nhật, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Xuân Nguyên, Bảo Ninh, Nguyễn Văn Khải, Lại Nguyên Ân, Phạm Vĩnh Cư, Phạm Khiêm Ích, Đỗ Lai Thúy, Trần Ngọc Vương, Phan Hồng Giang, Ngô Thảo, Lâm Quang Thiệp, Hoàng Thúc Hào, Đào Tiến Thi, Bùi Như Hưong, Nguyễn Tường Thụy, Trần Vũ Hải, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Đình Toán, Nguyễn Văn Cự và TTX BS, các blogger Người Buôn Gió, Phương Bích... cùng không ít anh chị em đã từng sát cánh bên Nguyên Ngọc trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo tại Hồ Gươm cách đây vừa tròn một năm. Về phía trang Bauxite Việt Nam người ta thấy có Nguyễn Huệ Chi và Phạm Toàn. PGS Chu Hảo và nhà văn Trần Thị Trường là những người đến sau cùng, khi cuộc họp đã đến hồi sôi nổi. 

Trong “lời mở” của anh Văn Thành, còn nhắc đến nhiều điện thư gửi về Tòa soạn Tia sáng chúc mừng nhà văn, bởi những lý do riêng, hoặc vì sinh sống tại nước ngoài, nên không thể tham dự: GS Phạm Xuân Yêm, GS Hà Dương Tường (đều ở Pháp), nhà thơ Việt Phương, ông Nguyễn Minh Nhị (nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang), TS Tô Văn Trường, TS Lê Đăng Doanh, TS Trần Đức Viên (Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp I), Đặng Lê Nguyên Vũ (TGĐ Café Trung Nguyên), Hoàng Giang (PGĐ Công ty sách Nhã Nam), TS giáp Văn Dương (ĐH Singapore), TS Đặng Huy Chung (Giám đốc Trung tâm đào tạo Pace), TS Nguyễn Sĩ Dũng...

clip_image004
Ảnh: Hy Tuệ

clip_image006
Quang cảnh cuộc họp. Ảnh: Hy Tuệ

clip_image008
Quang cảnh cuộc họp. Ảnh: Hy Tuệ

Sau ba bài hát chúc mừng của tốp sinh viên Nhạc viện Hà Nội (trong đó cố nhiên không thiếu được bài Như bóng cây Kơ nia với giọng ngân cao vút kéo dài, vốn đã in sâu trong mọi trí nhớ từ thời chưa ngưng chiến), nhà văn Nguyên Ngọc bước lên diễn đàn. Ông nói ông vốn là người thiếu học. Chưa học hết trung học ông đã phải lao mình vào kháng chiến chống Pháp. Tập kết ra Bắc vẻn vẹn có 7 năm lại đã được phân công vào Nam nằm vùng ở Quảng Nam suốt chặng đường chống Mỹ. Cho nên vốn liếng kiến thức ông có hiện nay chủ yếu chỉ do tự học mà thôi. Một điều may mắn lớn trong đời là ông được gặp đúng những người thầy, người bạn, người chị, người anh. Tất cả họ đều là thầy tốt của ông. Nhờ đó, trong 7 năm tập kết ra Bắc ông đã học được một khối lượng tri thức rất lớn. Giọng ông trầm ấm, lôi cuốn tự nhiên và khi ông nói đến chỗ này cả phòng họp bỗng dưng lặng phắc – một trái núi sừng sững về trí tuệ đang ở trước mặt mình, mà đó lại là kết quả của... tự học! Ông nói tiếp rằng cuộc đời ông không suôn sẻ, nhiều lúc va vấp, có nhiều gấp khúc trong tư tưởng, thậm chí có sai lầm. Trước những gập ghềnh và vướng mắc cá nhân, ông đã tìm ra một biện pháp giải tỏa là trở về sống giữa lòng dân. Chỉ có dân mới thanh lọc được cho mình tất cả. Chính là dân đã dạy dỗ, nuôi nấng, tiếp cho ông sinh lực để hoạt động. Hoạt động đến quên cả tuổi, nên giờ đây, chợt bừng tỉnh, thấy tuổi 80 đã đến lúc nào không hay. Đó là một cảm giác mới lạ, như mình là một người khác chợt nhìn vào mình. Cảm giác thứ hai, ông thấy trước mắt mình còn nhiều việc quá, việc nào cũng đang dang dở, vì thế càng thấy phải hoạt động nhiều hơn. Và ông hứa với một nụ cười rất tươi, lời hứa mới nói tại Hội An vài hôm trước – giữa tiếng cười, tiếng vỗ tay rộn lên của cử tọa: Tôi còn phải làm việc khoảng mười năm nữa mới tạm gọi là xong.

Không chờ người điều khiển nhắc đến tên, GS Hoàng Tụy đã vội bước lên micro ngay. Ông nói, ở tuổi này của ông, ông chỉ có thể đọc trên giấy chứ không thể nói vo như trước. Và ông vội rút mấy tờ giấy đã đánh máy sẵn. Quan hệ giữa Hoàng Tụy và Nguyên Ngọc vốn là quan hệ thầy trò từ ngày còn ở Trường trung học Lê Khiết (tại Liên khu V, trong kháng chiến chống Pháp). Sự gắn bó thầy trò chuyển sang gắn bó bạn bè tin cậy khi cùng nhau đồng hành trong một loạt vấn đề xã hội nan giải buộc phải tập trung nhiều đầu óc bản lĩnh để có một tiếng nói chung. Kiến nghị giáo dục 2004 của 24 con người trong đó có Hoàng Tụy và Nguyên Ngọc là thử thách để thấy Nguyên Ngọc là một thành viên nòng cốt chia sẻ cùng ông điểm nhìn, chia sẻ gánh nặng trong suy nghĩ, chia sẻ khó khăn trong việc áp dụng mô hình giáo dục mà tập thể tác giả đề xuất vào một thí điểm có thể nói là phải bạo gan lắm mới làm được: Trường đại học Phan Châu Trinh. Trường đại học Phan Châu Trinh, một thách thức lớn với lẽ sống vô vụ lợi của Nguyên Ngọc nhưng cuối cùng anh đã đứng vững. Đó là chút hy vọng cho tất cả những ai đang ngày đêm đau đáu trước sự thoái hóa trầm trọng của ngành giáo dục.

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tiếp lời GS Hoàng Tụy, chia sẻ với Nguyên Ngọc hai điều tâm đắc đầu của ông mà chính bà cũng đã nếm trải: cảm giác ngạc nhiên về cái tuổi 80 của mình và nỗi ám ảnh rằng trước mắt mình còn rất nhiều việc phải hoàn thành nốt. Nhưng đến điều thứ ba thì bà mỉm một nụ cười hóm hỉnh nhìn vào ông mà nói: “Anh Ngọc hứa sẽ làm việc 10 năm nữa, ở thời điểm này thì tôi không dám hứa như anh,vì một lẽ đơn giản là tôi... hơn anh đến 5 tuổi”. Dù thế, bà cho rằng làm được việc gì có ích đối với mỗi người bất kỳ ở tuổi nào vẫn là điều cần thiết, và không chỉ Nguyên Ngọc mà những ai có tâm huyết với giáo dục hãy bắt tay làm một điều gì đó cho Trường đại học Phan Châu Trinh. 

Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội Phạm Xuân Nguyên được chỉ định là người phát biểu tiếp theo. Ông tóm tắt ở Nguyên Ngọc một nét tính cách: ĐI. Suốt đời là những chuyến đi. Trong hành trình liên tiếp chưa bao giờ dừng lại, Nguyên Ngọc luôn luôn được thanh lọc để ngày càng già dặn, chín chắn, định hướng cuộc đời một cách sáng suốt làm nên cả một tấm gương soi cho lớp trẻ. Ông còn bật mí cho biết, Nguyên Ngọc là người sáng lập Hội nhà văn Việt Nam năm 1957, nhưng con người 80 tuổi ấy lại là... một hội viên trẻ của Hội Nhà văn Hà Nội, chỉ mới vừa tròn 4 tuổi, được chuẩn xét sau một thời gian dài nộp đơn. Cuối cùng, ông lấy ra một khung ảnh trao tận tay Nguyên Ngọc, là tặng phẩm của cá nhân ông bên cạnh lẵng hoa của Hội Nhà văn Hà Nội, khung ảnh lồng một bài thơ do ông ghép tên các tác phẩm của Nguyên Ngọc lại mà thành. Bài thơ có nhan đề Nguyên Ngọc người đi:

Sống cùng đất nước đứng lên
Tám mươi năm ấy nhớ quên những gì
Đi con đường chúng ta đi
Đôi chân trần mải miết vì dặm xa
Rẻo cao cát cháy đã qua
Đường mòn trên biển vẫn là hôm nay
Lắng nghe cuộc sống hàng ngày
Rừng xà nu vẫn thẳng ngay kiên cường
Vừa đi vừa nghĩ dọc đường
Tám mươi tuổi bước vào trường Châu Trinh
Đường xa muôn nỗi gập gềnh
Đã đi, đi tiếp, như hành quân xa.

Học giả Nguyễn Trung với bộ râu xem ra đã xum xuê trắng bạc hơn trước nhưng lời phát biểu vẫn đầy nhiệt huyết, tuy khí sắc có phần không vui. Ông nói, đất nước đang ở vào một tình thế lâm nguy và gằn giọng hai chữ lâm nguy làm người nghe chột dạ. Chưa bao giờ chúng ta đứng trước những thách thức “được mất” như bây giờ. Hoặc sẽ trở thành một quốc gia tự cường, tự do, dân chủ, hoặc là mất tất cả. Ứng với nhà văn Nguyên Ngọc, theo ông rõ ràng Nguyên Ngọc đã đánh đổi cả cuộc đời cho mục tiêu vì một đất nước đứng lên, có độc lập, dân chủ, tự do. Cho nên, bổ sung vào chữ “đi” của Phạm Xuân Nguyên, theo ông, phải nói phẩm cách nổi trội ở Nguyên Ngọc là ĐỨNG LÊN và đó là sức lôi cuốn làm nên huyền thoại Nguyên Ngọc.

clip_image010
Nguyễn Trung. Ảnh: Người Buôn Gió

TS Nguyễn Văn Khải – ông già Ô Zôn – tâm sự rằng, trong kháng chiến chống Pháp thì ông chưa có mặt ở chiến trường nhưng đến kháng chiến chống Mỹ ông đã lăn lộn nhiều năm ngoài mặt trận, và những ngày ấy, những gì Nguyên Ngọc viết trong Đất nước đứng lên mà ông từng tâm niệm, ông đều đưa ra áp dụng. Hai áp dụng cụ thể nhất là khi bộ đội bắt được tù binh, tiếng nói nhân bản của Nguyên Ngọc trong cuốn tiểu thuyết trứ danh đã ngăn ông và đồng đội có những chuyện căm thù quá khích dẫn đến manh động, và một lần khác, khi nhiều ngày bị đứt liên lạc không còn muối, ông đã cho áp dụng kinh nghiệm đốt lá cây tro trộn với cơm, nhờ dó cả đơn vị vẫn khỏe mạnh tiếp tục cuộc hành binh.

clip_image012
TS Nguyễn Văn Khải. Ảnh: Hy Tuệ

GS Phạm Duy Hiển cũng có những cảm nghiệm về thời sự gần giống học giả Nguyễn Trung. Theo ông nếu dùng phương pháp loại suy thì nhiều người dễ nhận ra thời điểm này đang là một giai đoạn cực kỳ khó khăn, việc định hướng cho ra một lối thoát khả dĩ tin được là hiện thực gần như vô vọng. Có đôi khi cuộc sống như mất chuẩn mực và ngay cả với người tâm huyết, để sống vững vàng được là một cố gắng vượt quá sức mình. Những cảm nhận này càng rõ hơn trong thời gian mới đây ông đã cùng “gánh xiếc rong” của Nguyên Ngọc đi hết Tây Nguyên đến Hội An. nhưng cũng chính chuyến đi đã giúp ông nhìn thấu thị hơn về một Nguyên Ngọc bằng xương bằng thịt mà hàng ngày ông vẫn gần gũi. Trong cuộc sống, nói đến thành đạt thì có rất nhiều người nhưng dễ chưa mấy ai trở thành một huyền thoại sống như Nguyên Ngọc trong môi trường hoạt động của ông ấy. Có thể nói Nguyên Ngọc đã truyền lửa sống đến cho người dân ở bất kỳ nơi nào ông từng sống. Khi tổ chức mừng sinh nhật Nguyên Ngọc tại miền Trung, có những phụ nữ như Y Pớ và Y Păn từ một nơi xa xôi đánh đường về dự, và thông qua ánh nhìn đắm đuối của họ, ông hiểu, họ đã dành cho Nguyên Ngọc tất cả trái tim của mình. Khi ông hỏi họ đã phải nhớ nhung Nguyên Ngọc trong bao lâu thì họ nói rõ: nhớ suốt 17 năm trời. Chính bởi là một người truyền lửa sống nên Nguyên Ngọc mới là linh hồn của một trường đại học như Đại học Phan Châu Trinh, một trường đại học muốn là một thể nghiệm của cách giáo dục mới đối với thế hệ trẻ, nhằm làm hình mẫu để vực dậy cả một nền giáo dục đang đứng trên bờ vực, nhưng vì thế cũng đã phải chịu vố số khó khăn chồng chất, lắm chông gai, có lúc tưởng không đứng nổi, kể cả cái khó khăn trong cách điều hành đại học theo cung cách lãng mạn của một nhà văn. Và cũng phải là một Nguyên Ngọc thì mới vượt được mọi lực cản như từng quả núi ngáng chân mình, chứ nếu người khác, chẳng hạn cá nhân ông, thì đành bó tay đầu hàng, bởi ông không thể xa vợ con đằng đẵng vì một lý tưởng giáo dục vô vụ lợi trong hàng tháng hàng năm như Nguyên Ngọc được. Nhưng khó khăn thật ra vẫn còn ở phía trước, đòi hỏi bạn bè chìa vai gánh vác và nếu như Nguyên Ngọc vẫn giữ lời hứa “làm việc trong mười năm nữa” thì lần này thế nào ông cũng sẽ là người chia sẻ với Nguyên Ngọc trong một vài việc nào đấy hợp với sức mình.

clip_image014
GS Phạm Duy Hiển. Ảnh Hy Tuệ

GS Nguyễn Huệ Chi không định phát biểu nhưng khi được Ban tổ chức chỉ định ông cũng đứng lên ứng khẩu nói một vài ý nghĩ của mình về nhà văn Nguyên Ngọc mà từ lâu ông coi là bậc đàn anh. Ông cho rằng khái quát phẩm chất của Nguyên Ngọc thì khái niệm trước tiên nên dùng là Nguyên Ngọc là một chiến sĩ đúng với nghĩa đen của mấy chữ ấy. Hễ ở đâu là mặt trận thì Nguyên Ngọc đến và Nguyên Ngọc đến để giải quyết yêu cầu đánh lui, đánh bại cái ác cái xấu mà mặt trận đó đòi hỏi. Khi ông lên Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp, ông là chiến sĩ trên mặt trận xã hội, làm cái việc giác ngộ người Thượng, kéo đồng bào Thượng hợp sức chung lòng với người Kinh đánh Pháp. Khi ông trở lại Tây Nguyên lần sau, ông là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, chống lại nguy cơ làm hỏng môi trường sinh thái và văn hóa đặc thù của người Thượng, làm sao giữ được chút nào hay chút ấy cuộc sống tự nhiên của người Thượng như họ đã từng có ở giữa núi rừng thiêng liêng và ông thần Giàng của họ. Còn khi ông chuyển sang làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Trường đại học Phan Châu Trinh là ông tự nguyện làm người chiến sĩ trên mặt trận giáo dục đang ở vào một thời điểm hết sức nguy nan cần một bứt phá bản lĩnh để cứu nguy cho nó. Ở đâu Nguyên Ngọc cũng gặp muôn nghìn khó khăn trắc trở chứ không một mặt trận nào dễ dàng, nhưng với Nguyên Ngọc thì không gì có thể lay chuyển tấm lòng gang thép của ông và cái lẽ sống mà vì nó ông đã hy sinh tất cả. Cho nên, để dễ hình dung tư cách chiến sĩ của Nguyên Ngọc thì lại có thể ví von Nguyên Ngọc là một cây xà nu không kẻ thù nào bẻ gãy. Đó không phải là sự cứng nhắc, khô cứng mà là sự dẻo dai bền sức như một thiên tính của ông. Vì thế, những ngày Nguyên Ngọc gặp khó khăn ở Đại học Phan Châu Trinh, trang Bauxite Việt Nam là một trong những tiếng nói truyền thông đã kịp thời lên tiếng. Có lần, một phái viên của một nhân vật nào đó ở Bộ Giáo dục đã đến tìm ông với tư cách chủ nhân trang mạng của trí thức, mong mượn tiếng nói này để phản pháo đối với Nguyên Ngọc mà theo họ, không đủ tư cách lãnh đạo một đại học như Đại học Phan Châu Trinh. Tuy nhiên ông đã trả lời người đó ngay trong buổi gặp nhau: “Anh đến tôi để yêu cầu điều đó thì anh nhầm mất rồi. Từ lâu, Nguyên Ngọc đã là một cây xà nu trong tâm trí chúng tôi. Mà đã thế thì chúng tôi cũng phải là những “xà nu con” để xứng đáng với ông ấy chứ. Bẻ gãy chúng tôi khó lắm”. Và người thuyết khách ấy đành bỏ cuộc. Nhưng ca ngợi Nguyên Ngọc, GS Nguyễn Huệ Chi vẫn không quên nói một điều mà theo ông, có nói ra mới thỏa bụng: Nguyên Ngọc đúng là một cây xà nu nhưng là một cây xà nu suốt đời thất bại. Mặt trận nào hiện cũng đang đẩy lùi ông. Nguyên do vì đâu, không nói thì ta đều có thể chiêm nghiệm mà rút ra kết luận. Nền văn hóa của người Thượng ngày nay, trong một bài ký của Nguyên Ngọc vừa viết, đang thoái hóa so với thời họ được sống hồn nhiên như họ vẫn có trong cuốn Mọi Kon Tum của hai tác giả là bố và bác ruột Nguyễn Huệ Chi khảo tả. Họ sẽ đi đến đâu và liệu có giữ được chút gì là văn hóa Tây Nguyên nữa không, đó là cả một ẩn số chưa có lời đáp lạc quan như ta mơ tưởng. Còn ngôi trường Phan Châu Trinh, hãy thử giả định, nếu rồi đây một người đầy bản lĩnh như Nguyên Ngọc phải rời nó, một người có tấm lòng như ông Bí thư Hội An không còn có điều kiện chăm sóc đến nó, thì số phận của nó ra sao, có lại rơi vào tay một nhóm lợi ích nào không, như trước đây nó đã suýt rơi vào? Chưa ai có thể trả lời dứt điểm cả. Bởi vậy, nói Nguyên Ngọc là một cây xà nu thất bại không phải là nói đến một cá nhân Nguyên Ngọc mà là nói đến cả một thế hệ tâm huyết đã chịu thất bại trước áp lực của một thời thế ngổn ngang lắm điều nghịch lý. Thất bại đó càng soi tỏ hơn cái ngang bướng cứng cỏi của “thế hệ cây xà nu”.

clip_image016
Nhà văn Nguyên Ngọc, GS Nguyễn Huệ Chi và PGS Phạm Khiêm Ích. Ảnh: Hy Tuệ

Hưởng ứng ý kiến của GS Nguyễn Huệ Chi, PGS Phạm Vĩnh Cư nói đến sự xóa sổ đau lòng của Trường viết văn Nguyễn Du mà Nguyên Ngọc và Hoàng Ngọc Hiến từng bỏ rất nhiều công sức đặt nền móng xây cất nên, mà nguyên do sâu xa là có “một vị tai mắt nào đấy” không thỏa được ý nguyện đổi tên thi hào Nguyễn Du sang tên của mình nên tìm mọi lý do dẹp đi bằng được. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng dẫn chứng việc Nguyên Ngọc vào những năm cuối thập nên 80 thế kỷ trước đã làm cho tờ báo Văn nghệ bỗng chốc hồi sinh, đánh dấu một giai đoạn đổi mới đầy khí thế trong đời sống văn học nghệ thuật dân tộc. Nhưng tia lửa sáng Nguyên Ngọc thắp lên trên bầu trời văn nghệ không chống chọi nổi với những lực lượng cố tình thổi tắt nó, và Nguyên Ngọc đã phải ra đi, khí thế đổi mới của Văn nghệ thời Nguyên Ngọc đến nay chỉ còn là dư âm tiếc nuối “một đi không trở lại”. Đó là tấn bi kịch của cái cao cả bị cái thấp hèn đánh lùi. Còn nhà giáo Phạm Toàn, người đồng tuế với nhà văn Nguyên Ngọc, thì cho rằng không nên đắm chìm trong mặc cảm thất bại, như thế sẽ không ích gì. Hãy cứ tiếp tục hành động vững vàng như mình vẫn tâm niệm, và bằng những công việc cụ thể chứng minh cái thiện tâm đổi mới xã hội của mình. Ông Phạm Toàn hiện đang là người chủ trì Nhóm Cánh Buồm soạn sách giáo khoa cải cách cho học sinh cấp I. Ông hy vọng mình sẽ sống đến khi các bộ sách giáo khoa cải cách của Nhóm ông kể cả cấp 2, cấp 3 được soạn xong.

clip_image018
PGS Phạm Vĩnh Cư. Ảnh Hy Tuệ

clip_image020
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân. Ảnh: Hy Tuệ

Ngay đến người chủ trì cũng không ngờ cuộc gặp gỡ trong phạm vi hẹp lại có một kết quả viên mãn đến thế. Những vấn đề cuộc họp khơi gợi động đến tâm can nhiều người và có một sức cuốn hút khiến thính giả không biết rằng thời gian đã quá trưa. Trước lúc chia tay, trong màn mưa tầm tã, nhà văn Nguyên Ngọc xúc động nói những lời cám ơn đối với mọi tấm lòng bè bạn, mọi ý kiến trao đổi chân tình. Ông cho biết ông chính là chắt bên ngoại của nhà thơ Nguyễn Công Trứ, mẹ ông gọi Nguyễn Công Trứ bằng cố. Trong đời mình, ông luôn luôn lấy tấm gương Nguyễn Công Trứ làm một điều an ủi – một “ông Hy Văn tài bộ” có đến trăm lần lên voi xuống chó nhưng bao giờ cũng giữ được sự thanh thản của tâm hồn.

Phóng viên B.V.N.
Nguồn: BauxiteVietNam.
-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

TRỰC TIẾP: LỄ MỪNG ĐẠI THỌ NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC 80 TUỔI

 
Lễ mừng thọ Nhà văn Nguyên Ngọc do Tạp chí Tia Sáng tổ chức tại cafe Sách, 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.

09h buổi lễ mới bắt đầu, nhưng từ sớm đã thấy sự hiện diện của Bà Nguyễn Thị Bình, Nguyên Phó Chủ tịch Nước, Giáo sư Hoàng Tuỵ, Ông GĐ TT văn hoá Việt Nhật. Cùng rất nhiều lẵng hoa đẹp của thân hữu, các tổ chức, cá nhân và người hâm mộ đưa tới chúc mừng Nhà văn, trong đó có lẵng hoa của Nhóm thân hữu hè 2011 Kính mừng Đại thọ Nhà văn Nguyên Ngọc.

Chúng tôi thấy có sự hiện diện của đông đảo các giáo sư, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Trung, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Lại Nguyên Ân, Phạm Duy Hiển, Phạm Khiêm Ích, Đỗ Lai Thuý, Trần Ngọc Vưong, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Hồng Giang, Lâm Quang Thiệp, Phạm Xuân Nguyên, Bảo Ninh, Hoàng Thúc Hào, Phạm Toàn, Đào Tiến Thi, Nguyễn Văn Khải, Bùi Như Hưong, Nguyễn Tường Thuỵ, Trần Vũ Hải, Nguyễn Xuân Diện...và đông đảo người hâm mộ nhà văn đã tới dự trong một không gian ấm cúng của cafe Sách.

Các nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán, Nguyễn Văn Cự và TTX BS, các blogger Người Buôn Gió, Phương Bích cùng một số nhà báo đã đến dự, đưa tin về buổi lễ.

Các vị Tô Văn Trường, Đặng Lê Nguyên Vũ, Giản Tư Trung, Giáp Văn Dương, Phạm Xuân Yêm, Việt Phương, Nguyễn Minh Nhị....đã gửi hoa và điện thư chúc mừng.

Mở đầu, sau lời giới thiệu của Ông Văn Thành, Thư ký toà soạn Tia Sáng phát biểu, là phần văn nghệ do các SV Nhạc viện Hà Nội trình bày.

09h35: Nhà báo Hoàng Thu Hà, TBT Tia Sáng phát biểu ý kiến về sự gắn bó của Nguyên Ngọc - một trí thức dấn thân đối với Tia Sáng.

Sau khi mọi người cụng ly rượu chúc mừng, nhà văn Nguyên Ngọc xúc động bày tỏ tình cảm của mình đối với mọi người.


Ông nói, một điều may mắn lớn trong đời là ông được gặp những người thầy, người bạn, người chị, ngừoi anh. Và tất cả họ đều là những người thầy của ông. Ông nói ông không có may mắn được học đầy đủ, chưa hết phổ thông, chưa được học đại học, nhưng 7 năm tập kết ra Bắc ông đã học được nhiều, qua các cuộc gặp gỡ, trò chuyện với mọi người.

"Tôi đã đi qua hai cuộc chiến tranh, được dân dạy dỗ, nuôi nấng tôi, có thể nói là suốt đời. Bây giờ, tôi nghĩ tất cả những chân lý mà mình nhận biết, đều do dân dạy cho. Mỗi lần về trong dân, tôi như được tắm trong dòng sửa ngọt lành, qua đó tôi có thêm nghị lực...".

"Còn nhiều việc quá! Ngày hôm qua, tại Đại học ở Hội An, tôi hứa sẽ làm việc với các bạn 10 năm nữa".

Sau đó, Giáo sư Hoàng Tuỵ, người thầy học của Nguyên Ngọc đã phát biểu ý kiến, bằng một bài viết mà ông chưa công bố.

10h10: Bà Nguyễn Thị Bình phát biểu: Hơn Nguyên Ngọc 5 tuổi, tôi cũng thấy còn nhiều việc cần làm, vì không thể không làm khi đứng trước tình hình đất nước như thế này. Bà chia sẻ với các ý kiến phát biểu của Nhà văn Nguyên Ngọc.

Sau phát biểu ngắn gọn của Bà Nguyễn Thị Bình là phát biểu của Nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội.

Bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia về kinh tế phát biểu về thời gian được làm việc cùng nhà văn Nguyên Ngọc. Bà chúc Nhà văn Nguyên Ngọc bút lực dồi dào, cầu mong ông có nhiều sức khoẻ để đóng góp với đất nước, trong tình cảnh hiện nay.

Các giáo sư Chu Hảo, Nguyễn Minh Thuyết và nhà văn Trần Thị Trường đã có mặt tại buổi lễ.

Tiếp lời bà Phạm Chi Lan, Ông Nguyễn Trung, cựu Đại sứ VN tại Thái Lan phát biểu: Đất nước ta đang bị uy hiếp, đang lâm nguy và đang cần một sự lựa chọn. Nếu cứ mãi như thế này là mãi mãi bị lệ thuộc. Đất nước cần đứng lên! Một lần nữa!

TS. Nguyễn Văn Khải, biệt hiệu Ông già Ozon phát biểu ý kiến.

Sau lời phát biểu của TS. Nguyễn Văn Khải là phát biểu của GS. Phạm Duy Hiển.

Ông nói: Phải chăng cuộc sống bây giờ không có chuẩn mực nữa! Nhiều lúc thấy không còn biết bấu víu vào đâu nữa. Mấy hôm nay, tôi đi cùng Nguyên Ngọc, tôi thấy Nguyên Ngọc đã trở thành huyền thoại. Tôi đi Tây Nguyên, thấy trẻ con ở đó yêu mến Nguyên Ngọc đến như thế nào! Nguyên Ngọc là một huyền thoại, huyền thoại ngay trong nhân dân, trong bè bạn.

GS Huệ Chi phát biểu: Nguyên Ngọc trước hết là một chiến sĩ. Cứ nơi nào có vấn đề là có Nguyên Ngọc với tư thế sẵn sàng của một chiến sĩ. Người chiến sĩ Nguyên Ngọc đã chiến đấu cho sự trường tồn của văn hoá Tây Nguyên. Ông dựng lên Trường Phan Chu Trinh để làm một cây xà nu trong mặt trận giáo dục. Có người ở ở Bộ GD đã đến tôi, yêu cầu tôi đăng các bài phản đối Nguyên Ngọc và trường Phan Chu Trinh. Tôi nói với anh ta: "Tôi đi theo anh Nguyên Ngọc, anh ấy là một cây xà nu. Tôi cũng là một cây xà nu, vì thế anh không bẻ được tôi đâu. Cuối cùng, anh ta đa phải ra về".

GS Phạm Vĩnh Cư, nguyên hiệu trưởng trường Viết văn Nguyễn Du phát biểu. Ông nói về những đóng góp của Nguyên Ngọc trong việc bồi dưỡng, đào tạo các nhà văn, và kể cả "sự thất bại" của Nguyên Ngọc trong việc này. Nguyên Ngọc không tiếc thời gian, tâm huyết để đóng góp với trường, mặc dù...mặc dù...

Sau này, trường Nguyễn Du tan nát rồi, có nhà lãnh đạo bảo tôi: Không thể để trường đó, vì có ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyên Ngọc.

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân phát biểu về Nguyên Ngọc với Trường Phan Chu Trinh và Trường Viết văn Nguyễn Du. Ở đó, Nguyên Ngọc đã "thất bại", sự thất bại mang tính bi kịch.

Nhà giáo Phạm Toàn phát biểu ý kiến.

GS Chu Hảo là người phát biểu sau cùng. Sau lời phát biểu của GS Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc cảm ơn mọi người đã đến với ông hôm nay. Mọi người lên tặng hoa và chụp ảnh lưu niệm với Nhà văn Nguyên Ngọc.

Chùm ảnh trong buổi lễ mừng thọ nhà văn Nguyên Ngọc:











 




  
 Tường thuật trực tiếp từ Cafe 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội. 
Bài: Tễu. Ảnh: Gió & Khâm.


-->đọc tiếp...