Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Anh Vân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Anh Vân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

VÌ SAO BỘ CÔNG AN KHÔNG VÀO CUỘC ĐỂ TRUY XÉT ĐỖ HỮU CA ?

Bộ Công an cần sớm vào cuộc vụ án Tiên Lãng
Luật sư Nguyễn Anh Vân
- gửi riêng NXD-Blog (đăng lần đầu 15h25, ngày 11.2.2012)
Trên cơ sở những thông tin thu thập được trên các phương tiện thông tin đại chúng trong vụ án Tiên lãng, tôi đưa ra ý kiến, quan điểm pháp lý của riêng mình để các độc giả tham khảo, đồng thời cũng mong muốn các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sớm làm sáng tỏ để giải quyết những vấn đề pháp lý còn tồn đọng, chưa được cơ quan cơ quan tham gia tố tụng quan tâm trong vụ án.
1.Những phát biểu “lạ” của ông Giám đốc công an TP Hải Phòng
Sau khi hoàn tất việc cưỡng chế đầm nhà ông Vươn, với chiến công hiển hách và sự “hiệp đồng tác chiến” kỳ tài của các lực lượng tham gia cưỡng chế, ông Giám đốc công an đầy hứng khởi phát biểu trước báo giới: “Nhận định những kẻ trong ngôi nhà 2 tầng chống đối bằng cáh trải rơm dọc hai bên đường rồi tẩm xăng, lãnh đạo công an TP đã lên phương án đốt cháy toàn bộ. Song trên thực tế chưa dùng đến. Sau hàng loạt lượt nhả đạn, khói bay mù mịt, lực lượng chức năng đã tiếp cận được ngôi nhà 2 tầng. Tuy nhiên 3 người đàn ông trong ngôi nhà đã biến mất từ lúc nào (?!)”. Qua lời phát biều này, tôi thấy ông Giám đốc nhắc đi nhắc lại từ “ ngôi nhà” tới 3 lần.Thế nhưng, sau khi dư luận không đồng tình với việc cưỡng chế và việc phá nhà của đoàn cưỡng chế thì ông đã thay đổi “nhận thức”, ông chuyển “ngôi nhà” thành cái “ chòi canh cá”. “ Khu vực 40,3 ha của Đoàn Văn Vươn không được xây nhà ở cho nên dựng lên bất cứ thứ gì thì đấy cũng chỉ là chòi trông cá … Việc thay đổi tên gọi ngôi nhà thành chòi canh cá của ông Giám đốc nhằm mục đích gì không cần nói ra thì ai cũng biết.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 nghị định 56/2010/NĐ –CP ngày 24/05/2010 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2007 ngày 24/06/2007 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật cư trú thì “ Nơi cư trú hợp pháp của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dần là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú”. Gia đình ông Vươn, ông Quý sinh sống ở đây hàng chục năm trời, mọi người trong xã đều biết, chính quyền xã cũng biết, thế mà ông Giám đốc lại bảo đó là cái chòi canh cá”.  Cũng theo Nghị định này, tại mục b, khoản 2 Điều 3 thì họ vẫn được cấp sổ tạm trú mặc dù nhà của họ xây dựng trên đất nuôi trồng thủy sản, không phải đất xây dựng nhà, khi họ chỉ cần có “ Văn bản cam kết của công dân về việc có chỗ ở thuộc quyền sử dụng của mình và không có tranh chấp về quyền sử dụng …”. Quyền này cũng được cũng được ghi nhận tại Điều 58  Bộ luật dân sự 2005. Cũng trong Bộ luật này, theo Điều 163, 169, 170 thì tài sản và quyền sở hữu của họ tại nơi cư trú cũng được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.
Như vậy gia đình ông Vươn, ông Quý dù có xây dựng nhà trái phép, không phép trên mảnh đất đó thì luật pháp vẫn thừa nhận nơi cư trú là chỗ ở hợp pháp của họ và tài sản của họ được pháp luật bảo hộ. Và dù ông Giám đốc công an Hải phòng có thể thay đổi cách gọi “ngôi nhà” là gì đi nữa thì nó vẫn được coi là nơi cư trú, là chỗ ở hợp pháp của gia đình ông Quý, ông Vươn và được pháp luật bảo vệ.
Quyền được cư trú còn được quy định rất rõ tại Điều 73 Hiến pháp 1992 của nhà nước CHXHCN Việt nam:“ Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép”. Bộ luật hình sự cũng quy định rất rõ vấn đề này tại Điều 124 về tội: “Xâm phạm chỗ ở của công dân”. Như vậy, đoàn cưỡng chế xông vào nơi cư trú, chỗ ở của ông Quý (nằm ngoài khu vực cưỡng chế) khi không được pháp luật cho phép, không được gia đình ông Quý cho phép là vi phạm Điều 73 Hiến pháp 1992 và Điều 124 Bộ luật hình sự nhà nước CHXHCN Việt nam.
Mặt khác, việc xử lý phá dỡ các công trình xây dựng trái phép, không phép phải tuân thủ theo trình tự thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về hành chính chứ không phải khi người dân xây dựng vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng ..... thì chính quyền thích thì phá, không thích thì thôi như cách nói của ông giám đốc “ Khu vực 40,3 ha của Đoàn Văn Vươn không được xây nhà ở cho nên dựng lên bất cứ thứ gì thì đấy cũng chỉ là chòi trông cá … Chòi trông cá xây dựng trên diện tích đất bị thu hồi thì việc phá hay không phá không thành vấn đề” (theo Petrotime). Với cách lập luận như thế này của ông Giám đốc công an thành phố Hải phòng thì ông đã “quên” quá nhiều kiến thức luật và coi thường tài sản của dân.
2. Chính quyết định khởi tố vụ án “Hủy hoại tài sản” của ông Giám đốc công an đã tố cáo sự thiếu trung thực của ông Giám đốc
Cuối cùng thì ông Giám đốc công an thành phố Hải phòng cũng phải ra Quyết định khởi tố vụ án hình sựHủy hoại tài sản”. Dù có hơi muộn nhưng cũng xóa đi được những vết dơ bẩn do ông Giám đốc phết lên trên mặt những người dân hiền lành, vô tội của vùng duyên hải đầy sóng dữ.
Lẽ ra, khi ông Giám đốc nhận được đơn tố cáo của gia đình ông Vươn, ông Quý hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh việc một số đối tượng phá hủy nhà của họ, lấy đi một số tài sản và trộm cắp cua, cá trong đầm thì ông phải cho thẩm tra, xác minh để khởi tố vụ án “ Hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và Tội trộm cắp tài sản” theo Điều 143, 138 Bộ luật hình sự của nhà nước CHXHCN Việt nam. Có như vậy ông Giám đốc mới làm tròn trách nhiệm và khách quan trong vụ án. Đằng này ông lại cho rằng: “ … việc cưỡng chế này được sự đồng tình rất cao của người dân trong khu vực. Hàng trăm người ra đó chứng kiến sự việc này đều rất ủng hộ lực lượng công an. Cho nên khi khám nghiệm hiện trường xong, giao lại cho địa phương thì chính những người dân xung quanh người ta vào đạp đổ phá đổ. Cho nên việc phá cái chòi ấy chúng tôi cho kiểm tra lại thì không ai ra lệnh phá và cũng không biết ai làm bởi nhân dân lúc ấy người ta tràn xuống rất đông” (theo Petrotime). Thật nực cười trong lời phát biểu này. Nó nực cười ở chỗ người dân dùng chân, tay không mà đạp đổ, phá đổ được “ngôi nhà 2 tầng” được xây dựng kiên cố bằng bê tông, cốt thép (chắc dân vùng biển ăn nhiều đặc hải sản nên chân tay cứng như sắt, như thép). Nó nực cười ở chỗ nhiều người phá nhà như thế, trước mắt chính quyền địa phương, giữa thanh thiên bạch nhật như thế mà ông Giám đốc không điều tra được ai là thủ phạm thì quả thật chuyện chỉ có ở công an Hải phòng thời ông đương nhiệm. Trong nội dung lời phát biểu này có nhiều vấn đề phải làm rõ. Tuy nhiên tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề mà tôi quan tâm. Vấn đề thứ nhất, ông Giám đốc cho rằng việc cưỡng chế là đúng và được người dân ủng hộ. Nếu đúng như vậy thì việc làm của các ông thật đáng quý, đáng hoan nghênh. Thế nhưng sự thật không như ông Giám đốc nói. Sau khi dư luận, người dân lên tiếng, các ông đã không thể bưng bít những việc làm sai trái của mình. Các ông đã bị lộ. Sự thật đã được lột trần. Sự giả dối, thiếu trung thực đã bị phơi bày. Và chính quyết định khởi tố vụ án “Hủy hoại tài sản” của ông Giám đốc đã tố cáo những lời ông nói không đúng tới 0,000…1% sự thật. Vấn đề thứ hai, là việc đổ lỗi cho dân phá nhà. Thật đáng hổ thẹn về việc này. Theo phát biểu của ông Giám đốc thì người dân họ tin tưởng vào ông, ủng hộ ông trong việc cưỡng chế. Thế mà ông lại quay lưng lại với họ, phụ bạc họ. Ông cho rằng “chính những người dân xung quanh người ta vào đạp đổ phá đổ”. Nếu những lời ông phát biểu là đúng sự thật thì sau Quyết định khởi tố vụ án “Hủy hoại tài sản” của ông, họ sẽ trở thành tội phạm, trở thành các bị can trong vụ án. Họ phải đối mặt với ông, đối mặt với những bản án phạt tù theo luật định. Thật may mắn là sự thật không như ông nói. Nhưng ông sẽ phải đối mặt với những vấn đề hóc búa khác khi phải  thực hiện các Quyết định khởi tố bị can trong vụ án. Và với cương vị (Giám đốc công an TP Hải phòng) và kinh nghiệm (trên 10 năm làm công tác điều tra) của ông, ông thừa biết hành vi của ông có dấu hiệu vi phạm tội “Vu khống” theo Điều 122 Bộ luật hình sự. Nếu vụ án được khởi tố và đưa ra xét xử thì với chức vụ, quyền hạn của ông như hiện nay, khung hình phạt tù dành cho ông từ một năm đến bảy năm theo khoản 2 của tội này. Vấn đề thứ ba, tôi muốn đề cập đến nghiệp vụ của ông. Hàng trăm người dân có mặt tại hiện trường chứng kiến những kẻ phá nhà mà ông “không biết ai làm bởi nhân dân lúc ấy người ta tràn xuống rất đông” và ông không điều tra được một kẻ nào. Như vậy nghiệp vụ của ông có vấn đề. Giả sử có hàng trăm tên cướp xông vào cướp bóc chính ngôi nhà của ông, ông cũng chịu bó tay, không điều tra ra chúng vì chúng đông quá, không biết thằng nào với thằng nào.
3. Một sai phạm khác của ông Giám đốc công an Hải phòng
Tội giết người là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại Điều 8 và Điều 93 Bộ luật hình sự. Với tội danh này thì người phạm tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình. Do vậy theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra phải có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ nếu họ và người đại diện hợp pháp không mời người nào bào chữa. Thế nhưng ông đã không thực hiện quy định này để các Văn phòng luật sư phải lên tiếng xin được bào chữa miễn phí. Và   mãi tới một tháng sau Cơ quan điều tra mới cấp Giấy chứng nhận bào chữa cho người bào chữa. Như vậy ông Giám đốc công an đã vi phạm Bộ luật tố tụng hình sự.
4. Những vấn đề pháp lý của vụ án cần được xem xét
Như chúng ta đã biết, Thủ tướng chính phủ đã có kết luận sơ bộ về vụ án Tiên lãng. Theo đó, việc ra Quyết định thu hồi đất, Quyết định cưỡng chế, tổ chức cưỡng chế của UBND huyện Tiên lãng là trái với các quy định của pháp luật hiện hành. Từ những việc sai trái này họ đã để lại khá nhiều hậu quả pháp lý. Ngoài những hậu quả pháp lý đã được cơ quan tham gia tố tụng xem xét thì các cơ quan này cần phải xem xét thêm những vấn đề pháp lý dưới đây.
  1. Cần phải xác minh có hay không có một số đối tượng tham gia đoàn cưỡng chế đã lấy đi một số tài sản của gia đình ông Vươn, ông Quý và có hay không có việc mất cua, cá, hoa mầu trong đầm ông Vươn để xem xét, làm cơ sở khởi tố vụ án “ Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 Bộ luật hình sự.
  2. Xem xét việc khởi tố bị can về tội “ Xâm phạm chỗ ở của công dân” theo Điều 124 Bộ luật hình sự đối với những người đã ra lệnh cho đoàn cưỡng chế xông vào nhà ông Vươn, ông Quý.
  3. Xem xét việc khởi tố bị can về tội “ Vu khống” theo Điều 122 Bộ luật hình sự đối với những cán bộ đã đổ tội cho người dân phá nhà ông Vươn, ông Quý.
  4. Xem xét việc thay đổi tội danh đối với các bị can trong vụ án“Giết người và  chống người thi hành công vụ”. Theo quan điểm pháp lý của cá nhân tôi thì hành vi của họ không cấu thành tội Giết người và tội Chống người thi hành công vụ. Vì rất đơn giản, nếu đoàn cưỡng chế không xâm phạm bất hợp pháp vào nơi cư trú, chỗ ở hợp pháp của họ khi không được pháp luật cho phép (nhà ông Quý nằm ngoài khu vực cưỡng chế), không được gia đình ông Quý cho phép thì đã không xảy ra vụ việc đáng tiếc này. Ngoài ra họ không phạm tội Giết người  và tội Chống người thi hành công vụ còn bởi các lý do sau:
-   Địa điểm gây án (tại nhà ông Quý), nằm ngoài phạm vi cưỡng chế.
-   Họ gài mìn tự tạo để bảo vệ nơi cư trú, chỗ ở hợp pháp và tài sản của họ.
-   Họ bắn súng hoa cải vào đoàn cưỡng chế vì đoàn cưỡng chế xâm nhập bất hợp pháp vào nơi cư trú, chỗ ở hợp pháp để bảo vệ tính mạng tài sản của họ.
-   Họ được pháp luật bảo vệ quyền bất khả xâm phạm nơi cư trú, chỗ ở hợp pháp và tài sản ghi tại Điều 73 Hiến pháp 1992, Điều 124 Bộ luật hình sự và Điều 163, 169, 170 Bộ luật dân sự của nhà nước CHXHCN Việt nam.
Trong vụ án này, nếu họ có phạm tội thì họ chỉ phạm tội Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổtheo Điều 232 Bộ luật hình sự.
Từ những ý kiến nêu trên, tôi thiết nghĩ, nếu trên đây thực sự là những lời phát biểu của ông Giám đốc công an Hải phòng thì Bộ công an cần sớm vào cuộc  đối với vụ án Tiên lãng để việc điều tra vụ án được khách quan, đồng thời làm rõ trách nhiệm của ông Giám đốc công an thành phố Hải phòng về những sai phạm của ông trong vụ án.
Hà Nội ngày 11 tháng 02 năm 2012
Luật sư  Nguyễn Anh Vân (Đoàn Luật sư Hà Nội)

-->đọc tiếp...

LS. NGUYỄN ANH VÂN: QUAN CHỨC HẢI PHÒNG VI PHẠM LUẬT HÌNH SỰ

Phải tố cáo hành vi vi phạm luật hình sự của một số quan chức Hải Phòng
Luật sư Nguyễn Anh Vân
- gửi riêng NXD-Blog ăng lần đầu 11h56, ngày 16.2.2012)

Qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, báo hình, báo viết … chúng ta có thể dễ dàng thu thập được những chứng cứ chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật hình sự của ông Đỗ Trung Thoại - phó chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và ông Đỗ Hữu Ca - Giám đốc công an thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, đã hơn một tháng nay, kể từ khi vụ án Tiên lãng xẩy ra, vẫn chưa thấy lãnh đạo Hải Phòng và các cơ quan bảo vệ pháp luật có thẩm quyền có bất kỳ đồng thái nào đối với những hành vi vi phạm pháp luật hình sự của hai vị này. Để bảo đảm sự công minh của pháp luật, bảo vệ pháp chế của nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam và không để những tên tội phạm chui sâu thêm trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng, chúng ta hãy cùng nhau tố giác chúng để các cơ quan bảo vệ pháp luật đưa chúng ra trước vành móng ngựa.

1.Những phát biểu của ông Đỗ Trung Thoại và ông Đỗ Hữu Ca 

Sau khi bị những người dân và dư luận lên tiếng về việc phá nhà của ông Vươn, ông Quý thì hai ông Thoại, Ca cùng nhau song ca bản tình ca “Dối trá trắng trợn” do họ tự sáng tác. Họ cho rằng việc phá nhà là do người dân tham gia phá chứ đoàn cưỡng chế không phá và họ không ra lệnh cho ai phá. Sau khi bị người dân tố cáo, bị dư luận lên án họ lại trơ tráo chối tội.  Sự việc dần sáng tỏ khi những người được lãnh đạo huyện Tiên lãng thuê phá nhà với tiền công là 500.000VNĐ/1 giờ tố cáo. Lúc này Cơ quan điều tra buộc phải ra Quyết định khởi tố vụ án “ Phá hủy tài sản”. Chính Quyết định khởi tố vụ án “ Phá hủy tài sản” là bằng chứng không thể chối cãi được đã  tố cáo những lời dối trá của hai ông. Chúng ta dễ dàng tìm thấy lời của bản tình ca “ Dối trá trắng trợn”  trên các phương  thông tin đại chúng. Dưới đây là lời bài hát của họ.

Lời của ông Đỗ Trung Thoại 
“Việc phá nhà ông Vươn là do nhân dân bất bình và bức xúc quá nên làm vậy. Nhiều người dân không đồng tình với việc làm của ông Vươn và một số tờ báo viết sai.”.
“ Sau vụ nổ sung chống người thi hành công vụ, lực lượng công an phải rà phá và tìm được vũ khí, vật liệu nổ trong nhà. Các đồng chí báo cáo không ra lệnh san phẳng nhà, nhưng do nhân dân bất bình … nên vào phá. Chứ còng lực lượng cưỡng chế của huyện, lực lượng công an không san phẳng nhà này”.
 “ Việc một số người dân phá hủy ngôi nhà là do UBND huyện Tiên Lãng báo cáo lên chứ chứ không phải là phát ngôn của UBND thành phố Hải phòng, cũng như cá nhân tôi”?!”.
“ Nhiều cơ quan báo chí trung ương đưa tin về vụ việc “ không đúng sự thật khiến nhân dân bất bình”. Thay mặt UBND thành phố Hải phòng ông đề nghị báo trí không tiếp tục đưa về vụ việc này nữa!”.

Lời của ông Đỗ Hữu Ca
… việc cưỡng chế này được sự đồng tình rất cao của người dân trong khu vực. Hàng trăm người ra đó chứng kiến sự việc này đều rất ủng hộ lực lượng công an. Cho nên khi khám nghiệm hiện trường xong, giao lại cho địa phương thì chính những người dân xung quanh người ta vào đạp đổ phá đổ. Cho nên việc phá cái chòi ấy chúng tôi cho kiểm tra lại thì không ai ra lệnh phá và cũng không biết ai làm bởi nhân dân lúc ấy người ta tràn xuống rất đông” (Đài truyền hình Hải Phòng vào lúc 19h45 ngày 17/01/2012).

2. Những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự của ông Đỗ Trung Thoại và ông Đỗ Hữu Ca
Theo nội dung những lời phát biểu trên của các ông Đỗ Trung Thoại và ông Đỗ Hữu Ca, chúng ta dễ dàng nhận thấy những dấu hiệu vi phạm tội “Vu khống” và tội “Che dấu tội phạm” của họ.

a. Hành vi có dấu hiệu vi phạm tội “Vu khống”
Trong Bộ luật hình sự 2009 tội “Vu khống” được quy định như sau:
“Điều 122. Tội vu khống
1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với nhiều người;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người thi hành công vụ;
e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Theo quy định của điều luật này, chúng ta cần làm rõ một số vấn đề sau:
-     Hành vi bịa đặt những điều biết rõ là bịa đặt: Căn cứ vào khoản 1 điều này thì mặc dù không nhìn thấy trực tiếp người dân phá nhà ông Vươn, ông Quý nhưng Phó chủ tịch Đỗ Trung Thoại đã nói: “ Việc phá nhà ông Vươn là do nhân dân bất bình và bức xúc quá nên làm vậy. Nhiều người dân không đồng tình với việc làm của ông Vươn và một số tờ báo viết sai” và ông Ca thì khẳng định:  “…Cho nên khi khám nghiệm hiện trường xong, giao lại cho địa phương thì chính những người dân xung quanh người ta vào đạp đổ phá đổ”. Thực tế thì người dân không ai phá nhà như lời ông Thoại, ông Ca nói. Điều này hiện đã được những người trực tiếp phá nhà tố cáo với cơ quan chức năng là họ được lãnh đạo UBND huyện Tiên lãng, UBND xã Vinh quang thuê phá với tiền công là 500.000VNĐ/ 1 giờ. Vụ việc này đã được Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án “Hủy hoại tài sản” để điều tra làm rõ. Như vậy là ông Thoại, ông Ca đã bịa đặt việc không có thật cho người dân.
-     Hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt:  Việc bịa đặt này lại được các ông  loan truyền trên khắp phương tiện thông tin đại chúng. Ông Thoại bịa đặt trong cuộc họp báo, ông Ca ngoài trả lời báo chí thì lên cả đài truyền hình Hải Phòng loan truyền. Việc bịa đặt này không chỉ lan truyền trong phạm vi địa phận Hải Phòng mà còn lan truyền trên khắp lãnh thổ nước Việt nam và một số quốc gia trên thế giới.
-      Hậu quả của việc bịa đặt, loan truyền: Mục đích của việc bịa đặt của họ nhằm xúc phạm danh dự hay che đậy hành vi phạm tội nào khác được quy định trong Bộ luật hình sự thì các cơ quan chức năng cần điều tra làm rõ. Nếu việc bịa đặt của họ nhằm mục đích che đậy hành vi vi phạm pháp luật của đoàn cưỡng chế thì hành vi này có dấu hiệu vi phạm Điều 21 (Che dấu tội phạm), Điều 313 (Tội che dấu tội phạm) Bộ luật hình sự hoặc việc bịa đặt của họ với mục đích che đậy hành vi cùng tham gia phá nhà thì hành vi này có dấu hiệu vi phạm Điều 143 (Tội hủy hoại tài sản) Bộ luật hình sự. Nếu việc bịa đặt của họ không nhằm mục đích xúc phạm danh dự của người dân thì phải xem xét việc bịa đặt của họ có gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hay không. Trong thực tế, hậu quả của việc bịa đặt đã xẩy ra. Việc bịa đặt này của cả hai ông đã xúc phạm tới danh dự của người dân xã Vinh quang nói riêng và của người dân huyện Tiên Lãng, người dân thành phố Hải Phòng nói chung. Việc bịa đặt này của hai ông cũng đã gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân như:   Quyền cá nhân đối với hình ảnh, Quyền được bảo vệ danh dự theo quy định tại Điều 31, 37 Bộ luật dân sự 2005. Hình ảnh của họ bị các ông bôi nhọ. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ đã bị mọi người nguyền rủa. Họ đã từng bị coi là những tên tội phạm ghê tởm, không còn nhân tính, chỉ tay không mà phá được cả một ngôi nhà hai tầng kiên cố. Giả sử với chức vụ, quyền hạn của các ông, các ông bưng bít được sự thật, vụ việc không được phanh phui thì những người dân này phải đối mặt với tội “Hủy hoại tài sản” theo Điều 143 Bộ luật hình sự. Họ sẽ trở thành tội phạm, trở thành các bị can trong vụ án. Họ phải đối mặt với những bản án phạt tù theo luật định. Mặt khác, các ông còn làm mất niềm tin của nhân dân, làm xấu bộ mặt của Đảng, của chính quyền thành phố Hải Phòng.

Như vậy hành vi vi phạm tội “Vu khống” của ông Đỗ Trung Thoại - phó chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và ông Đỗ Hữu Ca - Giám đốc công an thành phố Hải Phòng đã có đủ các dấu hiệu quy định tại điều luật nêu trên. Hành vi vi phạm này là quá rõ ràng và không thể chối cãi.

Hiên nay các ông này đang giữ các chức vụ trọng trách của  UBND thành phố Hải Phòng và việc bịa đặt của các ông đã xúc phạm danh dự với nhiều người nên họ sẽ bị truy tố theo khoản b, c của Điều 122 và khung hình phạt tù dành cho họ là từ 1 năm – 7 năm. Ngoài ra họ còn  phải chịu hình phạt theo khoản 3 điều này.
b. Hành vi có dấu hiệu vi phạm tội “Che dấu tội phạm”

Trong Bộ luật hình sự 2009 tội “Che dấu tội phạm” được quy định như sau:

“Điều 21. Che giấu tội phạm

Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định”.

Không phải vô cớ  mà hai ông Thoại, ông Ca  lại đi đổ tội cho người dân phá nhà của ông Vươn, ông Quý nếu như không che dấu một điều bất minh nào đấy. Trong vụ việc này chỉ có thể lý giải, mục đích đổ tội cho dân của hai ông cho dân là che dấu hành vi phạm pháp của cấp dưới là Chủ tịch huyện, Trưởng công an huyện, Chủ tịch xã, Bí thư xã … Nếu không phải vì mục đích này thì chắc chắn còn ẩn chứa một sự bất minh nào khác nữa lớn hơn hành vi che dấu tội phạm. Điều này thì chỉ có họ mới biết rõ. Tuy nhiên, trong giới hạn thông tin mà chúng ta nắm được thì hành vi này chỉ dừng lại ở mức độ che dấu tội phạm.

Theo quy định của điều luật này, chúng ta cần làm rõ một số vấn đề sau

- Họ đã biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hay không 
 Để che đấu cho đồng bọn có hành vi phá hủy tài sản họ đã nhằm vào đối tượng để đổ tội là người dân thấp cổ bé họng, dễ lấp liếm. Họ là người trong cuộc, hoặc cùng tham gia đoàn cưỡng chế thì chắc chắn họ phải biết ai là thủ phạm phá nhà. Hơn nữa, ông Ca là Đại tá - Giám đốc công an thành phố Hải Phòng, quyền sinh, quyền sát trong tay thì làm gì mà không biết ai là thủ phạm phá nhà. Nếu như chưa biết ai phá nhà họ Đoàn thì hai ông phải nói là chưa điều tra, chưa xác minh được. Đàng này các ông lại khơi khơi đổ tội cho những người dân vô tội. Không ai dại gì lại đi đổ tội cho người khác để rồi phải rước họa vào thân, trừ những thằng ngu, những thằng thiểu năng não bộ. Mà các ông làm quan to thế làm sao mà ngu, mà thiểu năng trí tuệ được. Vậy thì phải có uẩn khúc nào đấy trong vụ viêc này. Mối quan hệ trong liên minh ma quỷ này để làm rõ cũng không khó nếu vụ án này được khởi tố vì có quá nhiều chứng cứ. Dấu hiệu hành vi che dấu tội phạm của ông Ca còn thể hiện ở chỗ: “ … việc phá cái chòi ấy chúng tôi cho kiểm tra lại thì không ai ra lệnh phá và cũng không biết ai làm bởi nhân dân lúc ấy người ta tràn xuống rất đông”. Ông Ca đã cho người kiểm tra vụ việc. Kiểm tra những cán bộ lãnh đạo của huyện, của xã, kiểm tra những người trong đoàn cưỡng chế và kết luận không ra lệnh phá, không ai phá cả. Ông cũng cho kiểm tra hiện trường nhưng những kẻ phá nhà không để lại dấu vết gì. Các nhân chứng lúc đó không có ai mặc dù “ … nhân dân lúc ấy người ta tràn xuống rất đông” nhưng tất cả họ đều tham gia phá nhà hoặc nếu ai không tham gia phá nhà thì đó là những người vừa câm vừa điếc và mù chữ. Không thể chấp nhận được lời giải thích của một lãnh đạo đứng đầu ngành công an của một.thành phố lớn trực thuộc trung ương như Hải Phòng. Lời giải thích ngô nghê như của một đứa trẻ mới lớn chỉ có các cháu mầm non mới tin. Để điều tra tìm ra thủ phạm đối với việc này không khó khi tại hiện trường còn nhiều dấu vết (vết xích xe cẩu chẳng hạn …) và có quá nhiều nhân chứng vì không thể tất cả mọi người dân đều xông vào phá nhà. Thực tế đã chứng minh, khi những người được lãnh đạo huyện, xã thuê họ phá nhà đã tố cáo hành vi phạm tội của họ. Rõ ràng ở đây ông ta đã cố tình che dấu những việc làm sai trái của đoàn cưỡng chế, che dấu những tên tội phạm đã ra lệnh đập phá nhà ông Vươn, ông Quý.

-   Có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội hay không?
Dấu hiệu hành vi che dấu tội phạm của ông Ca còn thể hiện ở chỗ ông ta sử dụng chức vụ quyền hạn của mình “… việc phá cái chòi ấy chúng tôi cho kiểm tra lại thì không ai ra lệnh phá và cũng không biết ai làm bởi nhân dân lúc ấy người ta tràn xuống rất đông” để khẳng định với mọi người là người dân phá chứ các quan không phá. Dấu hiệu hành vi che dấu tội phạm của ông Thoại thể hiện ở chỗ ông ta cản trở việc phát hiện tội phạm của các phóng viên khi ông ta nhân danh cả UBND thành phố Hải phòng: “ Nhiều cơ quan báo chí trung ương đưa tin về vụ việc “ không đúng sự thật khiến nhân dân bất bình”. Thay mặt UBND thành phố Hải phòng ông đề nghị báo trí không tiếp tục đưa về vụ việc này nữa!”. Ông đã dùng quyền uy của mình để ngăn không muốn các nhà báo đưa tin về vụ này nhằm bưng bít thông tin để dễ bề che đậy hành vi phạm tội của cấp dưới. 

Hành vi vi phạm tội Che dấu tội phạmcủa ông Đỗ Trung Thoại - phó chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và ông Đỗ Hữu Ca - Giám đốc công an thành phố Hải Phòng đã có đủ các dấu hiệu quy định tại điều luật nêu trên..

Do hiện nay các ông này đang giữ các chức vụ trọng trách của UBND thành phố Hải phòng nên hành vi che dấu tội phạm của họ đối với tội Hủy hoại tài sản” (Điều 143 Bộ luật hình sự) thì họ bị truy tố về tội” Che giấu tội phạm”  theo Điều 21 và khoản 2 Điều 313 Bộ luật hình sư.và khung hình phạt tù dành cho họ là từ 2 năm – 7 năm.

3. Phần kết 

Như vậy, những dấu hiệu vi vi phạm pháp luật hình sự đối với  “Tội vu khống” và “Tội che dấu tội phạm” của ông Đỗ Trung Thoại và ông Đỗ Hữu Ca là không thể chối cãi. Căn cứ vào những dấu hiệu này Cơ quan điều tra – Bộ công an có thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với hai ông này. Nhưng không hiểu vì lý do gì mà các cơ quan bảo vệ pháp luật như Cơ quan điều tra – Bộ công an, Tòa án nhân đân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn chưa vào cuộc để điều tra làm rõ, mặc dù trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của họ theo Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự 2003. (Điều 13. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội …). Nếu như các cơ quan thẩm quyền chưa vào cuộc hoặc không vào cuộc để điều tra làm rõ những hành vi phạm tội của hai ông này thì chúng ta phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đấu tranh, tố cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Bộ luật hình sự. (3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm) và có quyền tố cáo theo khoản 2 Điều 1 Luật khiếu nại , tố cáo năm 1998 “ Công đân có quyền tố cáo với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”. Theo đó chúng ta có quyền đến các cơ quan có thẩm quyền nói trên để trình báo hoặc làm đơn tố cáo gửi đến các cơ quan đó. Như vậy, việc để các cơ quan bảo vệ pháp luật làm rõ hành vi phạm tội của hai ông này cũng phụ thuộc rất nhiều vào mọi người. Vậy chúng ta còn chần chừ gì nũa mà không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình?! 

Luật sư Nguyễn Anh Vân (Đoàn Luật sư Hà Nội)

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

PHÁT HIỆN MỚI NHẤT VỀ DỰ ÁN ECOPARK: NHIỀU DIỆN TÍCH ĐẤT CÓ HAI SỔ ĐỎ

ECOPARK – NHIỀU DIỆN TÍCH ĐẤT CÓ HAI SỔ ĐỎ
Luật sư Nguyễn Anh Vân
Mặc dù việc khiếu kiện của những hộ dân Văn Giang bị thu hồi đất trong suốt hơn 8 năm qua chưa được cơ quan có thẩm quyền nào làm rõ đúng sai thì một số hạng mục công trình của dự án Ecopark đã được hoàn thiện và sản phẩm của dự án đã được cung cấp cho khách hàng. Đầu năm 2013, đã có 28 khách hàng được chủ đầu tư Ecopark trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi là sổ đỏ) tại các khu Vườn Tùng, Vườn Mai. Một số hạng mục công trình dân sinh khác của dự án sẽ được hoàn thiện và cũng sẽ được cung cấp cho khách hàng. Những khách hàng này rồi cũng sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấp sổ đỏ như những khách hàng đã nhận sổ đỏ nêu trên. Tuy nhiên, có nhiều hạng mục công trình lại được xây dựng trên diện tích đất của các hộ dân Văn Giang bị thu hồi đất mà họ hiện đang nắm giữ sổ đỏ. Như vậy sẽ có nhiều mảnh đất có hai sổ đỏ trong dự án Ecopark: một do mỗi hộ dân hiện đang nắm giữ và một sổ khác - đã, sẽ được cấp cho các khách hàng của Ecopark.
Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Văn Giang áp dụng sai luật
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều mảnh đất có hai sổ đỏ trong dự án Ecopark là do chính quyền huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên thực hiện cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật đối với những diện tích đất của các hộ dân này . Họ đã tước đoạt quyền sử dụng đất, phá hủy tài sản trên đất của các hộ dân bằng những quyết định hành chính, hành vi hành chính trái luật. Cụ thể là Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) huyện Văn Giang đã căn cứ vào Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 để ra Quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai vì cho rằng các hộ dân đã có hành vi vi phạm hành chính quy định trong Nghị định này;  sau đó Chủ tịch huyện căn cứ vào Nghị định 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 để ban hành quyết định “cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” và thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất với lý do “Giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các Quyết định và Thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Thế nhưng, Chủ tịch UBND huyện Văn Giang đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu rằng, quyết định cưỡng chế này phải được hiểu là biện pháp cưỡng chế theo khoản 1, khoản 2 Điều 2 Nghị định 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 (1. Khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng;2. Kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;) chứ không được áp dụng biện pháp cưỡng chế theo khoản 3 Điều 2 Nghị định này, bởi lẽ, Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009  không có quy định về hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp cưỡng chế là thu hồi đất. Cho nên Chủ tịch UBND huyện Văn Giang không thể căn cứ vào Nghị định 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 để cưỡng chế thu hồi đất của các hộ dân. Hơn nữa đất của các hộ dân đã được chính UBND huyện Văn Giang cấp sổ đỏ để sử dụng ổn định lâu dài chứ họ có lấn, chiếm đâu mà giải tỏa diện tích đất của họ.
Quyết định cưỡng chế của Chủ tịch UBND huyện Văn Giang còn vi phạm về quy định mẫu biểu sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính. Chủ tịch UBND huyện Văn Giang đã cố tình sửa đổi mẫu quyết định ký hiệu số MQĐ 12 được ban hành theo Thông tư số 16/2010/TT – BTNMT ngày 26/10/2010 về việc quy định trình tự, thu tục cưỡng chế thi hành thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Mục đích của hành vi vi phạm này của Chủ tịch UBND huyện Văn Giang các cơ quan có trách nhiệm giải quyết vụ việc Văn Giang cần phải điều tra làm rõ.
Để thu hồi đất của các hộ dân Văn Giang, chính quyền Hưng Yên phải áp dụng theo quy định của Luật đất đai 2003 và Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Điều 39 Luật đất đai 2003 quy định như sau:
Điều 39. Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
1. Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
2. Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.
3. Sau khi có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, được công bố công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất.
Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi đất thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại”.
Theo quy định này thì UBND huyện Văn Giang phải ban hành Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường cho người sử dụng đất. Trường hợp những hộ dân không bàn giao mặt bằng thì UBND huyện Văn Giang phải ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và thực hiện cưỡng chế theo trình tự thủ tục thu hồi đất quy định tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009. Sau đó Phòng tài nguyên và Môi trường của huyện phải báo cáo việc thu hồi hoặc chỉnh lý sổ đỏ. Trên cơ sở báo cáo này UBND huyện Văn Giang sẽ điều chỉnh sự biến động về sử dụng đất của các hộ dân có diện tích đất bị thu hồi ...
Như vậy, Chủ tịch UBND huyện Văn Giang đã ban hành quyết định “cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” để thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất theo Pháp lệnh xử phạt lý vi phạm hành chính là không có căn cứ và áp dụng luật một cách bừa bãi, ngây ngô, ngớ ngẩn.
Do vậy có thể nói, hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền huyện Văn Giang là quá rõ ràng, không thể chối cãi. Bằng chứng là có nhiều diện tích đất có hai sổ đỏ chồng chéo cùng tồn tại song song.
Quyền và lợi ích hợp pháp của người dân bị xâm hại thô bạo 

Nhà nước giao đất nông nghiệp và cấp sổ đỏ cho các hộ dân sản xuất ổn định lâu dài.Cho nên sổ đỏ là căn cứ pháp lý xác lập quyền về sở hữu tài sản của họ theo quy định tại khoản 2 Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2005 và nó là tài sản chung của hộ gia đình theo Điều 108 Bộ luật này. Cho nên các hộ dân được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với quyền sử dụng đất, tài sản trên đất. 

Còn theo quy định tại Điều 105, 113 Luật đất đai 2003, người sử dụng đất có các quyền sau:
Điều 105. Quyền chung của người sử dụng đất
Người sử dụng đất có các quyền chung sau đây:
1. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất;
3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp;
4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp;
5. Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình;
6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. 

Điều 113. Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ sau đây: 
1. Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này; 
2. Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác;   
3. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo quy định của Chính phủ;
4. Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;
5. Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó;
6. Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 của Luật này; tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này;
7. Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;
8. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh.
Mặc dù luật pháp đã quy định rất rõ về quyền của người sử dụng đất, quyền về tài sản  như vậy, nhưng không hiểu tại sao Chủ tịch UBND huyện Văn Giang vẫn cố tình ban hành quyết định cưỡng chế trái luật nói trên và thực hiện cưỡng chế một cách quyết liệt?. Rõ ràng đàng sau việc ban hành và thực hiện cưỡng chế này có vấn đề không bình thường.
Theo các quy định về quyền của người sử dụng đất nói trên thì các chủ sở hữu sổ đỏ đều có các quyền ngang nhau. Như vậy, nếu như các hộ dân có sổ đỏ đã bị cưỡng chế thu hồi đất và khách hàng của Ecopark thực hiện các quyền này bằng các giao dịch dân sự theo quy định tại Bộ luật dân sự thì không biết chính quyền tỉnh Hưng Yên sẽ giải quyết như thế nào? Chẳng hạn họ tham gia vào các giao dịch dân sự như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất hay góp vốn, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất thì chính quyền chắc chắn sẽ lúng túng trong việc giải quyết về mặt hành chính cho các giao dịch này. Họ không có lý do nào để từ chối và cũng chẳng có căn cứ pháp lý nào để giải quyết các thủ tục hành chính  chồng chéo đối với các cuốn sổ đỏ này. Rồi nếu có các vụ kiện xẩy ra liên quan tới các sổ đỏ đó thì tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Và việc thi hành án sẽ ra sao?!! .... Nói chung mọi việc sẽ rối như canh hẹ đối với các cuốn sổ đỏ trong khu dự án Ecopark. Chung quy là tại cái quyết định cưỡng chế và việc thực hiện cưỡng chế trái pháp luật của Chủ tịch UBND huyện Văn Giang.
Cũng theo quy định trên thì các hộ dân còn nắm giữ sổ đỏ vẫn còn nguyên các quyền của người sử dụng đất. Thế nhưng trong thực tế họ đã bị tước đoạt quyền sử dụng đất, bị phá hủy tài sản trên đất bằng những quyết định hành chính, hành vi hành chính trái luật của UBND huyện Văn Giang.
Theo quy định pháp luật thì không được phép trên cùng một diện tích đất có nhiều sổ đỏ. Trong trường hợp này, sổ đỏ của các khách hàng Ecopark là trái pháp luật. Bởi lẽ, UBND huyện Văn Giang thực hiện cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật, dẫn đên việc bàn giao đất của chính quyền tỉnh Hưng Yên cho chủ đầu tư Ecopark cũng trái pháp luật. Do vậy các cuốn sổ đỏ của khách hàng Ecopark.sẽ bị thu hồi theo quy định tại khoản 2, Điều 25 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009. Cho nên đối với các khách hàng của Ecopark dù đã bỏ ra cả đống tiền để có cuốn sổ đỏ trong tay nhưng vẫn chưa có được sự đảm bảo chắc chắn về mặt pháp lý. Bở bất kỳ một lá đơn đề nghị, đơn khiếu nại, đơn khởi kiện nào từ phía các hộ dân còn nắm giữ sổ đỏ gửi đến cơ quan có thẩm quyền đều có thể ngăn cản họ thực hiện các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh … khi họ có nhu cầu.
Để thu hồi, xóa bỏ những diện tích đất trong các cuốn sổ đỏ của các hộ dân là một vấn đề hóc búa. Những cuốn sổ này chẳng khác gì những khúc sương bị mắc trong cổ họng: nuốt không trôi, nhả không ra. Cách duy nhất là chính quyền huyện Văn Giang phải thừa nhận hành vi sai trái của mình, đồng thời xin lỗi các hộ dân và bồi thường thiệt hại cho họ; sau đó họ phải thực hiện lại việc thu hồi đất theo quy định Luật đất đai 2003. Còn một cách nữa nhưng không liên quan đến chính quyền là chủ đầu tư thỏa thuận với các hộ dân bằng một bản hợp đồng theo các quyền mà người sử dụng đất được hưởng. Phải thực hiện như vậy mới đúng luật và quyền lợi của các hộ dân mới được đảm bảo.
Như vậy có thể nói, không chỉ quyền và lợi ích hợp pháp của các hộ dân bị thu hồi đất bị xâm hại một cách thô bạo mà ngay cả quyền lợi của những khách hàng Ecopark.cũng phải đối mặt với những rủi ro pháp lý từ quyết định cưỡng chế trái luật, hành vi cưỡng chế trái luật và việc bàn giao đất trái luật của chính quyền tỉnh Hưng Yên.
Những biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hộ dân 

Điều 169 Bộ luật dân sự 2005 quy định về « Bảo vệ quyền sở hữu ». Theo đó, quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận, bảo vệ và không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Căn cứ vào điều luật này, các hộ dân Văn Giang bị UBND huyện Văn Giang cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật có quyền yêu cầu các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết để đòi lại quyền sử dụng đất, đòi bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất bị phá hủy. 

Đối với các hộ dân Văn Giang bị UBND huyện Văn Giang cưỡng chế thu hồi đất năm 2012 có quyền khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND huyện Văn Giang bằng những vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục của Luật tố tụng hành chính để yêu cầu tòa án xem xét việc yêu cầu bồi thường và hủy bỏ quyết định hành chính trái luật nói trên.

Đối với diện tích đất của các hộ dân (kể cả các hộ dân đã nhận tiền đền bù) mà họ hiện đang nắm giữ sổ đỏ bị thu hồi đất năm 2009 thì thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính (nếu có), hành vi hành chính của UBND huyện Văn Giang đã hết, do vậy họ đã mất quyền khởi kiện vụ án hành chính. Tuy nhiên, do họ còn nắm giữ sổ đỏ nên họ có căn cứ để khởi kiện bằng những vụ án dân sự để yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật dân sự để đòi lại quyền lợi hợp pháp của mình. Các hộ dân cho biết, ngày 11 tháng 12 năm 2013, khoảng 150 hộ dân xã Xuân Quan hiện đang nắm giữ sổ đỏ đã đồng loạt gửi đơn đề nghị UBND xã Xuân Quan tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai với chủ đầu tư Ecopark theo quy định tại Điều 135, 136 Luật đất đai 2003. Họ tranh chấp với chủ đầu tư vì họ cho rằng, chủ đầu tư Ecopark đã chiếm đoạt đất của họ không có căn cứ pháp lý, trái luật. Sau khi hòa giải, nếu buổi hòa giải không thành thì hơn 150 hộ dân này sẽ gửi đơn khởi kiện chủ đầu tư Ecopark đến tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Các hộ dân sẽ lựa chọn và tùy thuộc vào tình hình tài chính để nộp tiền án phí, hoặc sẽ đồng loạt gửi đơn khởi kiện chủ đầu tư Ecopark.hoặc sẽ gửi đơn khởi kiện đơn lẻ để yêu cầu tòa án giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
 Tiếp đến, để tránh những rắc rối trong quá trình giải quyết tranh chấp và để đảm bảo cho việc thi hành án sau này, các hộ dân sẽ làm đơn đề nghị UBND huyện Văn Giang không cấp sổ đỏ cho các khách hàng của Ecopark tham gia mua bán, chuyển nhượng các sản phẩm là bất động sản trên diện tích đất hiện đang có tranh chấp.
Còn đối với các hộ dân vẫn còn nắm gữi sổ đỏ tại diện tích đất mà khách hàng của Ecopark đã nhận sổ đỏ tại khu vực Vườn Tùng, Vườn Mai có thể làm đơn khiếu nại yêu cầu UBND huyện Văn Giang thu hồi sổ đỏ do cấp trái quy định.
Tóm lại, không thể để tình trạng trên một diện tích đất tồn tại chồng chéo nhiều sổ đỏ dẫn tới các tranh chấp, khiếu kiện phức tạp khi những người dân được cấp sổ đỏ tham gia các quan hệ pháp luật dân sự trong xã hội.…. Cho nên các cơ quan chức năng có thẩm quyền các cấp cần phải vào cuộc để làm sáng tỏ vụ việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật tại Văn Giang. Không những phải làm rõ hành vi vi phạm pháp luật hành chính mà phải làm rõ cả những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự của một số lãnh đạo tỉnh Hưng Yên. Và nếu như các cấp có thẩm quyền không giải quyết vụ việc trái pháp luật này thì cuộc chiến pháp lý, hậu quả pháp lý cũng như hệ lụy của nó sẽ không có hồi kết.  
                                                                                                                   N.A.V
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012

GIÁO SƯ ĐẶNG HÙNG VÕ LẠI CỐ TÌNH KHÔNG HIỂU LUẬT

 GIÁO SƯ ĐẶNG HÙNG VÕ LẠI CỐ TÌNH KHÔNG HIỂU LUẬT
Luật sư Nguyễn Anh Vân 
Sau khi đọc bài “Giáo sư Đặng Hùng Võ nói lại về vụ Văn Giang” trên TuanVietnam.net ngày 10/12/2012, trong tôi xuất hiện cảm xúc vui, buồn lẫn lộn.  Vui vì những gì tôi viết về ông trong bài “Ý kiến về hướng giải quyết vụ Văn Giang” đăng trên Blog Nguyễn Xuân Diện ngày 16/11/2012 đến bây giờ đã được khẳng định. Buồn vì một trí thức lớn như ông (Giáo sư, Tiến sĩ khoa học) chỉ vì muốn bảo vệ hành vi trái pháp luật của mình mà vất bỏ đi thanh danh và lòng tự trọng bằng cách cố tình không muốn hiểu những gì mình đã hiểu trước đó.
Nhưng dù sao cũng phải cảm ơn ông về bài viết, vì có nó chúng ta mới biết được bản chất thật, mới nhìn thấy rõ được con người thật của ông.

Trong buổi đối thoại với bà con tại hội trường BTNMT ngày 8/11/2012 ông đã thừa nhận việc ký các tờ trình của ông là sai; và thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất cũng sai, thậm chí trái luật.

Sau đó, ngày 12/8/2012 trả lời TuanVietnam.net, ông đã nóiSuốt 10 năm trước khi Luật đât đai 2003 có hiệu lực, chúng ta đã không thực hiện đúng thẩm quyền với hơn 3.000 văn bản. Vụ Văn Giang nằm trong các loạt văn bản này. Chính phủ vẫn nói rằng Chính phủ ủy quyền cho Thủ tướng nhưng sự thật lại có điều luật: thẩm quyền giao đất, cho thuê đất thì không được ủy quyền” hay “Khi tôi bắt đầu làm, Bộ trưởng có nói, ta tập trung xây dựng luật mới, với cái cũ thì trước làm thế nào, bây giờ ta làm như thế. Chẳng nhẽ lúc đó mình lại khịa chuyện ra bảo làm cái này không được. Trong hệ thống quản lý không thể đòi làm khác đi đơn giản thế”… Qua những nội dung trả lời này, chúng ta thấy ông cũng đã thừa nhận, trước khi ký Tờ trình số 99/TTr – BTNMT ngày 29/6/2004, ông đã biết là sai nhưng ông vẫn cố tình ký và trình lên Thủ tướng.

Nay, với bài viết này của ông, ông lại quay ngoắt 180º, phủi toẹt những gì ông đã thừa nhận trước đó.

Bà con Văn Giang bị thu hồi đất cùng những ai yêu chuộng công lý đang thấp thỏm mong mỏi, chờ đợi sự ăn năn hối cải của ông sau khi ông nhận ra sai lầm của mình. Nhưng đáp lại sự mong đợi của mọi người, ông đã tự đánh mất mình bằng một bài viết khá công phu trên TuanVietnam.net với nội dung đổi trắng thành đen chứ không như những gì ông đã thừa nhận và hứa sẽ sửa sai trước đó.

Điều đáng nói là trong nội dung bài viết này ông không hề đưa ra bất kỳ một lý do nào để giải thích cho sự thay đổi của mình. Người quân tử và người có danh tiếng, có học vị, có lòng tự trng, có liêm sỉ không xử sự như vậy. Và những ai đã từng nghe những gì ông nói, đã từng đọc những gì ông viết chắc chắn sẽ có cảm giác rợn người khi nghĩ về nhân cách của một con người.

Mặc dù các luật sư và bà con Văn Giang bị thu hồi đất đã chỉ cho ông biết rõ ông đã vi phạm luật đất đai trong tờ trình do ông ký như thế nào và ông đã thừa nhận việc ông ký tờ trình trình Thủ tướng Chính phủ không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đai đã được phê duyệt. Nhưng trong bài viết này của ông, ông đã cố tình trích dẫn, bỏ qua một số quy định quan trọng, cần thiết đối với việc thu hồi đất để lấm liếm cho việc làm trái pháp luật của mình.

Trong bài viết của ông, ông đã không trích dẫn quy định “Việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã được cơ quan thẩm quyền Nhà nước xét duyệtcác căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất như: “Qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được các cơ quan thẩm quyền nhà nước xét duyệt hoặc “Sử dụng đất phải theo đúng quy hoạch”. Mục đích của việc không trích dẫn đầy đủ các quy đinh pháp luật của ông quá lộ liễu. Không nói ra thì ai cũng biết ông đang cố tình che đậy, phủ nhận những gì mà ông biết là đã sai.

Tôi xin được trích dẫn một số quy định của Luật đất đai để ông tham khảo như sau:

Điều 28 Luật đất đai 1993 quy định 
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó.
Việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã được cơ quan thẩm quyền Nhà nước xét duyệt.
Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại”.  

Điều 19 Luật đất đai 1993 sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định: 
“Các căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất 

1. Qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được các cơ quan thẩm quyền nhà nước xét duyệt; 

2. Yêu cầu sử dụng đất ghi trong dự án đầu tư và trong thiết kế đã được các cơ quan thẩm quyền nhà nước xét duyệt hoặc chấp thuận bằng văn bản về địa điểm, diện tích đất hoặc đơn xin giao đất, thuê đất;” 
Điều 22a  Luật đất đai 1993 sửa đổi, bổ sung năm 1998 quy định: 
1. Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
……
d) Giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với một số trường hợpđể tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án do Chính phủ quyết định.
2. Việc giao đất có thu tiền sử dụng đất quy định tại khoản d điểm 1 Điều này phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Người sử dụng đất phải có dự án khả thi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
b) Sử dụng đất phải theo đúng quy hoạch;
c) Người sử dụng đất phải có điều kiện về vốn và điều kiện kỹ thuật: 
…… 
Không thể nói một thứ trưởng của một Bộ chuyên trách về đất đai mà không biết được các quy định pháp luật này.

Theo các quy định này thì việc thu hồi đất nông nghiệp của bà con Văn Giang tại thời điểm đó để chuyển sang mục đích đổi đất xây dựng khu đô thị Ecoprk lấy hạ tầng có thu tiền sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu nêu trên. Nếu thiếu một trong các yêu cầu đó thì quyết định thu hồi đất đó đương nhiên trái luật.

Các Luật sư tư vấn cùng bà con Văn Giang bị thu hồi đất đã chứng minh cho ông thấy các tờ trình của ông và Quyết định giao đất không dấu (bản phô tô mà bà con có) được ban hành khi chưa có quyết định phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đai theo luật định. Như vậy, việc ban hành tờ trình và Quyết định giao đất đã vi phạm Điều 28, vi phạm khoản 1 Điều 19 , vi phạm điểm b khoản 2 Điều 22a - Luật đất đai 1993 sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2001 mà tôi đã trích dẫn ở trên.

Chỉ cần chứng minh một điều kiện vi phạm quy định về quy hoạch là đủ để kết luận việc ký tờ trình của ông Võ đã vi phạm pháp luật về quản lý đất đai mà không cần phải xem xét , chứng minh các vấn đề khác cho thêm rắc rối và mất thời gian, công sức.

Luật pháp đã quy định rất rõ ràng như vậy nhưng ông vẫn cố cãi lấy được để bảo vệ sai lầm của mình mà ông đã thừa nhận cách đây không lâu. Nói theo kiểu dân dã thì đây là một kiểu cãi chày, cãi cối và “Chuối” đến mức không còn gì để nói.

Ông còn lấy khoản 2 Điều 22 Nghị định 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 và Bản thuyết minh Quy hoạch sử dụng đất Hưng Yên để chứng minh cho việc ký tờ trình của mình là phù hợp với quy hoạch. Ông không biết rằng, Luật đất đai thời điểm đó đã quy định rất rõ ràng về trình tự, thủ tục lập, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai như sau: “ Ủy ban nhân dân các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong địa phương mình trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình cơ quan thẩm quyền nhà nước xét duyệt” (khoản 2 Điều 16 Luật đất đai 1993 sửa đổi, bổ sung năm 2001)“Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” (khoản 2, Điều 18 Luật đất đai 1993 sửa đổi, bổ sung năm 2001 về thẩm quyền quyết định, xét duyết quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất). Cho nên Bản thuyết minh Quy hoạch sử dụng đất Hưng Yên không bao giờ là Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên cả. Giả sử Bản thuyết minh Quy hoạch sử dụng đất Hưng Yên là Quy hoạch sử dụng đất thì nó phải được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua và phải được Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đai mới có giá trị pháp lý. Về vấn đề này, có lẽ ông lại cho rằng Luật quy định là vậy nhưng ông lúc đó là sếp, không có thời gian để đọc, chỉ biết ký nên không hiểu luật là chuyện bình thường để biện bạch cho việc làm sai trái của mình.

Còn đối với Tờ trình số 99/TTr.BTNMT ngày 29/6/2004 do ông ký khi đọc nó mà tôi toát cả mồ hột dù Hà Nội trời đang lạnh. Tờ trình với độ dài không quá 3 trang giấy khổ A4 mà có thể thu hồi nhiều triệu m² đất, trong đó có 4.990.706 m² dành cho xây dựng Khu đô thị Thương mại – Du lịch Văn Giang  nhưng không thấy ông dựa vào bất kỳ một căn cứ pháp lý nào. Với cách làm việc theo “thông lệ”, không theo quy định của luật pháp của ông Giáo sư phần nào lý giải được nguyên nhân giây khiếu kiện đông người và dư luận không tốt của một số người dân bị thu hồi đất cho rằng chính quyền “cướp đất” của dân.

Viết bài này để cho ông biết mọi người không ngây ngô như ông tưởng và có lẽ, chỉ những người đỉnh cao trí tuệ như ông mới đủ can đảm cố tình không hiểu những điều đã rõ như ban ngày.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2012 
N.A.V
            
-->đọc tiếp...