Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Quang Thiều. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Quang Thiều. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

TRONG BÓNG NGÔI NHÀ XƯA - tùy bút Nguyễn Quang Thiều

Trong bóng ngôi nhà xưa

Nguyễn Quang Thiều


Mỗi lần về quê, tôi thường đến thăm ngôi nhà của ông bà ngoại tôi. Và lúc nào cũng vậy, tràn ngập trong tôi là sự nuối tiếc và những tiếng vọng mơ hồ da diết khi tôi đứng trong khuôn viên ngôi nhà ấy.


Gia đình ông bà ngoại tôi được liệt vào gia đình địa chủ. Nhưng những chuyện đau lòng đã không xảy ra với một gia đình địa chủ như gia đình ông bà ngoại tôi. Có lẽ vì là địa chủ nhưng ông bà ngoại tôi đã che giấu cán bộ Việt Minh trong những năm làng tôi nằm trong vùng tạm chiếm và hai bác tôi đi theo cách mạng hoạt động bí mật từ năm 18 tuổi.

Bây giờ ông bà ngoại tôi, các bác tôi và cả mẹ tôi cũng đã thành người thiên cổ. Các anh con các bác tôi hầu hết công tác ở thành phố đã nghỉ hưu nhưng cũng chẳng ai về sống ở quê. Chỉ còn lại một người anh dạy học ở quê và trông coi ngôi nhà ấy luôn. Khi tôi khoảng 10 tuổi thì hầu như ngày nào tôi cũng đến nhà ông bà ngoại vì cùng làng. Một trong những điều đặc biệt lôi cuốn tôi đến đó là nhà ông bà ngoại tôi có một tủ sách với gần 2000 đầu sách.


Trong những năm tháng xa xưa ấy mà một gia đình nông thôn có tủ sách như vậy quả là một điều kỳ lạ. Có được tủ sách ấy là vì một người bác tôi làm cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng và một người con trai bác tôi có ước mơ trở thành nhà văn. Sau ày khi tôi viết văn, anh con bác tôi thường bảo tôi viết văn là do dòng máu bên ngoại. Anh tôi dạy học. Có bao nhiêu tiền chỉ để giành mua sách. Mỗi năm nghỉ hè, anh tôi lại kéo một chiếc xe ba gác chở sách đi gần 20 cây số từ trường về nhà.


Những buổi trưa mùa hạ, tôi thường chọn bất cứ một cuốn sách nào trên giá sách và ra vườn. Tôi trải chiếu dưới gốc cây khế bên cạnh chiếc hồ bán nguyệt trước nhà ông bà ngoại nằm đọc sách. Hồi ấy, chiếc hồ bán nguyệt thả bèo tai chuột để làm trong nước. Thành giếng phủ kín rêu. Ngày đó, tất cả những chiếc giếng trong làng đều thả bèo tai chuột hoặc bèo ong.


Trước cửa nhà ông bà ngoại tôi là một chiếc bể khổng lồ đựng nước mưa có mái vòm. Mỗi khi thau bể, các anh tôi phải buộc nối hai chiếc thang tre mới bắc được đến đáy bể. Tôi đã một lần được các anh cho leo thang xuống bể. Không khí trong bể mát lạnh. Tôi thích kêu lên " oa oa" cho tiếng kêu của tôi vọng mãi trong vòm bể rộng. Chiếc bể đựng nước mưa bây giờ vẫn còn sử dụng, nhưng chiếc giếng bán nguyệt thì bị bỏ hoang. Đã nhiều lần tôi nói với anh tôi tu sửa lại chiếc giếng để thả lại bèo tai chuột hoặc trồng sen nhưng vì lý do gì đó mà anh tôi không làm.
 
Trong bóng ngôi nhà xưa trùm phủ, tôi như được trở về những năm tháng xưa mà tôi tưởng chẳng còn cơ hội nào trở về nữa. Ảnh: khuquanhanh.vn

Trong tháng Mười vừa qua, tôi về quê sửa lại ngôi nhà của bố mẹ tôi. Tôi sửa lại ngôi nhà ấy theo những gì tôi biết khi còn nhỏ. Sau chiến tranh, ngôi nhà của tôi ở quê bị thay thế bằng những vật liệu thời hiện đại. Và nó mất đi vẻ đẹp và sự gần gũi lạ lùng thuở trước. Tôi bóc hết lớp gạch men Trung Quốc loáng bóng lát nền nhà và thay vào đó là gạch bát đỏ. Hàng cột xi măng dọc hiên nhà được trả lại bằng những cái cột gỗ lõi mít. Chân kê cột là những phiến đá xanh được đục bằng tay. Những phiến đá xanh kê cột này tôi tìm thấy vứt lăn lóc trong góc vườn của ông bà ngoại tôi bị cỏ dại mọc trùm lên. Các anh tôi đã sửa ngôi nhà của ông bà ngoại tôi bằng những vật liệu hiện đại bóng bẩy. Vì thế các anh tôi vứt hết những phiến đá kê cột có hàng trăm năm ra góc vườn. Khi ngôi nhà sửa xong, tôi run lên vì vẻ đẹp giản dị và ấm áp của nó. Tôi đã ngồi trên hiên nhà suốt buổi chiều trong tĩnh lặng để cho ký ức và hình ảnh xưa của ngôi nhà trở về.
  

 
Trong bóng ngôi nhà xưa trùm phủ, tôi như được trở về những năm tháng xưa mà tôi tưởng chẳng còn cơ hội nào trở về nữa. Và ở nơi ký ức tôi trở về ấy, tôi gặp lại ông bà nội tôi, gặp lại bố mẹ tôi. Chính những hình ảnh của ngôi nhà, không gian của ngôi nhà và màu sắc xa xôi của ngôi nhà như những tấm gương phản chiếu quá khứ. Trong những tấm gương ấy, tôi được nhìn thấy những gì đã biến mất. Nó làm cho tâm hồn tôi ngập tràn những điều kỳ diệu và thân yêu mà tôi đã có nhưng cứ chập chờn đâu đấy như ở tận chân mây cuối trời.
 
Trong bộ phim Bố Già, tôi xúc động khôn nguôi về một hình ảnh cho dù xem bộ phim đó cả chục lần. Đó là hình ảnh trùm mafia Michael trở về ngôi nhà cổ của ông bà ông ta ở vùng đảo Sicily khi ông ta đã già và từ giã công việc của một trùm mafia. Michael không ở lại New York trong những biệt thự sang trọng mà trở về và chết trong ngôi nhà đó. Tôi nghĩ đó là quà tặng của cuộc đời này cho ông ta. Nhì ngôi nhà của ông bà, cha mẹ ông trùm Michael, tôi thấy vô cùng thân thương cho dù ngôi nhà đó không có một sợi dây liên hệ nào với tôi. Nhưng vẻ đẹp giản dị, thẳm sâu và bình yên của nó làm tôi vô cùng xúc động.

Những buổi chiều trong ngôi nhà của ông bà ngoại tôi là những buổi chiều thẳm sâu ký ức. Bên ô cửa gỗ nhỏ mở ra vườn là bộ tràng kỷ cổ. Tôi trở về và thường thích ngồi vào đó. Ngôi nhà buổi chiều loang lổ bóng tối. Thứ ánh sáng như thế trong ngôi nhà thường gợi mở và đưa tôi trở về quá khứ. Một quá khứ của bà ngoại tôi ngồi nhai trầu và kể cho lũ cháu nghe những câu chuyện xa xưa. Một ký ức của đời sống thôn quê giản dị và thanh tao. Một ký ức của đời sống thanh bình và chầm chậm như sự mở cánh của những bông hoa nhài bên cạnh chiếc bể nước có mái vòm cổ kính mọc đầy rêu và có cả  một hai khóm dương xỉ. Những lúc như thế, tôi thấy toàn bộ những người thân yêu trong gia đình ông bà ngoại tôi đã mất hiện về.
 

Tôi không làm sao có được cảm giác ấy trong những ngôi nhà bê tông, mái bằng  quét màu xanh đỏ đang ngày càng mọc lên ở các làng quê và giết dần giết mòn những gì làm lên văn hóa ngàn đời của những làng quê đó. Nửa năm trước, chiếc cổng ngõ vào nhà ông bà ngoại tôi cũng bị các anh tôi phá đi để xây một cái cổng mới có cửa sắt. Khi nhìn chiếc cổng đó, tôi như kẻ bị cướp đi mất một nửa ký ức.

Tôi không có quyền trách móc các anh tôi. Nhưng tôi thấy lòng hoang mang và ngập tràn một nỗi buồn. Chiếc cổng xưa với một dòng chữ nho mà tôi cũng chưa một lần có nhu cầu biết nội dung dòng chữ ấy luôn luôn làm tôi xúc động khi bước qua đó. Sau cái cổng ngõ đã sứt mẻ đôi chỗ và có cả một cây si mọc trên mái cổng do một con chim ăn quả si thả hạt lên đó là một thế giới tinh thần của tôi. Nhưng giờ đây đã đổi thay. Cái cổng đó là cái cổng để tôi có thể đi từ hiện tại về quá khứ để gặp lại những người thân yêu đã khuất giờ như bị lấp, bị bịt đi một nửa.
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

NHỮNG CUỐN SÁCH MỚI NHẤT TRÊN GIÁ & NHẬT KÝ 17.3.2012

Lâm Khang thư viện vừa tiếp nhận các ấn phẩm do các thân hữu, tác giả gửi tặng. Chúng tôi chân thành cám ơn và xin trân trọng giới thiệu với chư vị

 
 Cuốn sách có chữ ký đề tặng của Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và phu nhân (Lê Thị Tân Trang, PGĐ Sở VH TT DL Hà Nội) tặng Gia đình Nguyễn Xuân Diện

 Cuốn sách do GS. TSKH Phan Đăng Nhật tặng

  CD âm nhạc Làng Tôi do Nghệ sĩ Ưu tú Văn Ty tặng trước 14h30 ngày 7.3.2012
.

Nguyễn Xuân Diện-Blog hân hoan giới thiệu cùng chư vị
____________________________________________________________________

Một vài hình ảnh về Lễ trao giải cuộc thi 
"Thơ ca và nguồn cội"(lần thứ 2) của Làng Chùa

Giấy mời dự Lễ trao giải cuộc thi thơ của Làng Chùa

Lễ trao giải diễn ra trong đình làng Chùa, trong số các vị khách có sự hiện diện của Ông Ngô Hà Thái (TTX VN), Phạm Quang Long (GĐ Sở VH TT DL Hà Nội), Nguyễn Đăng Điệp (Viện trưởng Viện Văn học), Phạm Xuân Nguyên (Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội)....và rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà phê bình văn học...
 Nhà thơ Trần Nhương, chủ trang mạng TranNhuong.com nổi tiếng đang ghi lưu bút

Lưu bút của Nhà thơ Trần Nhương, Nguyễn Xuân Diện và dịch giả Cao Sáng 
.

 Một trong các tiết mục văn nghệ (chèo cổ và quan họ) hát mừng trong lễ trao giải

 PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp (Viện trưởng Viện Văn học) và Nhà thơ Lương Tử Đức (VTV)

 Trên sân, mọi người trò chuyện và chụp ảnh lưu niệm



 Từ trái sang: Nhà thơ Y Phương (Trưởng ban chung khảo cuộc thi), Nhà thơ Lê Ngọc Bảo, 
PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học)



 Mọi người cùng vui vẻ nhập tiệc với người làng Chùa

 Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội)

 Xuân Diện - Xuân Nguyên chụp hình bên một lá phướn trên đường làng Chùa

 Nguyễn Xuân Diện chụp ảnh lưu niệm với chị Lê Thị Tân Trang, 
phu nhân của Nhà thơ Nguyễn. Quang Thiều trước sân nhà



.
 Sau khi rời làng Chùa, mấy anh em về thăm nhà Lê Dũng ở xã Phương Tú, cùng huyện Ứng Hòa
Phụ lục:
Các câu khẩu hiệu ở Làng Chùa
- Người làng Chùa lấy đức làm gốc và lấy thơ để truyền đức
- Thơ ca không làm ra lúa vàng gạo trắng, nhưng làm ra giấc mơ cho người gieo trồng
- Nơi đông người thì cày cấy, chốn một mình thì làm thơ
- Người yêu thơ, ta yêu người. Nhưng người không yêu thơ, ta phải yêu người hơn
- Một chữ có ÂN thì nở hoa, vạn chữ có OÁN thì chỉ sinh sâu bọ
- Thơ ca cũng như hạt lúc, cần thời gian ngậm đòng im lặng trong tâm hồn
- Người làng Chùa tặng kẻ ăn mày cơm áo, tặng kẻ khổ đau thơ ca
- Tay ta gieo hạt, miệng ta gieo lời
- Không có ăn thì không thể bước đi, nhưng không có chữ thì không nhìn thấy đường
- Trước mặt người làng Chùa là cánh đồng. Rộng hơn cánh đồng là chân trời. Nhưng rộng hơn chân trời là lòng người.

TranNhuong.com đưa tin về lễ trao giải:

TNc: Sáng nay 17-3-2012, chúng tôi về làng Chùa xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa (Hà Tây cũ) dự lễ trao giải cuộc thi thơ lần thứ hai theo lời mời của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

 Làng Chùa bên sông Đáy đã làm nên một hiện tượng độc nhất vô nhị là tổ chức thi thơ với chủ đề Quê hương và nguồn cội trên phạm vi toàn quốc. Thơ từ khắp miền gửi về dự thi đã có hơn 6000 bài dự thi. Với một làng nhưng cuộc thi có tính chuyên nghiệp cao cả về thơ và cách tổ chức.

Tôi được TS Nguyễn Xuân Diện đến đón đi và lái xe là em Hòa một dịch giả tiếng Đức có hạng. Dọc đường hễ dừng xe chỗ nào là Nguyễn Xuân Diện nhanh nhảu xuống mở cửa xe cho tôi. Ô sướng, hôm nay mình như một Thủ tướng có hẳn một vị tiến sĩ tháp tùng.
 
Đến làng Chùa mới ngạc nhiên vì rất đông văn nhân tài tử, báo chí đất Hà thành, Hải Phòng. Các thi nhân được giải từ Đắc Lắc như Đinh Thị Như Thúy, Sài Gòn như Nguyễn Giúp, Nguyễn THượng Thế, Vĩnh Phúc như Nguyễn Ngọc Tung...

Dọc đường làng Chùa rực đỏ khẩu hiệu và những câu thơ hay được treo trên các cột. Khác với Ngày Thơ Nguyên tiêu do Hội Nhà văn VN tổ chức thả thơ lên trời thì làng Chùa thơ ở với người, thơ là ngũ cốc trên cánh dồng người...Chưa ở đâu có nhiều tuyên ngôn về thơ hay như ở đây.

Lễ trao giải tưng bừng, văn nghệ có các bác góp vui không váy ngắn lộ hàng mà áo tứ thân khăn đóng phân miêng. Giám đốc Sở Văn hóa Phạm Quang Long trao tặng hội thơ làng Chùa giấy khen, Hội Nhà văn VN cũng trao bằng khen cho Hội thơ làng Chùa.
Làng Chùa đang trở thành một địa chỉ văn hóa, địa chỉ thi ca...

Tiệc trưa toàn món quê ngon như quốc yến. Trước khi dời làng Chùa chúng tôi đến thăm nhà Nguyễn Quang Thiều. Một ngôi nhà Việt đẹp, một khuôn viên cỏ mướt khiến ai cũng muốn lăn kềnh lên đó. Cây lộc vừng cổ thụ dáng hoành lá non lấp lánh. Hoa bưởi nở trắng và thơm nồng cả ngõ...

  Dọc đường về đến gần Vác bị cảnh sát giao thông tuýt còi. Chột dạ có chuyện gì đây hay thấy mấy tên Blogger mà các anh kiểm tra. Diện bảo bác xuống xem sao. Tôi đưa thẻ nhà báo ra ngọt ngào xin lỗi và bảo chú lái xe đưa tôi đi công chuyện có phóng nhanh tí chút. Anh CSGT cười dễ thương nói bác bảo lái xe chạy chậm thôi, vợ cháu cũng là nhà báo. Tôi hỏi báo nào, báo Hà Nội mới bác ạ. À chỗ anh Tô Phán. Thế là đi ngon. Diện nói kinh thật cái thẻ nhà báo của bác có sức mạnh như thần. Oai ra phết, hôm nay mình như một quan chức có cỡ U trung ương...

Ảnh: Phạm Xuân Nguyên và Nguyễn Xuân Diện bên phướn đỏ ghi tuyên ngôn thơ làng Chùa: Thơ là ngũ cốc trên cánh đồng người.



-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

ĐỨC TIN VÀ LỐI ĐẾN THIÊN ĐƯỜNG

Đức tin và lối đến Thiên đường


Điều quan trọng nhất để con người tìm thấy vẻ đẹp kỳ diệu của đời sống là đức tin. Và đức tin không chỉ dành cho con người mà là sự tồn tại của chính các vị Thánh.

Năm Thánh 2010: Sám hối - Hòa giải và Hy vọng

Mỗi sáng thức dậy, bạn có thể thấy thêm một cuốn sách Thánh được in ra, thêm một nhà thờ, thêm một ngôi chùa mọc lên trên thế gian của chúng ta. Và mỗi sáng thức dậy, bạn có thể thấy thêm một người đến nhà thờ, đến với chùa chiền, đến với các buổi giảng kinh... Nhưng mỗi sáng thức dậy, bạn sẽ thấy thêm một người đánh mất đức tin vào đời sống trên thế gian này và trở nên tuyệt vọng hoặc trở nên tội lỗi.

Và có lẽ, trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ những cuộc chiến tranh lại nhiều như bây giờ và man rợ như bây giờ. Ngay trong chính đời sống của mỗi con người đang hiện hữu trên thế gian này, chúng ta cũng nhận ra chúng ta dần dần trở lên mù loà trong chính ánh sáng mà chúng ta từng được khai mở và được ban phước.
 

Thế gian đang đến gần với Thiên đường như con người trên thế gian này đêm ngày nguyện cầu hay đang lạc đường và tàn lụi ? Với cái nhìn một cách đầy đủ và công bằng vào đời sống của con người, chúng ta có thể nói: thế gian đang lạc đường và tàn lụi.



Bạn có thể không đồng tình với câu trả lời như một sự tuyệt vọng này của tôi. Bởi bạn đang sống trong một đời sống nhiều của cải vật chất hơn. Bạn đang mỗi ngày lút sâu trong đầm lầy của thói ngạo mạn và tăm tối khi thấy mình đang sở hữu nhiều vật chất và quyền lực hơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ bạn.

Nhưng nếu chúng ta đặt câu hỏi về đời sống này với đúng bản chất tinh thần của nó và lắng nghe câu trả lời thành thực nhất theo một phép liên hoàn từ nhiều thế hệ trong gia đình bạn: cụ kỵ, ông bà, cha mẹ...thì bạn sẽ nhận thấy những câu trả lời này sẽ dựng lên một lộ trình của tinh thần đời sống giống như tiến trình đóng băng của một dòng sông.

Dòng nước bị băng hoá từ từ và cuối cùng trở nên bất động: cái chết của dòng chảy - sự sống. Sự băng giá từ từ hay một cái chết chậm không làm cho bạn nhận biết về nó. Ngược lại, bạn đã lầm tưởng bạn đang đến gần với một thế giới ánh sáng.

Cũng trong hơn 100 năm nay, từ thế kỷ 20 đến thập niên đầu của thế kỷ 21, các cuộc chiến tranh tôn giáo trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết. Sự mù loà về Thượng đế, Thần Phật hay các vị Thánh và đức tin bắt đầu từ chính những nơi ở ngay trên thế gian này mà chúng ta tin Thượng đế, Thần Phật hay các vị Thánh thường đến trú ngụ.

Cho dù tôi không hiểu một chút nào về bản chất của các tôn giáo hay lịch sử của nó thì tôi vẫn có thể cất lên một câu hỏi chính xác về những gì đang xẩy ra trong đời sống tôn giáo của nhân loại: Chúng ta sẽ lý giải như thế nào khi những người Thiên chúa giáo tìm mọi cách chống lại những người Hồi giáo hay những người Phật giáo và ngược lại.

Tại sao Jesus lại đối nghịch với Đức Phật hay Thánh Ala? Mọi đối nghịch một cách tồi tệ  và u tối này sinh ra bởi chính chúng ta. Thật hổ thẹn và tội lỗi khi một người Thiên chúa giáo kêu gọi chống lại một người Hồi giáo và ngược lại. Nhưng điều tồi tệ này đã và đang xảy ra.

Nó làm cho tinh thần tối thượng của các tôn giáo bị tàn phá. Nó làm cho chúng ta tin rằng lực lượng của Bóng tối đã chiếm ngự thế gian như quá nhiều các tác phẩm văn học, điện ảnh và những lời tiên tri đã thường đề cập tới là một hiện thực.

Những "Nhà nước" của các tôn giáo là những người đầu tiên chịu trách nhiệm về việc mở cửa cho lực lượng của Bóng tối tràn đến thế gian.

Còn đối với những người vô thần lúc này lại có quá nhiều cơ hội để cười nhạo các tôn giáo và các vị Thánh. Và trong mắt họ lúc này, nhà thờ hay chùa chiền chỉ là những túp lều được sơn quét sặc sỡ mị dân phù phiếm trên một thế giới quá nhiều lầm lạc, nhiều thù hận và nhiều tội lỗi và trở lên trơ trẽn.



Khai mạc Thánh lễ tại Sở Kiện, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Ảnh: MT
 
Phải chăng Chúa và Phật đang bỏ loài người như ca từ trong một bài hát của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn? Không, Họ không rời bỏ chúng ta như những vẻ đẹp của đời sống này không rời bỏ chúng ta. Chỉ chúng ta đang trở lên mù loà và mỗi ngày rời bỏ Họ. Chúng ta ngày ngày tìm đến những nơi chốn tôn nghiêm và quỳ gối hay cúi đầu cầu xin Thượng đế, Thần Phật và các vị Thánh ban phước cho chúng ta. Và quá nhiều người trong chúng ta trở nên tức tối hoặc tuyệt vọng khi những lời cầu xin của chúng ta không được đáp lại.

Thực tế, hàng ngày, Thượng đế vẫn gửi những món quà cho chúng ta. Chỉ có điều chúng ta không nhận ra những món quà ấy. Bởi chúng ta đã hoàn toàn hiểu sai lệch và lạc đường trong hành trình đi tìm những vẻ đẹp vĩnh hằng của đời sống.

Nhiều lúc nhìn con người chen chúc nhau trên mọi ngả đường của thế gian, chúng ta giật mình kinh hãi nhận ra rằng: chúng ta đang mang trên mình những con mắt và những cái tai giống đồ mỹ ký không một chút giá trị thực nào. Chúng ta không có khả năng nhìn ra những vẻ đẹp và không có khả năng nghe thấy những điều kỳ diệu trong đời sống của mình.

Giáng sinh năm ngoái, tôi không đi nhà thờ mà ngồi xem lại bộ phim hoạt hình The Polar Express khi chuông nhà thờ ở thị xã Hà Đông vang lên trong giá lạnh.

Bộ phim kể về một cậu bé đã đi một chuyến tàu trong giấc mơ lên phương Bắc. Ở đó, cậu đã gặp ông già Noel và được tặng một chiếc chuông gắn trên chiếc xe kéo tuần lộc. Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, cậu bé mở một gói quà và thấy chiếc chuông đó. Cậu lắc khẽ chiếc chuông và một âm thanh diệu kỳ mà cậu đã nghe thấy trong cơn mơ của mình giờ đây đang tràn ngập tâm hồn cậu. Cậu tin cậu đã đến được miền đất ấy và gặp được ông già Noel.



Nhưng khi cha mẹ cậu nhìn thấy chiếc chuông cũ kỹ thì muốn vứt đi. Cậu bé nói cho cha mẹ mình về tiếng chuông diệu kỳ ấy. Cả hai người lớn kia lắc mãi và lắc mãi chiếc chuông nhưng họ không nghe thấy gì. Họ không tin có điều ấy.

Tiếng chuông diệu kỳ kia là có thật. Nó không phải là chuyện cổ tích. Nhưng chỉ có những cái tai của một tâm hồn trong sáng và tràn ngập đức tin thì mới nghe thấy. Những người lớn chúng ta đã đánh mất tâm hồn ấy và chúng ta không hề nghe được những điều kỳ diệu của đời sống này. Các vị Thánh cùng những phép thiêng không bao giờ rời bỏ chúng ta. Họ luôn luôn ở bên cạnh chúng ta đợi tâm hồn và đức tin chúng ta hồi phục như những bà mẹ thức trắng bên giường những đứa con đang trong cơn sốt mê sảng và chờ chúng tỉnh dậy.

Có rất nhiều cậu bé, cô bé trên thế gian này giống cậu bé trong bộ phim kia đã đến được nơi chốn mà chúng ta thường nhếch mép cười khẩy và mỉa mai đó chỉ là một ảo giác. Nhưng chúng ta lại luôn luôn nói về Thiên đường và cầu xin được đến Thiên đường sau khi rời bỏ đời sống thế gian này. Và sự khao khát đến được Thiên đường của chúng ta như thế rõ ràng là một thói hưởng thụ như mọi thói hưởng thụ vật chất trong đời sống chúng ta mà thôi. Chúng ta không hề hiểu rằng: chỉ có một đời sống đích thực ý nghĩa của chúng ta mới đủ trả cho tấm vé lên chuyến tàu đến Thiên đường của mỗi chúng ta.

Nhưng điều tối quan trọng là chúng ta đã sai lầm tệ hại khi hiểu rằng giữa thế gian chúng ta đang sống và Thiên đường được phân cách bằng một đường biên giới như đường biên giới giữa các quốc gia. Thế là, chúng ta cho phép mình sống tuỳ tiện với mọi ham muốn thấp hèn ở phần bên này của đời sống: Thế gian mà không chịu hối hận. Rồi chúng ta đợi một ngày với ý nghĩ rằng những khôn lỏi và mưu mô sẽ giúp chúng ta nhanh chân hơn người khác lọt sang phía bên kia: Thiên đường, để tha hồ tiếp tục hưởng thụ và thoả mãn những dục vọng của chúng ta như khi đang sống ở Thế gian mà chẳng phải làm gì.

Thực tế, chỉ có một đường biên giới duy nhất giữa thế gian và Thiên đường. Đó là chính thân xác tội lỗi của chúng ta. Khi chúng ta ngăn chặn mọi cuộc chiến tranh, huỷ diệt mọi hận thù, khi chúng ta chia sẻ và yêu thương con người và thiên nhiên một cách chân thành, khi chúng ta luôn mỉm cười với người bên cạnh, khi chúng ta thấy ngập tràn hạnh phúc mỗi lúc chìa bàn tay nhân ái về phía những số phận khổ đau... thì ngay lập tức Thiên đường tràn ngập ngay nơi ta ở, cho dù đó là một căn phòng chật chội và treo nhiều quần áo cũ.

Tại sao chúng ta lại không chịu thừa nhận những điều kỳ diệu của đời sống như thừa nhận tiếng chuông mà cậu bé nghe được trong cơn mơ của mình? Tại sao chúng ta lại không hiểu đó là một hiện thực?  Bởi chúng ta là những kẻ bị chủ nghĩa vật chất mê dụ.

Chúng ta chỉ muốn thừa nhận những điều kỳ diệu của đời sống này như thừa nhận sự hiện diện của những miếng bít tết trên đĩa sứ. Nó làm thoả mãn vị giác của chúng ta và những cơn đói nhục dục.

Có một câu hỏi mà một người bạn tôi từng hỏi nhưng chưa ai trả lời làm thoả mãn ông. Câu hỏi đó là: Nếu Chúa Jesus, thánh Ala và Đức Phật có quyền năng tối thượng sao Họ không "phẩy tay" để xua đi ngay lập tức mọi đói rét, bệnh tật, thù hận, khổ đau trên thế gian này mà cứ để thế gian chìm đắm mãi trong bóng tối của những đau khổ ấy?

Tôi đã nói với bạn tôi rằng câu trả lời ở đây chính là vấn đề về đức tin và ý nghĩa đích thực của hạnh phúc.

Điều quan trọng nhất để con người tìm thấy vẻ đẹp kỳ diệu của đời sống của họ là đức tin. Và đức tin không chỉ dành cho con người mà là sự tồn tại của chính Họ. Nếu Họ, Chúa Jesus, thánh Ala, Đức Phật... không làm cho con người có đức tin thì Họ là những người thất bại đầu tiên.

Khi tất cả con người trên thế gian này không còn đức tin thì hoặc Họ không còn lý do gì để hiển hiện trong một hình thức nào đó trên thế gian này nữa hoặc Họ phải dời đến một một nơi chốn nào đó trong vũ trụ.



Thượng đế đã mở sẵn lối đi đến Thiên đường và đã mách bảo chúng ta hàng ngày mà chúng ta không hề nghe thấy. Và bi hài thay, có không ít những người Thiên chúa giáo, những người Hồi giáo và những Phật tử lại luôn luôn tranh giành quyền sở hữu Thiên đường như một quyền lợi cho nhóm của mình. Đấy chính là sự lạc đường và suy tàn của chúng ta. Và đấy là nguyên nhân sinh ra những cuộc chiến tranh tôn giáo ngập tràn máu chảy và sự hận thù. Đấy là một tội lỗi kinh khủng nhất bởi có những người, hay những nhóm người lợi dụng sự sợ hãi, lợi dụng lòng tin một cách ngây thơ của con người, lợi dụng bản chất huyền diệu của tôn giáo để thoả mãn những dục vọng của mình.

Chúng ta đang mắc một sai lầm khi nghĩ rằng chỉ khi mình trở thành con chiên của Chúa, của thánh Ala hay là đệ tử của Đức Phật thì chúng ta sẽ được Họ ban phước. Tôi hoàn toàn tin có một Đấng Tối Cao mà Chúa Jesus, thánh Ala và Đức Phật là hiện thân của Người trên thế gian này để khai mở tâm hồn con người và cứu vớt con người. Họ không phải những Người phân chia quyền lực và lôi kéo con người trên thế gian về phe mình. Nhưng hiện thực của thế giới tôn giáo đặc biệt trong đời sống hiện đại đã đi ngược lại bản chất tinh thần tối thượng của nó.

Nhưng trong đêm khuya khoắt này, cho dù tôi đang viết những lời đầy buồn bã và thất vọng này thì trên thế gian chúng ta có bao ngôi nhà ấm áp và lấp lánh ánh lửa. Ở đó, có biết bao người đang nói với nhau về những điều tốt đẹp và huyền diệu của đời sống. Và có biết bao đưa trẻ đã lên con tàu trong cơn mơ của chúng để đến với miền đất kỳ diệu. Để sáng hôm sau thức dậy, chúng mang một niềm tin bất diệt về những điều kỳ diệu mà chúng đã được ban phước. Chúng sẽ mang theo đức tin ấy để từng ngày xây dựng một thế giới tốt lành trên thế gian còn quá nhiều bóng tối và máu chảy của chúng ta.

Giáng sinh, 2009.


Phụ lục cho bài viết: Trường ca: Nhân chứng của một cái chết
(Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1999, khúc 14, 16, 19)
Khúc mười bốn
Trong mưa đêm và mây đen tôi nhìn thấy ngôi sao. Bền bỉ sáng, ngôi sao từ thuở tôi sinh ra cho tới đêm này. Không gần hơn không xa hơn, ngôi sao, và không bao giờ tắt. Sáng bền bỉ trong mây mù như con mắt không chớp, nhìn tôi.

Gió thổi suốt tháng năm qua ngôi nhà của tôi. Ngôi nhà như lễ đặt tên, như lễ xưng tội, như một bằng chứng. Chiếc dây phơi căng qua sân ám ảnh và tuyệt vọng trong những đêm tháng Chạp. Ở đó, một chiếc áo chưa khô, bị bỏ lại, than khóc vì sợ hãi suốt đêm. Ở đó, một con thạch sùng đã liều lĩnh băng qua và lạnh cóng bốn bàn chân. Ở đó, một con chim không chịu nổi cơn buồn ngủ ngã nhào xuống. Ở đó trong một đêm âm u, hoang vắng, tôi đứng như một thân cây tối thẫm. Tinh thần tôi bay lên để nhìn ngôi sao rõ hơn.

Và đêm này, trên ban công ngôi nhà, trong rền rĩ mưa. Tôi ngước về chốn xa xăm, xúc động tràn nước mắt. Vẫn nơi đó, không hề suy chuyển ngôi sao toả sáng. Ngôi sao không hề sáng hơn trong những đêm mùa hạ trong trời. Ngôi sao không mờ hơn trong mây mù và những đêm mưa như đêm này. Chỉ tôi đã lớn lên và nhiều hơn khoảnh khắc bất động. Những ngón tay tôi mờ dần đi trên những bức tường. Và giọng nói tôi vọng đến một chốn xa xăm. Và bánh xe của cỗ xe mơ mỗi ngày một quay nhanh và vang lên những tiếng nghiến như tiếng nức nở của một đứa trẻ. Một con đường tỏ dần trong tôi và ánh ngày rạng toả. Một bản nhạc trong lặng im tấu lên rộn rã. Một lễ hội toàn người lạ kéo tôi như đi lạc mất đường về.

Đã có những tháng năm tôi trốn chạy. Nhưng ở đâu ngôi sao cũng mọc trước mặt tôi. Tôi đã từng giá lạnh, đã từng hoang vu, đã từng không trả lời được câu hỏi về số phận. Trong những đêm của năm tháng đó, tôi đứng một mình trên cánh đồng xứ sở sau những mùa gặt hái. Sương mù giăng như khói và mây mù che lớp lớp bầu trời. Tôi cất tiếng hỏi những ngôi mộ nhiều tuổi tác. Nhưng không một ngôi mộ nào cất tiếng trả lời tôi. Những ngôi mộ ngồi lặng im và suy nghĩ triền miên về sự sống và cái chết. Và tôi thấy tỏa về xa xăm ánh sáng ngôi sao. Tôi nghe thì thầm một giọng nói. Và thời gian năm tháng ấy đi qua tôi náo nức, và bí ẩn, và câm lặng một niềm tin.

Đêm nay trong thị xã lẻ loi, đơn điệu, nước đang lặng lẽ dâng lên. Và lặng lẽ ánh sáng ngôi sao ngập tràn trong tôi. Và tôi lại mơ về bến bờ xanh tươi của đại dương đã chết.

Khúc 16:

Viết trong đêm mưa tôi gửi cho Người. Chưa bao giờ mưa nhiều đến thế. Có lẽ mưa kéo dài đến 100 năm. Và mấy trăm năm rồi không ai viết cho Người.

Trong những đêm gần sáng tôi thấy Người đi bên những đám mây hừng đông. Tôi không thể đến bên Người. Nhưng giọng tôi thì Người nghe thấy.

Trái đất giờ này quá suy nhược. Sự mệt mỏi bò lên đỉnh sợi tóc. Ngày già đi quá nhanh và đêm nào cũng lạnh thấu xương. Chúng tôi ngồi co ro trên Trái Đất trơ trụi và đang trôi mê sảng. Có ai đó trong chúng tôi cởi áo đốt lên đống lửa. Và ai đó cất tiếng khóc nguyện cầu. Tiếng hát loang đi như tiếng cổ xưa. Dọc những triền sông về thượng nguồn. Nơi bầy thú rừng lang thang đói khát và mệt mỏi.

Chúng tôi sinh ra và có lẽ nào tàn lụi. Ôi thế kỷ này răng hàm chúng tôi lại mệt mỏi rã rời. Một thế kỷ thực phẩm còn mệt mỏi hơn. Sao chúng tôi phải gánh theo cơn đói. Để suốt đời chúng tôi phải nấu nhừ ngũ cốc và chọc tiết súc vật.

Sao chúng tôi không là những đám mây, bay thanh thản mọi nẻo đường vũ trụ. Sao da thịt chúng tôi lại thế này. Thật không thể tin vào mắt mình được nữa. Sao mắt chúng tôi lại cứng dần và biến thành những viên sỏi. Tai chúng tôi ngứa ngáy mọc lên nấm độc. Lưỡi chúng tôi hóa thành đầu rắn. Và trái tim hóa trái cây dại đầy nhựa chát. Có phải đây là trò đùa hay sự trừng phạt của Người?

Đêm mỗi lúc lạnh thấu xương. Chúng tôi cởi áo nhóm lên ngọn lửa. Và chúng tôi không ai bảo ai cùng cất lên tiếng hát. Người nghe thấy chăng tiếng hát đầy sợ hãi. Đấy chính là lời cầu nguyện của chúng tôi.
Khúc mười chín
Mưa vẫn rì rầm bay
Về những nơi bóng tối còn phủ đầy
Trong đáy sâu của nước
Chiếc xe bò yên nghỉ
Phía trên những đám cỏ bồng bềnh trôi
Con bò đã thoát khỏi ách xe
Nước đẩy nó ra quảng trường thị xã
Nơi có những ngọn đèn trong nước
Như con ngươi của người mù
Cố ngước lên tìm đường
Để thoát khỏi đám đông gào thét
Linh hồn con bò đã bay lên
Nhưng cặp sừng của nó quá nặng
Và người đánh xe
Chưa dứt cơn say
Rúc đầu vào thùng xe
Mơ con bò sinh ra một chú bê
Mưa vẫn rì rầm bay
Tất cả giờ rơi vào lặng câm và bóng tối
Và lúc này câu cầu hiện lên
Trong cái chết của thị xã
Cây cầu vụt lên như ánh sáng
Ánh sáng từ thị xã ra đi
Hay từ chốn xa xăm rọi về
Từ trong thị xã ngập nước
Họ đi lên cầu
Một người đàn ông và một người đàn bà
Cả hai không mảnh vải che thân
Như vừa sinh ra
Họ ướt át và run rẩy
Đến giữa cầu họ dừng bước và quay lại
Họ nhìn thị xã
Và hai mắt họ
Hai cửa sổ bị phá toang
Họ không chạy trốn cơn thịnh nộ của trời xanh
Họ chỉ đi lên cao hơn
Để nhìn rõ toàn bộ thị xã
Họ là những kẻ may mắn chăng?
Không! Họ chỉ là
những kẻ phải sống
Để chứng kiến cảnh này
Họ đứng lặng im
Trong ánh sáng một cây đèn
trên cầu còn sót lại
Mưa vẫn rì rầm bay trên đầu
Mang theo tiếng hát nguyện cầu
và nỗi sợ hãi của họ
Họ đứng lặng im
Nhớ về những giấc mơ
Trong những ngôi nhà đầy bụi
Và trên những con đường
Chạy ra ngoại ô
Đầy phân bò và đá
Nơi họ đã băng qua
Để khóc một mình trên cánh đồng
Liền với chân trời những đêm tối
Rồi vội vã trở về thị xã
Vào lúc rạng đông
Mưa rì rầm bay
Và mất dần về bóng tối phía xa
Một ngôi sao trên đầu
Vẫn lặng lẽ theo dõi họ
Và lúc này
Họ không còn khóc than
Không còn tuyệt vọng
Không còn dày vò
Về những năm tháng đã đi qua
Họ chỉ đang hình dung
Con đường sẽ dẫn họ về thị xã
Trong buổi bình minh
Của một ngày Chủ nhật.
Hà Đông - mùa đông 1998


Nguồn: Tuần Việt Nam.
-->đọc tiếp...