Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy Hiển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Duy Hiển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

GS. PHẠM DUY HIỂN LÊN TIẾNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN


GS Phạm Duy Hiển: 
Với điện hạt nhân, phải nói cho đúng!

(Quan điểm) - "Trước mắt, việc khởi công nhà máy ĐHN đầu tiên năm 2014 coi như hỏng? Muốn khởi công phải có tài liệu, có thiết kế, luận chứng… trong khi hiện tại chưa có gì. Nếu nỗ lực một cách nghiêm túc, sớm nhất là năm 2018 mới có thể khởi công. Tôi cho rằng càng chậm càng tốt vì đến năm 2030 sẽ có những loại lò phản ứng rất hiện đại".
Nhân việc Nhật Bản dừng lò phản ứng điện hạt nhân cuối cùng, GS Phạm Duy Hiển, chuyên gia hàng đầu về ĐHN tại Việt Nam bàn tới việc xây dựng nhà máy ĐHN ở Việt Nam..

Nhật Bản tạm dừng hạt nhân vì nghe dân

PV: – Thưa ông, vào sáng 16/9 Nhật Bản đã chính thức đưa ra thông tin dừng lò phản ứng điện hạt nhân cuối cùng tại Ohi và không đưa ra khung thời gian có thể tái khởi động, dù điện hạt nhân chiếm 30% nguồn cung năng lượng của đất nước này. Theo ông, đây có phải là quyết định dễ dàng với Nhật Bản? Và tại sao lãnh đạo nước này phải đưa ra quyết định như vậy?

GS Phạm Duy Hiển: - Đây là một vấn đề phức tạp, nhất là hiện nay đã có hiện tượng rò rỉ phóng xạ xung quanh nhà máy điện hạt nhân Fukushima. Theo kết luận của Chính phủ Nhật Bản, mức độ phóng xạ xung quanh nhà máy điện hạt nhân Fukushima đã cao hơn tới 18 lần so với những báo cáo trước đó mà Công ty điện lực Tokyo Nhật Bản (Tepco) ghi nhận.

Việc Tepco mập mờ về thông tin như vậy khiến người dân càng thêm không yên tâm. Sự thực cũng phải thừa nhận rằng, họ đã cố gắng hết sức nhưng chuyện phóng xạ là tế nhị và nhạy cảm, còn dân thì không thể hiểu hết được.

Cho nên, nói tuyên truyền về hạt nhân chỉ là nói vậy thôi, chứ thực chất vấn đề phức tạp hơn rất nhiều. Tại sao điện hạt nhân lại bị phản đối nhiều như thế, là vì không có nhiều người hiểu biết về nó, trong khi đi tuyên truyền lại không chừng mực.

Nhật Bản đang gặp phải vấn đề như vậy. Nếu Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục điện hạt nhân, người dân không nghe, dù họ biết rõ, thiếu điện thì giá điện sẽ tăng lên.  Theo tôi, chắc chắn cuối cùng Nhật Bản sẽ cho một số lò chạy thôi nhưng muốn làm thế thì người dân địa phương phải đồng thuận.
 
Thủ tướng Nhật Bản  Shinzo Abe (mũ đỏ) thị sát nhà máy Fukushima 1 và hối thúc tập đoàn tháo dỡ hai lò phản ứng còn lại của nhà máy
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (mũ đỏ) thị sát nhà máy Fukushima 1 và hối thúc tập đoàn tháo dỡ hai lò phản ứng còn lại của nhà máy

PV: - Tại Việt Nam, sự việc Lâm Đồng nhắc đi nhắc lại rằng “sợ” điện hạt nhân thời gian gần đây khiến dư luận không khỏi lo ngại (lò phản ứng trong Trung tâm hạt nhân có công suất bằng 1/100 một lò hạt nhân xây dựng ở Ninh Thuận). Thưa ông, phản ứng của Lâm Đồng và dư luận thể hiện điều gì trong thái độ của người dân với điện hạt nhân? Khi tâm lý người dân chưa thật sẵn sàng như vậy, liệu Việt Nam có thể học theo Nhật Bản?

GS Phạm Duy Hiển: - Cách đây hơn một năm, khi tổng kết thảm họa Fukushima, người ta nói rằng: “Đừng nói với người dân rằng điện hạt nhân là an toàn, mà hãy nói hãy tin chúng tôi. Chúng tôi sẽ cố gắng làm cho nó an toàn”. Phải nói cho đúng để người dân tin. Điều này tôi cũng đã từng nói với những người có trách nhiệm, và cả những người nghiên cứu về ĐHN nhưng không biết người ta nghe đến đâu.

Trên thực tế, sau sự cố Fukushima, nhiều nước vẫn làm ĐHN chứ không phải quay lưng hẳn. Nhưng vấn đề làm như thế nào thì các nước được lưu ý rất kỹ.

ĐHN càng chậm càng tốt

PV:Bất chấp nhiều cảnh báo, ĐHN vẫn được coi như là lời giải cho việc thiếu năng lượng của Việt Nam trong 20 năm tới. Đến thời điểm này, theo ông đánh giá, Việt Nam đã làm được những gì và còn thiếu những gì để có thể phát triển điện hạt nhân một cách an toàn? Nhìn vào xu hướng thế giới như vậy, Việt Nam nên có những điều chỉnh như thế nào?

GS Phạm Duy Hiển: - Chính phủ Việt Nam đã ký kết với nước ngoài, quyết làm điện hạt nhân nên giờ rất khó biết phải nói thế nào. Nhưng chuyên gia nếu nói thì cũng phải nói cho đúng sự thật.

Nói nếu có sự cố thì Việt Nam có thể sẽ bị chia cắt ra làm đôi, trong khi xuất khẩu, kinh tế bị tê liệt ngay tức khắc và toàn bộ dải đất miền Trung sẽ bị ô nhiễm phóng xạ bao trùm trong nhiều năm nếu xảy ra một thảm họa hạt nhân như vụ Tchernobyl hay Fukushima cũng không chuẩn. Nói kiểu ‘an toàn tuyệt đối’ cũng là sai. 

Vậy Việt Nam cần phải làm gì? Chỉ có cách làm đúng luật, đúng khả năng, không được chạy theo tiến độ. Trước mắt, việc khởi công nhà máy ĐHN đầu tiên năm 2014 coi như hỏng? Muốn khởi công phải có tài liệu, có thiết kế, luận chứng… trong khi hiện tại chưa có gì.

Nếu nỗ lực một cách nghiêm túc, sớm nhất là năm 2018 mới có thể khởi công. Tôi cho rằng càng chậm càng tốt vì đến năm 2030 sẽ có những loại lò phản ứng rất hiện đại.

Hiện tại, Việt Nam phải đối diện với vấn đề: làm sao để có đủ nguồn nhân lực? Thách thức lớn nhất với chúng ta là vấn đề này.

Trong việc phục vụ cho chương trình ĐHN, phải đào tạo được: chuyên gia vận hành lò phản ứng (để vận hành một lò phản ứng như của Nga, phải cần ít nhất là 300 hoặc 400 người, trong đó phải có những người đứng đầu biết xử lý mọi tình huống, tức phải là những người có kinh nghiệm);

Chuyên gia thẩm định dự án và giám sát thi công; chuyên gia có kinh nghiệm ở các cơ quan pháp quy độc lập với nhà máy (phải làm trong nghề ít nhất 10 năm sau khi tốt nghiệp đại học). Hiện Việt Nam chưa có những người như vậy.
 
GS Phạm Duy Hiển: Làm ĐHN bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy.
GS Phạm Duy Hiển: Làm ĐHN bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy.

Về chuyện đào tạo trong nước, tuy Chính phủ đã chuẩn chi 3 ngàn tỷ đồng cho dự án này nhưng ai sẽ làm thầy? Trong thế hệ “trẻ” hiện nay chưa ai từng kinh qua những trường đào tạo về hạt nhân nghiêm chỉnh, những chuyến xuất ngoại vài ba tuần lễ chỉ đủ để cưỡi ngựa xem hoa.

Vậy làm sao họ có thể đào tạo các chuyên gia ĐHN? Mà trong chương trình lại thấy đào tạo cả thạc sỹ, tiến sỹ nữa? Tiến sĩ chỉ là những người nghiên cứu, chứ vào nhà máy ĐHN để làm gì ở đó?!.

Tôi nghĩ lúc này, không còn cách nào khác, chúng ta phải đối diện thẳng với việc cấp tốc làm thế nào để cho có người làm ĐHN.  Chúng ta cứ làm đi rồi sẽ thấy ta không làm nổi theo tiến độ đã đề ra, không thể đến năm 2020 đã có điện hạt nhân.

Nhiều người nghĩ rằng họ có thể làm được đủ mọi việc. Nhưng với ĐHN, khi bắt đầu vào những việc cụ thể, người ta mới thực sự thấy không giống như khi xây dựng đề án trên giấy.

Ngay từ đầu tôi đã nói điều này và đến bây giờ những người trực tiếp làm ĐHN đang phải đối mặt với chính vấn đề đó. Rất nhiều cán bộ trước đây hào hứng khi Quốc hội thông qua chủ trương làm ĐHN nhưng bây giờ bắt đầu hiểu ra rằng những cảnh báo trước đây là có thật.

Trước đây, trong giới khoa học, có lẽ chỉ mình tôi không ủng hộ việc làm ĐHN, bây giờ đã có nhiều người thừa nhận những lo ngại là có căn cứ.

PV:Một chuyên gia về năng lượng đã tính toán, nếu Việt Nam thay đổi nền kinh tế tiêu thụ năng lượng vô lối, không hiệu quả như hiện nay, rồi tính toán lại nhu cầu điện năng thực tế, có thể Việt Nam sẽ không cần viện tới điện hạt nhân. Ông nghĩ như thế nào về thông tin này? Liệu có nên coi đây là một gợi ý đáng cân nhắc để giải bài toán năng lượng ở Việt Nam mà không phải bằng mọi giá phát triển điện hạt nhân dù hoàn cảnh thực tế chưa phù hợp?

GS Phạm Duy Hiển: - Có chứ nhưng người ta không muốn làm. Đã có số liệu chứng minh Việt Nam sử dụng năng lượng không hiệu quả nhất thế giới. Năm ngoái tăng trưởng kinh tế chỉ có 5,3% trong khi điện xài đến 12,5%, tức là điện hơn gấp đôi tăng trưởng. Tại sao trong cùng một đất nước mà điện năng ở TP Hồ Chí Minh chỉ tăng 7%/năm, tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, trong khi Hà Nội lại tăng đến 17%/năm, Quảng Ninh 21%?

Thông thường khi các nhà quy hoạch xây dựng lộ trình phát triển điện phải căn cứ để GDP tăng thêm 1% điện phải tăng thêm bao nhiêu %, con số này được gọi là hệ số đàn hồi (HSĐH). Chính hệ số này nói lên hiệu quả sử dụng điện của nền kinh tế. Nó càng bé, nền kinh tế càng hiệu quả, đất nước càng hiện đại.

Khát điện như Trung Quốc mà họ cũng thấy rằng HSĐH suýt soát 1 là quá lãng phí. Nhận ra mối nguy, trong kế hoạch 2006-2010 họ kiên quyết giảm tốc độ tăng trưởng điện xuống trong khi vẫn bảo đảm tăng trưởng kinh tế mạnh.

Riêng trong hai năm 2008-2009, lượng điện thương phẩm của Trung Quốc chỉ tăng 6%/năm trong khi GDP tăng gần 10%/năm. Hai con số này ngược hẳn với ta: GDP tăng chưa đầy 6%/năm nhưng điện lại tăng đến 13%/năm.

Việt Nam cần xác định đúng thủ phạm gây lãng phí điện năng và có biện pháp xử lý. Năm 2010 và 2011, khi kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp phá sản khiến cho tiêu thụ điện giảm hẳn, hệ số đàn hồi điện/GDP giảm xuống còn 1,8 (2010) và 1,6 (2011). Điều này chứng tỏ thủ phạm chính gây lãng phí điện năng nằm trong khối sản xuất, xây dựng, chứ không phải trong khối hộ gia đình.

Vậy làm thế nào để xử lý tình trạng lãng phí điện như trên? Theo tôi, phải áp tiêu chí tiêu thụ điện năng vào trách nhiệm của lãnh đạo các tỉnh và công khai hóa cho mọi người đều biết. Tiêu thụ điện năng phải được xem như tiêu chí ưu tiên khi xét duyệt các dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Những công nghệ lạc hậu tiêu tốn điện năng phải tìm cách loại bỏ dần v.v... Ai vi phạm trong khâu xét duyệt dự án sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nói như vậy không phải là để tháo lui ĐHN, bây giờ chúng ta đang trong tình thế buộc phải đi tới. Thế nhưng phải đi tới cho đúng, bước được đến đâu đi đến đó chứ không phải nhảy cóc rồi ngã nhào. 

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trao đổi!

GS.Trần Đại Phúc: Báo động đỏ nhân lực Điện hạt nhân VN
Bích Ngọc (Thực hiện)
Nguồn: Đất Việt
 
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

ĐIỆN HẠT NHÂN TIẾP TỤC BỊ CHỈ TRÍCH NHÂN DỰ ÁN ĐÀ LẠT

Trọng Thành - rfi

Trung tuần tháng 8/2013, báo chí trong nước đưa tin về phản ứng lo ngại của chính quyền tỉnh Lâm Đồng đối với dự án xây dựng một cơ sở hạt nhân cách trung tâm thành phố Đà Lạt 10 km. Nhìn nhận về nỗi lo ngại trước dự án hạt nhân Đà Lạt – một mắt xích cơ bản trong chủ trương chuẩn bị nhân lực cho các nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) tương lai của Việt Nam – là một dịp trở lại với các câu hỏi : Liệu lựa chọn năng lượng hạt nhân có thực sự hữu ích ? Và trong trường hợp bất khả kháng, cần phải hành động như thế nào để ĐHN không trở thành một thảm họa ?

Về chủ đề này, Tạp chí Khoa học RFI trước hết xin giới thiệu với quý vị tiếng nói của Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn của Nha Kinh tế - Dự báo - Chiến lược của tập đoàn điện lực Pháp EDF. Từ mươi năm nay, Giáo sư Nhẫn dành rất nhiều tâm lực đặc biệt cho việc nghiên cứu về vấn đề ĐHN và năng lượng nói chung, nhằm đưa ra những tư vấn mang tính cảnh báo về nguy cơ của việc theo đuổi con đường phát triển ĐHN một cách mù quáng.
Toàn bộ phỏng vấn với Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn
(12:20)


RFI : Theo tin trong nước, Việt Nam đang có dự án xây cất Trung tâm nghiên cứu hạt nhân ở Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, trị giá nửa tỷ USD, do Nga giúp đỡ công nghệ. Giáo sư đã từng nhiều lần lên tiếng về chương trình ĐHN của Việt Nam. Vậy xin Giáo sư cho biết quan điểm về Trung tâm này ? 

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn : Vì tôi hoàn toàn không đồng ý với chương trình ĐHN của Việt Nam, tôi rất tiếc phải nói rằng việc xây cất Trung tâm hạt nhân ở Đà Lạt, gắn liền với chương trình này, là không cần thiết lắm, phí tiền của dân mà không đem lợi ích gì cho nước nhà. Lẽ cố nhiên, đối với Viện Năng lượng nguyên tử, có trách nhiệm lớn trong chương trình ĐHN, tôi thông cảm với những lý do mà ông Viện trưởng, TS Trần Chí Thành, đã đưa ra. Theo ông Viện trưởng, thì Trung tâm có bổn phận phục vụ các nhà khoa học, các trường đại học và các cơ sở liên quan đến việc khai thác các nhà máy ĐHN.

Ta không có nhân lực thì phải có cơ sở để làm thí nghiệm và đào tạo một số cán bộ ở trong nước, chứ không thể hoàn toàn ỷ lại ngoại quốc, điều ấy dễ hiểu thôi, không có gì đáng trách móc lắm.

Điện hạt nhân đã lỗi thời và rất nguy hiểm

Vì thế trước tiên, cho phép tôi trả lời câu hỏi chính là : Tại sao tôi không ủng hộ chương trình ĐHN ?

Từ 10 năm nay, qua trên 40 bài tôi viết và trả lời phỏng vấn, tôi đã có dịp trình bày những lý do tại sao Việt Nam không nên làm ĐHN.

Tôi xin vắn tắt lại như sau : ĐHN đã lỗi thời, không an toàn, rất nguy hiểm cho hàng chục thế hệ con cháu sau này. ĐHN không kinh tế như người ta tuyên truyền láo, nó sẽ đắt hơn năng lượng tái tạo, khi ta xây cất xong các nhà máy. Hiện nay giá thành điện gió ở Âu Châu đã cạnh tranh được rồi.

Điện Hạt Nhân – ĐHN - là Điện Hại Nước, Điện Hại Non. Non Nước và dân ta có tội gì đâu, mà phải sống trong sự đe dọa thường trực của phóng xạ giết người, gây bệnh hoạn suốt đời, sau biết bao tang thương của những cuộc chiến tranh tàn ác để lại. Vì một chiến lược sai lầm, không phù hợp với cuộc cách mạng năng lượng thế giới đang diễn ra (smartgrid, Năng lượng tái tạo, tiết kiệm và hiệu quả năng lượng...), nếu rủi ro, trong chớp nhoáng, Việt Nam có thể bị điêu tàn, kinh tế sụp đổ, ngành du lịch, xuất khẩu tê liệt !

Trở lại vấn đề dự án Trung tâm hạt nhân Đà Lạt. Tại Hội nghị Khoa học và công nghệ hạt nhân toàn quốc lần thứ 10 vừa diễn ra tại Vũng Tàu, ông Lê Đình Tiến - Thứ trưởng Bộ KHCN - phát biểu như sau : Chúng ta đang thiếu nhân lực, cán bộ năng lượng nguyên tử, cán bộ giỏi về ĐHN. Hiện nay, các cán bộ trong nước đang gặp khó khăn trong việc thẩm định kết quả tư vấn cho hai nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận do chúng ta đang rất thiếu chuyên gia, thiếu đội ngũ làm việc cho cơ quan pháp quy để đảm bảo an toàn an ninh cho hạt nhân, thiếu đội ngũ cán bộ xây dựng nhà máy ĐHN. Việc quản lý chất thải nhà máy ĐHN cũng đang là vấn đề quan trọng đang tranh cãi chưa đưa ra được hướng đi.

Như thế thì tại sao ta phải xây dựng cấp bách nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận ? Rồi xây tiếp một loạt 14 lò đến năm 2030 ? Chưa gì mà có người đã hãnh diện cho Việt Nam, sẽ được xếp vào hàng thứ 15 trong số 33 nước có ĐHN trên thế giới !

Đầu tư khổng lồ, kết quả mờ mịt

Trên nguyên tắc, với 500 triệu đôla, ta có thể cấp ít nhất 50.000 học bổng cho các kỹ sư đã tốt nghiệp, du học ở ngoại quốc, khỏi cần xây cất Trung tâm này. Tuy nhiên, nếu làm 14 lò với tham vọng xây dựng nền tảng cho một công nghiệp hạt nhân, thì sẽ cần thêm hàng chục tỷ đô la để đầu tư vào nhiều cơ sở nghiên cứu khác, một Trung tâm có nghĩa lý gì ?

Diện tích đất trong dự án (Đà Lạt) lên đến 107 ha, tha hồ mà xây cất. Càng nhiều Trung tâm như vậy, giá điện càng tăng nhanh !

Nên biết rằng trước khi EDF (Electricité de France – Công ty điện lực quốc gia Pháp) bắt đầu xây cất các nhà máy ĐHN vào năm 1957, Pháp đã có lò Zoe – EL1 (1948), EL2 (1952). Sau đó, liên tiếp từ 1956 trở đi đến 1978, Pháp không ngừng xây cất gần 30 lò nghiên cứu và đào tạo, rải rác ở nhiều Trung tâm của CEA. Hiện nay chỉ 15 lò nghiên cứu còn hoạt động.

Như thế có nghĩa là, nếu ta quyết tâm chọn con đường hạt nhân, đầy chông gai hiểm trở, theo tôi, hoàn toàn bế tắt, thì ta sẽ phung phí hàng chục, rồi hàng trăm tỷ đôla của dân còn nghèo khổ. Nó sẽ thu hút tất cả nguồn sinh lực và tài chính quốc gia, không cho phép ta đầu tư vào những lĩnh vực then chốt khác : Năng lượng tái tạo, tiết kiệm và tăng gia hiệu suất năng lượng, chưa kể các lĩnh vực ưu tiên, như giáo dục, nghiên cứu, y tế, xã hội...Và ta sẽ càng khó đuổi kịp các nước biết nhìn xa ngó rộng, biết đầu tư đúng nhịp tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày nay.

Chương trình ĐHN Pháp quá mạnh, nay cũng bị kẹt ! Pháp muốn khai thác nhanh Năng lượng tái tạo như Đức mà không đủ điều kiện, nhất là về tài chính. Đức rất khôn ngoan, đã tiên phong đầu tư vào lĩnh vực tái tạo từ hơn 20 năm nay !

Pháp : Cường quốc hạt nhân dần chuyển sang năng lượng xanh

Để có một ý niệm về tầm quan trọng của lĩnh vực nghiên cứu hạt nhân, tôi xin phép vắn tắt giới thiệu Trung tâm hạt nhân của Pháp nêu trên : CEA (Commisariat à l'Energie Atomique et aux Energies Alternatives). Hai chữ Energies Alternatives (các năng lượng mới) mới thêm vào cách đây vài năm, chứng tỏ sự chuyển hướng của Pháp trong lĩnh vực năng lượng. CEA, nỗi tiếng trên thế giới, có cả thảy 5 cơ sở dân sự (Saclay, Fontenay- aux- Roses, Grenoble, Marcoule và Cadarache) và 5 cơ sở quân sự. Với một ngân sách lên đến 4,7 tỷ euros và 16.000 nhân viên có trình độ rất cao, phục vụ ở 53 đơn vị, CEA hợp tác chặt chẽ với 500 xí nghiệp.

Riêng về CEA Grenoble, trước kia gọi là CENG (Centre d'Etudes Nucléaires Grenoble), được GS Louis Néel, Nobel Vật lý, thành lập năm 1956, tôi được biết rõ hơn cả vì đã tu nghiệp hạt nhân ở nơi đây.

CENG có cả thảy 12 phòng thí nghiệm, dành cho nghiên cứu vật lý cơ bản, vật lý chất rắn, nhiễu xạ nơtron, nhiệt độ thấp, cộng hưởng từ, máy gia tốc. Các phòng thí nghiệm khác đảm trách vật lý hạt nhân, truyền nhiệt, đặc tính hóa học của chất rắn và luyện kim, đặc tính hóa học dưới bức xạ, ứng dụng chất phóng xạ và điện tử. Cộng với 3 lò hạt nhân : Mélusine, Siloé, Siloette, CENG đã đào tạo hàng ngàn kỹ sư cho EDF.

Từ 2002 đến 2012, CEA Grenoble đã phá gỡ 3 lò nêu trên. Vì thế hiện nay, CEA Grenoble hoàn toàn phi hạt nhân và 4 hướng nghiên cứu chính là công nghệ micro-nano, năng lượng mới, công nghệ sinh học và nghiên cứu cơ bản.

Quá trình diễn biến khoa học và kỹ thuật của CENG cho phép tôi nói rằng : Việt Nam đi lùi hơn nửa thế kỉ mà không biết !

Vì cớ gì, người ta đi tới, mình đi lùi, người ta đi ra, mình đi vào ?

Lúc bắt đầu chương trình ĐHN, Pháp đã có một nền tảng công nghiệp cơ điện vững chắc, ngoài EDF và CEA. Lực lượng nguyên tử của họ ngày nay có thêm Areva, một xí nghiệp hùng mạnh, bao sân toàn bộ chu kỳ hạt nhân, từ mỏ uranium đến khâu xử lý chất thải phóng xạ. Nên biết rằng từ 1957 đến 2010, Pháp đã đầu tư cả thảy khoảng 300 tỷ đô la vào lĩnh vực hạt nhân dân sự.

Liệu ta có đủ nhân lực và tài chính để ồ ạt xung phong vào một công nghiệp đang xuống dốc mạnh không ?

Dù sao, theo tôi, xây dựng Trung tâm hạt nhân Đà Lạt bây giờ thì cũng quá muộn rồi, so với lịch trình của một chương trình ĐHN quá tham vọng của ta, sang năm đã khởi công.

Dù sao, theo tôi, xây dựng Trung tâm hạt nhân Đà Lạt bây giờ thì cũng quá muộn rồi, so với lịch trình của một chương trình ĐHN quá tham vọng của ta, sang năm đã khởi công.

Nếu nâng cao hiệu suất sử dụng điện, không cần ĐHN
Giáo sư Phạm Duy Hiển : Hiện nay có một mâu thuẫn như thế này : Chúng ta nói là Việt Nam thiếu điện. Tất nhiên hai năm nay, thì đỡ hơn rất nhiều, vì có một số tổ máy vào, không đến nỗi bị cúp điện như cách đây 3, 4 năm. Nhưng mà tôi vẫn giữ một quan điểm là Việt Nam rất lãng phí điện. Chúng tôi có những công trình nghiên cứu nói rõ những cái đó. Việt Nam lãng phí vào loại nhất thế giới. Nói ra điều này ít ai tin được, bởi vì một nước nghèo như Việt Nam, làm sao lại lãng phí đến mức như vậy ?!

Nhưng mà hãy hỏi các nhà nghiên cứu có tìm hiểu kỹ về vấn đề này, thì so sánh theo những tiêu chí nhất định, thì đúng như vậy. Hệ số đàn hồi của Việt Nam là luôn luôn lớn hơn 2, mà các nước xung quanh chỉ hơn 1. Như vậy đề làm được một đô la hay một euro, chúng ta phải tiêu thụ lượng điện gấp đôi các nước xung quanh. 5% tăng trưởng GDP hàng năm, thì tiêu thụ điện tăng tới 12%. Như thế hệ số đàn hồi lớn hơn 2. Hiện nay chưa giải được bài toán đó. Thực ra những người có thẩm quyền cũng biết việc này và cũng đặt kế hoạch đến 2020, làm sao Hệ số đàn hồi chỉ còn 1 thôi.

Cho nên quyết sách rất quan trọng. Nếu giải quyết được vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng điện… Cứ làm đúng như các nước xung quanh, thì mức tiêu thụ năm 2020 không phải là con số dự kiến như khi đưa ra Quốc hội, lúc đề nghị duyệt chương trình ĐHN. Nếu Việt Nam đề cao hơn nữa hiệu quả sử dụng điện năng, thì theo tôi chưa cần phải làm ĐHN. Cứ đẩy lùi chương trình này lại.

Cái này chứng minh không khó và không phải ít người thấy. Nhưng mà tại sao không thể làm được ? Thì thực ra tôi thấy cũng rất là khó hiểu ?!

Dân các nước dân chủ thường phản đối cơ sở hạt nhân gần dân cư

RFI : Hiện nay tỉnh Lâm Đồng không đồng ý về việc xây cất Trung tâm ở Đà Lạt, do sợ hạt nhân và có đề nghị nên tìm một địa điểm khác cách xa Đà Lạt 30 km. Xin Giáo sư cho biết suy nghĩ của Giáo sư về vấn đề này ? 

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Tỉnh Lâm Đồng không đồng ý thì cũng có lý, tuy mức độ nguy hiểm của Trung tâm thấp hơn nhiều so với lò ĐHN.

Muốn so sánh, lấy ví dụ lò nghiên cứu Triga Đà Lạt 250 kW nhiệt của Mỹ viện trợ năm 1963. Sau đó vào năm 1984, hợp tác với Nga, công suất nhiệt đã được nâng lên 500 kW. Công suất điện lò Ninh Thuận là 1000 MW, tức gần 3000 MW nhiệt !

Rủi ro về ô nhiễm phóng xạ phần lớn là do sự cẩu thả hay sai lầm của nhân viên khai thác. Còn lạ gì về những nhược điểm của ta : Thiếu tác phong công nghiệp, tác phong xã hội, văn hóa an toàn. Thảm họa Tchernobyl hay Fukushima là do ở con người chứ không phải ở thiết bị.

Ngày nay ở các nước dân chủ, nhất là ở Âu Châu, phần đông các thành phố, làng, xã nhỏ hay lớn đều tìm mọi cách để từ chối việc cấp đất để xây cất nhà máy Điện hay cơ sở hạt nhân, dù có mua chuộc họ với tiền bạc đi nữa.

Cũng vì lẽ ấy mà các công ty điện lực như EDF, đề nghị kéo dài thời gian vận hành các lò từ 30 đến 40, 50 hay 60 năm ! Theo tôi, gia hạn như thế rất tốn kém và nguy hiểm.

Sở dĩ ngày xưa, các phòng thí nghiệm hạt nhân được xây dựng ở trung tâm thành phố, phần lớn cũng vì các chuyên gia thiếu kinh nghiệm và coi thường mức độ nguy hiểm của phóng xạ. Dân chúng thì không có thông tin chính xác để chống đối mạnh như ngày nay.

Ngay ở CENG tại thành phố Grenoble, ngày 7-11-1967, một thanh nhiên liệu đă bị nóng chảy ở lò nghiên cứu Siloé làm thoát ra 55.000 curies trong hồ nước và 2.000 curies trên khí quyển. Cũng ở Grenoble, tại lò RHF (Réacteur à Haut Flux) của Viện Laue-Langevin, ngày 19-7-1974, 2500 curies Antimoine 124 bị rò rỉ trong hồ nước, gây ô nhiễm ở lớp nước giếng.

Trưng cầu dân ý về ĐHN Việt Nam

RFI : Giáo sư có thêm ý kiến gì vấn đề này ?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Theo tôi, cần phải có cuộc trưng cầu dân ý về chương trình ĐHN của Việt Nam. Như thế mới là dân chủ !

Timothy Mitchell, Giáo sư Đại học Columbia (New York), trong cuốn sách « Carbon Democracy » (Năng lượng và nền Dân chủ) vừa xuất bản, đã chứng minh sự liên hệ mật thiết giữa dân chủ và năng lượng. Qua các thế kỉ 18, 19 và 20, ta thấy các tập đoàn, xí nghiệp, lobby, giàu mạnh trên thế giới, đã lợi dụng đồng tiền, uy tín và quyền lực của họ, gây áp lực và ảnh hưởng lớn trong cơ cấu chính quyền, các tổ chức xã hội, nghiệp đoàn, để khai thác và phát triển công nghiệp than, dầu, khí, rồi ĐHN.

Sau thảm họa Fukushima, họ thừa biết rằng thời kỳ oanh liệt của hạt nhân đã qua rồi (60 năm tròn, như chu kỳ dài hạn của nhà kinh tế Nga Kondratieff), nên đã mạnh dạn chuyển hướng đầu tư sang Năng lượng tái tạo.

Những nước không muốn trưng cầu dân ý, che đậy thông tin chính xác về ĐHN, sẽ làm mất giá trị và ý nghĩa của hai chữ dân chủ. Ở Pháp, nhờ sự tranh đấu vững mạnh của các tổ chức phi chính phủ (ONG), giai đoạn xấu xí này đã chấm dứt từ lâu.

Bài học đi trước thời đại của nước Áo

Nước Áo đã cho thế giới một bài học dân chủ có một không hai trong lĩnh vưc ĐHN, mà ít người biết đến. Từ 1972 đến 1977, nước này xây cất xong nhà máy ĐHN Zwentendorf (lò nước sôi BWR 730 MW), cách thủ đô Vienne 60 km, cạnh bờ sông Danube. Ngay sau đó, trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1978 (tức trước sự cố Three Miles Island ở Mỹ năm 1979), số phiếu chống ĐHN thắng với tỷ số eo hẹp 50,5% ! Tuy vậy, chính phủ vẫn ra lệnh tuyệt đối cấm không cho nhà máy này vận hành ! Nó đã trở thành một Viện bảo tàng và cũng là một địa điểm đang sản xuất điện mặt trời ! Đáng phục hơn nữa là năm 1999, luật ghi rõ trong hiến pháp - Nước Áo không hạt nhân - được quốc hội đồng thanh biểu quyết.

Sau thảm họa Fukushima, tỷ lệ số dân Áo chống ĐHN vọt lên 80% và người cầm đầu nước này, Werner Faymann, đã long trọng đề nghị Cộng đồng Âu Châu nên từ bỏ ĐHN và đầu tư mạnh vào Năng lượng tái tạo.

Theo tôi, chỉ có Năng lượng tái tạo (không tốn tiền nhiên liệu, đừng bao giờ quên !) mới đem lại độc lập, hòa bình và dân chủ cho thế giới.

Mỗi lò hạt nhân sẽ làm ta kẹt ít nhất 50 năm để khai thác và 50 năm để tháo gỡ. Đó là chưa kể phải tiếp tục quản lý chất thải phóng xạ suốt hàng trăm thế kỉ liên tiếp!

Nếu một tai nạn lớn như thảm họa Tchernobyl hay Fukushima, xẩy ra trong số 14 lò, sẽ được xây cất ở các tỉnh Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Hà Tĩnh, thì lãnh thổ ta sẽ lâm nguy và bị cắt làm đôi, do phóng xạ bao trùm cả miền Trung. Dân chúng sẽ di tản ở đâu ? Chất thải phóng xạ giết đồng bào ngàn năm vẫn còn đó.

Ta đừng vội quên Fukushima. Chất độc phóng xạ tiếp tục tung hoành cả khu vực rộng lớn xấu số này. Hiện nay, Tepco đang gặp cơn khủng hoảng hết sức trầm trọng. Mỗi ngày Tepco tiếp tục đổ ra Thái Bình dương trên 300 tấn nước bị ô nhiễm ! Chính phủ Nhật đang hoang mang, vì những thùng chứa 200.000 tấn nước nhiễm phóng xạ đe dọa bị nứt. Vừa qua, 300 tấn nước rất độc hại đã thoát khỏi một thùng nước bị hỏng. Sự cố đã được nâng lên cấp số 3 trên thang INES (International Nuclear Event Scale). Tepco cũng như Rosatom của Nga đã nhiều lần bị chỉ trích về sự thiếu nghiêm túc và nói láo, ta cứ tin tưởng ở hai chữ an toàn của họ thì có ngày sẽ thất vọng và hối tiếc.

Nước Áo vô cùng sáng suốt đã hỏi ý kiến dân trước khi xẩy ra 3 biến cố khủng khiếp nhất : Three Miles Island, Tchernobyl và Fukushima.

Vì vận mệnh thiêng liêng của tổ quốc và sự sống còn của đồng bào, một lần nữa, tôi thiết tha đề nghị Chính phủ Việt Nam tổ chức gấp một cuộc trưng cầu dân ý, trước khi khởi công. Nếu không, những ai lấy quyết định hôm nay, ngày mai đâu còn đó mà chịu trách nhiệm với non sông ? ».

An toàn là đòi hỏi số một

Trở lại với chủ trương xây dựng một trung tâm hạt nhân tại Đà Lạt. Ngoài các mục tiêu nghiên cứu cơ bản và sản xuất các đồng vị phóng xạ phục vụ cho y tế và một số ngành kinh tế, dự án Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân Đà Lạt nằm trong chương trình đào tạo nhân lực cho kế hoạch phát triển ĐHN tại Việt Nam, trước mắt với việc xây dựng hai nhà máy hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận, với công nghệ và tín dụng của Nga và Nhật Bản, dự kiến sẽ bắt đầu cung cấp điện từ năm 2020. Việc khởi sự một trung tâm đào tạo nhân lực hạt nhân vào thời điểm sắp khởi công xây dựng nhà máy hạt nhân đầu tiên (năm 2014) cho thấy Việt Nam đang lúng túng trong chủ trương phát triển năng lượng hạt nhân, mà việc đào tạo vốn có những đòi hỏi rất cao. Một số nhà quản lý và chuyên gia trong nước cảnh báo, một mặt, Việt Nam chưa xây dựng xong chương trình đào tạo ở bậc đại học cho các ngành nghề trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử - với ước tính cần khoảng hơn 4.000 kỹ sư, chuyên viên… từ sau năm 2020 -, mặt khác, các ngành học này khó thu hút được sinh viên, đặc biệt các sinh viên có năng lực khá, giỏi. 

Bên cạnh những ý kiến phê phán triệt để chủ trương phát triển ĐHN như của Giáo sự Nguyễn Khắc Nhân trong phần trình bày phía trên, tại Việt Nam, sau khi chương trình hạt nhân chính thức được thông qua, một số chuyên gia trước có quan điểm phản đối, nay chấp nhận chủ trương chính thức của Nhà nước, nhưng tiếp tục bảo vệ quan điểm : Để ĐHN không trở thành một tai họa, điều tiên quyết số một là phải đào tạo được một đội ngũ nhân lực đủ để tham gia xây dựng, vận hành và bảo đảm an toàn các nhà máy trong tương lai.
Chúng tôi xin giới thiệu với quý vị tiếng nói của Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện phó Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, hiện là chủ tịch hội đồng khoa học cục Kiểm soát và an toàn bức xạ, hạt nhân Việt Nam.

Phỏng vấn với Giáo sư Phạm Duy Hiển
(11:49)
 

Giáo sư Phạm Duy Hiển : « Sau tai nạn Fukushima, thì trên thế giới có tổng kết lại là tại sao nó xẩy ra. Thì người ta rút ra mấy cái kết luận như thế này : Cái an toàn của ĐHN nó không phải là tự trong máy móc thiết bị đã được cài sẵn, mà vấn đề là cái an toàn đó nó được thể hiện qua đội ngũ về chuyên môn cũng như về quản lý. Do đó cho nên, Việt Nam muốn làm ĐHN, thì như chúng tôi đã nói rất nhiều lần là cái công tác đào tạo con người là việc hết sức quan trọng. Mà tôi nghĩ rằng Nhà nước cũng đã quan tâm đến chuyện đó. Do đó cho nên, việc xây dựng cái trung tâm nghiên cứu hạt nhân, với Trung tâm nghiên cứu hạt nhân cái lò phản ứng công suất hơn 10 MW là nằm trong chủ trương ấy.

Hiện nay, Nhà nước, Quốc hội rất muốn là có ĐHN sau 2020, nhưng mà trên thực tế tiến độ đó là khó thực hiện được, bởi vì ngay đến bây giờ phía Việt Nam vẫn chưa nhận được những tài liệu thiết kế cần thiết, thậm chí những tài liệu kỹ thuật, luận chứng của các đối tác cũng chưa có. Là bởi vì, như tôi nói nhiều năm trước, việc làm ĐHN không đơn giản như thế, như khi ta quyết định xây dựng một nhà máy đóng giày… Đặc biệt sau vụ Fukushima, mọi người đều thấy rằng an toàn ĐHN là vấn đề rất lớn.

Nhân lực có trình độ cao không chỉ trong kỹ thuật mà cả trong quản lý 

GS Phạm Duy Hiển : Cho nên không thể làm mà đốt cháy giai đoạn được. Thực chất vấn đề này chúng tôi đã dự đoán trước từ nhiều năm, thậm chí từ cách đây 10 năm. Thế và cũng căn cứ vào tình hình chung ở rất nhiều nước trên thế giới, nói chung trong thời gian những năm gần đây, có lẽ loại trừ Trung Quốc là một nước có lẽ cũng đặc biệt, còn tất cả các nước khác làm ĐHN đều trễ tiến độ, so với lại dự kiến ban đầu, thậm chí trễ rất nhiều. Tất cả đều là do chuyện con người bây giờ, người ta lo cho chuyện an toàn, không thể chấp nhận, không thể bỏ qua bất cứ sai sót nào. Và cái đó nó cũng đặt ra một thách thức cho Việt Nam. Là muốn làm được như vậy, thì phải có đội ngũ, phải có những người am hiểu, chứ không phải lúc nào cũng thuê nước ngoài được cả.

Thế thì trở lại vấn đề nhân lực cho Việt Nam. Nhân lực có trình độ cao không phải chỉ trong lĩnh vực học thuật, chuyên môn, kỹ thuật, mà còn cả về quản lý, lo lắng cho công tác an toàn. Và việc chỉ đạo, lãnh đạo từ phía cấp cao của Nhà nước. Chúng ta thấy, như vụ Fukushima hiện nay. Ngay vụ rò rỉ phóng xạ, Thủ tướng chính phủ phải đứng ra giải quyết.

Đội ngũ nhân lực chưa sẵn sàng thì chưa thể xây dựng và vận hành nhà máy ĐHN

GS Phạm Duy Hiển : Bây giờ gần đây nói thêm, cũng có chuyện là trong nước cũng có chính sách là tuyên truyền cho người dân biết về ĐHN. Nhưng mà các nước người ta tổng kết về tuyên truyền như thế này : Anh tuyên truyền cho ĐHN, thì anh không thể nói được là ĐHN là an toàn, vì nó không đúng nữa rồi. Khắp nơi nó xẩy ra chuyện này, chuyện khác, nhất là vụ Fukushima. Tuyên truyền (thực chất) cho ĐHN thì phải nói như thế này : ''Bà con hãy tin tưởng vào chúng tôi ! Chúng tôi sẽ cố gắng làm cho ĐHN an toàn đến mức có thể được''. Đấy là câu tổng kết mà tôi cho là rất có giá trị.

Như vậy có nghĩa là, thực chất mọi người phải làm thế nào để cho nó an toàn, và tuyên truyền có nghĩa là thể hiện cho đồng bào, nhân dân thấy là chúng tôi đã cố gắng hết sức để làm cho nó an toàn. Đó là tình hình của Việt Nam ta hiện nay, khi đã có quyết định là làm ĐHN, thì có lẽ cách tốt nhất là phải nói như vậy.

Mà nói như vậy có nghĩa là phải có hành động. Có hành động là mọi biện pháp để có được đội ngũ bảo đảm an toàn cho ĐHN. Tôi nói với tư cách của một người được giao nhiệm vụ làm ngành hạt nhân này từ 35 năm nay ở trong nước. Trước đây tôi không có nhất trí với việc làm sớm và làm ồ ạt ĐHN, nhưng bây giờ một khi chính phủ đã quyết, thì chúng tôi phải nói rất mạnh đến vấn đề là nhân lực của ta chưa thật sẵn sàng và phải hết sức tập trung vào đào tạo được nhân lực đó. Và chừng nào đội ngũ nhân lực đó mà chưa sẵn sàng, thì chưa có thể làm, chưa có thể cho vận hành, xây dựng nhà máy ĐHN được.

----

Trong nhiều năm, trước khi được Quốc hội thông qua, chương trình ĐHN của Việt Nam bị nhiều ý kiến phê phán dữ dội của các chuyên gia trong và ngoài nước, về mặt nguyên tắc. Sau khi đã trở thành một chủ trương chính thức tại Việt Nam vào năm 2009, chương trình phát triển ĐHN tiếp tục bị chỉ trích trong vận hành cụ thể, đặc biệt sau khi giới chuyên gia thu nhận được rất nhiều bài học đắt giá về những sai lầm của con người trong việc quản lý phóng xạ sau thảm họa Fukushima. Sự lúng túng của chính phủ trong việc thực hiện chương trình phát triển ĐHN như dự kiến là một dịp để đặt lại vấn đề : Trong bối cảnh tổng mức tiêu thụ điện toàn quốc thấp hơn nhiều so với dự kiến, liệu việc phát triển cấp tốc năng lượng hạt nhân có cần thiết ? Bên cạnh đó, nếu tổ chức được việc tiết kiệm điện thực sự hiệu quả và kiên quyết phát triển mạnh các loại năng lượng tái tạo, liệu Việt Nam có thể thu hẹp quy mô của ĐHN ?

Để có cơ sở đưa ra được những câu trả lời thỏa đáng cho những vấn đề kể trên, nhiều nhà khoa học cho rằng cần phải có những tính toán về dự báo tiêu thụ điện và phương hướng tiết kiệm điện, phát triển các năng lượng xanh mang tính minh bạch và khách quan hơn hiện nay

Các bài liên quan

Về chủ trương làm đường điện 750 kV tại Ninh Thuận

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Tôi không rõ ai đề xướng điện áp 750 kV (con số tiêu chuẩn là 765 kV). Thật hết sức vô lý !

Trên lý thuyết, khi đường dây dài quá 700 km hay 800 km, dùng điện siêu áp (ultra haute tension) 750 kV hay điện một chiều (courant continu) cao thế là phải.

Đường dây Bắc Nam của ta dài gần 1.500 km, xây dựng vào năm 1992, dùng điện xoay chiều 500 kV. Sở dĩ không dùng điện một chiều là vì dọc đường phải cung cấp điện cho nhiều thành phố, qua các trạm biến thế. Lúc bấy giờ ta không dùng 750 kV vì điện áp cao nhất của lưới điện quốc gia là 220 kV. Từ con số này vọt ngay lên 750 kV thì rất bất tiện cho việc khai thác. 

Từ các nhà máy điện hạt nhân ở miền Trung truyền tải đến lưới điện quốc gia (220 kV hay 500 kV) khoảng cách chẳng là bao, đâu cần phải dùng siêu điện áp 750 kV làm gì, tốn kém vô ích.

Không phải muốn tăng mức điện áp lúc nào cũng được ! Nhiều người tưởng lầm rằng điện áp hay điện thế (U) tăng cùng tỷ lệ với công suất điện (P), vì thế khi có nhiều nhà máy điện với công suất lớn, thì phải tăng mức điện thế theo ngay. Nhưng trên thực tế, điện thế U tỷ lệ với √ P chứ không phải với P, tức là mức tăng điện áp chậm hơn rất nhiều so với mức tăng công suất.

Nga đã sử dụng điện áp 750 kV từ lâu vì đất rộng và nhu cầu điện mênh mông. Hay có chuyên gia ngoại quốc nào đây quảng cáo láo để bán trang thiết bị cho ta ?

Điều này cũng dễ hiểu thôi vì thị trường hạt nhân đang xuống dốc mạnh. Nhiều nước, đã lỡ đặt lò, sau Fukushima, rút lui có trật tự. Chương trình khuếch trương điện lực của Nhật cũng có dự kiến sẽ xây cất thêm 14 lò trước thảm họa. Tội gì mà không bán hàng tồn kho cho Việt Nam ?

Lúc xưa, tôi phải tranh đấu mạnh với công ty Nippon Koei nên họ mới chịu trang bị đường dây Danhim Sàigòn dài 257 km, với điện áp 220 kV thay vì 154 kV. Lý do là họ không làm đúng kỹ thuật và tôi cũng nghĩ rằng họ muốn bán thiết bị tồn kho, vì điện áp 154 kV đã lỗi thời !

Đầu những năm 1970, các kỹ sư EDF vì quá lạc quan, cũng đã có sai lầm trong dự báo chiến lược như ta. Họ đã tuyên bố rằng đến năm 2000 điện áp cao nhất của lưới điện EDF là 750 kV và tổng sản lượng điện của Pháp là 1.000 TWh !

Sau cơn khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên năm 1973, nhờ kế hoạch tiết kiệm năng lượng, mức tiêu thụ đã hạ thấp nhanh. Từ nhiều năm nay, tổng sản lượng điện của Pháp vẫn giữ con số 500 TWh và điện áp cao nhất 400 kV vẫn không thay đổi.

Có kịch bản khuyến khích khai thác triệt để Năng lượng tái tạo, tiết kiệm và tăng gia hiệu quả năng lượng để hạ tổng sản lượng điện Pháp xuống 400 TWh !

Ta nên hết sức thận trọng, cần phải nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ, không nên tung ra những con số thiếu chính xác, gây ra những lỗi lầm đáng tiếc trong việc kiến thiết quốc gia.

 
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

KÍNH MỪNG NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC ĐẠI THỌ 80 TUỔI

Lời dẫn: Nhà văn Nguyên Ngọc, một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, một nhân sĩ trí thức có phẩm cách thanh cao và tình yêu bền chặt như một định mệnh với Tây Nguyên, một người bạn lớn của giới trí thức tinh hoa và của thanh niên đất Việt, năm nay tròn 80 tuổi. 

Ông là một ngọn núi quanh năm phủ mờ sương mây. Ông là một cổ thụ bốn mùa che rợp bóng mát. Cao mà không cô đơn. Nghiêm mà Từ. Xa mà Gần. Khó gặp mà khó xa. Nguyên Ngọc lừng lững tạc một chân dung đổ bóng dài trên nền văn hóa và văn học Việt Nam suốt nửa thế kỷ qua. Khi đã bảy tám mươi Xuân, Nguyên Ngọc - như một gộc cây vẫn vắt kiệt tâm trí để dâng đời những hoa thơm quả ngọt của trí tuệ, của lòng bác ái, của sự tận tâm. Đúng như câu thơ cổ: "Lão thụ trước hoa vô sửu chi"(Cổ thụ đơm hoa mà cành nào cũng đẹp). Mỗi cành ấy là các bản dịch, các bài báo, bài trả lời PV, các luận văn lớn nhỏ về văn hóa và giáo dục, các diễn văn, thư từ, các bài giảng, các bài thuyết trình...Tất cả cho thấy hoạt động phong phú và đóng góp đa diện và rất cụ thể của ông đối với nước nhà. 

Nhân dịp Mừng Đại thọ 80 tuổi của Nhà văn Nguyên Ngọc kính mến, chúng tôi thành kính gửi đến Ông lời cầu chúc dồi dào sức khỏe, sức sáng tạo. Và xin chia sẻ với bạn đọc tại đây, chùm bài viết Ông - một người mà chủ Blog này đã coi là một Biểu tượng đẹp đẽ của lòng nhân ái, khoan dung, của sự bền bỉ và tận tụy, của sự dấn thân và hiến dâng những mùa Xuân cho Đất Nước Đứng Lên.  

************************************** 
Bát tuần rồi Nguyên Ngọc ơi!
Phạm Duy Hiển

Thật nực cười khi nghĩ rằng Nguyên Ngọc phải tiếp tục cho ra những tiểu thuyết, những sử thi thời hậu chiến, thì mới xứng đáng là nhà văn lớn. Tại sao làm những việc mà Nguyên Ngọc dốc sức trong mấy năm nay lại chưa xứng tầm một nhà văn lớn? 

Gần đây rộ lên một chủ đề rất lý thú: Tại sao văn học Việt Nam chưa có tác phẩm lớn? Biết phận mình ngoại đạo, tôi chỉ háo hức theo dõi, không dám ho he. Nghĩ bụng không riêng gì văn học, tất thảy… từ khoa học tự nhiên, xã hội đến nghệ thuật, nhân văn đều thấp lè tè. Không có rừng, chỉ lau lách chen chúc với cây bụi. Trên mảnh đất không thể mọc lên cây cao, sum suê, cho dù có gieo lên những hạt giống tốt nhất. Đi tìm nguyên nhân thiếu tác phẩm văn học lớn ắt sẽ bắt gặp mảnh đất ấy.

Tình cờ một hôm bên cốc cà phê có người mách: “… Hình như bí hết cả rồi! Đến Nguyên Ngọc từng có Đất nước đứng lên được giải nhất Hội Văn nghệ ngay sau hòa bình lập lại 1954, Rừng xà nu được tuyển vào sách luyện văn cho học trò, sau đó lại có Đề dẫn khởi động phong trào đổi mới văn học, nhưng mấy năm nay không thấy tăm hơi gì nữa”.

Đây rồi! Một gợi ý chí lý, một mũi tên lạc hướng mà trúng đích. Chính Nguyên Ngọc đã trăn trở với nan đề trên và đi tìm lời giải cho hiện tượng làng nhàng, sản phẩm tất yếu của số đông được chăm sóc, hay đúng hơn, được chăn dắt chu đáo. Nhưng anh vượt lên trên cái mẫu hình văn học hiện thực phải đạo nổi tiếng của Hoàng Ngọc Hiến để tìm đến ngọn nguồn văn hóa, rộng hơn về không gian lẫn thời gian, thậm chí còn dấn thân vào một hành trình thử nghiệm đầy thách thức.

Nguyên Ngọc người Quảng Nam. Thỉnh thoảng ta vẫn thấy chất Quảng đặc sệt trong anh. Nói thỉnh thoảng, vì chất Quảng được pha trộn nhiều, bớt đậm đặc và cực đoan hơn, do anh đi nhiều, sống ở nhiều nơi, các tỉnh miền Trung và nhất là Tây Nguyên, một miền đất huyền ảo. Thích được rủ rê và cũng hay rủ rê người khác đi cho vui. Lang bạt kỳ hồ để hiểu, tận hưởng, có khi cái chết cận kề trong gang tấc mà cứ thấy nhẹ tênh, nên nét khắc khổ xứ Quảng đã phai mờ, chỉ còn lại một lãng tử Nguyên Ngọc. Lãng tử từ trẻ cho đến tận bây giờ.

Trong kháng chiến chống Pháp, Quảng Nam bị chiếm, chỉ một rẻo nhỏ phía Nam nối liền với vùng tự do kéo dài đến tận Phú Yên qua hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Ở tuổi mười lăm, Nguyên Ngọc vào học Lê Khiết, nơi thầy Hoàng Tụy dạy toán. Thầy lớn hơn anh năm tuổi. Thầy Tụy có lúc tiết lộ: Ngọc giỏi toán lắm. Nhiều lúc tôi nghĩ giá Nguyên Ngọc đi làm khoa học, chắc anh sẽ rất thành công.

Nguyên Ngọc thông tường đến kỳ lạ mọi ngõ ngách ở miền Trung và Tây Nguyên. Quảng Nam thì khỏi nói, hình như không có mét vuông đất nào thiếu dấu chân anh, tôi giễu anh khi được anh rủ đi chơi đâu đó trong xứ Quảng. Còn Quảng Ngãi, nhiều lúc tôi cứ tưởng chính anh, chứ không phải tôi, đã từng sinh ra ở đây. Đi với anh khỏi phải lo, ở đâu cũng có người quen. Anh quen từ những người bình thường (nhưng phải có một đặc điểm nào đó) đến lãnh đạo cao cấp nhất trong vùng như Tướng Nguyễn Chánh thời kháng chiến chống Pháp khi anh còn là một lính văn phòng đến ông Võ Chí Công thời chống Mỹ, sau này làm Chủ tịch nước. Mỗi người, mỗi địa danh trong bộ nhớ của anh đều có một vài dấu tích, có thể là một sự tích, chuyện vui, hoặc trải nghiệm bản thân. Lúc thích hợp, anh có thể lôi ngay nó ra khiến người nghe phải ngỡ ngàng.

Quen Nguyên Ngọc, nhiều lúc tôi chỉ ước ao sao cho dung lượng bộ nhớ của mình bằng được một phần mười của anh. Trong Lễ thổi tai và rượu cần anh lý giải tại sao anh giữ được bộ nhớ đồ sộ như vậy:

Nhớ và quên, ngẫm mà xem, phải chăng nói cho cùng đó là hai lẽ sinh tồn tuy hai mà một, hai mặt chủ yếu không thể tách rời của công cuộc làm người ở đời. Không biết nhớ thì hiển nhiên không thể là con người rồi. Song sống mà không biết quên, không có những lúc biết quên đi đến mức “nẻ cả lỗ tai” thì cũng chẳng thể nào sống nổi trên cõi nhân gian biết mấy khổ đau, quá phức tạp và nhiêu khê này. Cuộc đời này, phải chăng lắm lúc cũng đáng quên biết bao nhiêu, quên phứt đi cho rảnh, cho rồi, mà ngẫm cho cùng cũng lại đáng sống để mà nhớ lấy biết bao nhiêu…

Bắt chước anh khó quá! Hồi nhỏ mình không được mẹ làm lễ thổi tai nên trí nhớ kém, lớn lên lại không biết uống rượu cần nên chuyện gì không nhớ được là quên luôn. Riêng có mấy lời các cụ xứ Quảng răn con cháu thì tuy khó mà vẫn nhớ được, nhớ để thỉnh thoảng còn “điểm huyệt” Nguyên Ngọc:

Bất giao Thừa Thiên hữu,
Bất thú Quảng Nghĩa thê,
Bất thương Bắc Hà khách,
Bất đấu Bình Định kê.


Tôi hay đùa với Nguyên Ngọc: Sao cả hai thầy trò anh không nghe lời bề trên? Thầy Tụy dạy ở trường Lê Khiết lại phải lòng một nữ sinh con nhà danh gia vọng tộc xứ Quảng Ngãi. Còn anh, sau khi tung tăng khắp bốn phương trời lại hạ cánh xuống Bình Định, miền đất nổi tiếng các nữ hổ, sao anh không ngán? Nguyên Ngọc cười “hai người ế gặp nhau mà!”. Thế mà vào tuổi bát tuần chị Tâm lại khen anh … còn hiếu động lắm!

Phải chăng Quảng Nam hay cãi là thế. Mà chính tính cách đó đã làm nên cái địa danh văn hóa hàng đầu này của đất nước với những ngôi sao vằng vặc trên bầu trời cũng chính là những con người Quảng Nam nhất, như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi v.v… Thời nay trong số những ngôi sao ấy không thể thiếu Hoàng Tụy và Nguyên Ngọc. Nhưng anh Nguyễn Văn Hạnh, bạn học của Nguyên Ngọc thời niên thiếu, bạn nghiên cứu sinh của tôi hồi ở Đại học Moscow, lại quả quyết rằng Quảng Nam thời nay không chỉ có hai người này đâu nhé. Ở cực bên kia, cùng phe ta cả, có mấy vị A, B, C chẳng kém cạnh chút nào. Tôi chẳng quen biết mấy vị nên không thể bình luận gì. Nghĩ bụng, chắc họ cũng cãi dữ lắm, họ cãi lại những gì không hợp với chính thống.

Đi tìm ngọn nguồn văn hóa cho những nan đề của đất nước, Nguyên Ngọc đến với người đồng hương Phan Châu Trinh. Là nhà văn, anh nghiên cứu Phan Châu Trinh với hơi thở và nhịp đập hòa vào nhân vật. Nhưng anh không biến Phan Châu Trinh thành nhân vật tiểu thuyết mà quyết liệt trong cách tiếp cận khoa học, từ việc lôi ra cho được những bằng chứng lịch sử không thể chối cãi mà lâu nay còn ẩn mình trong các thư tịch hiếm hoi, đến việc xem xét tác động của trào lưu duy tân trên toàn thế giới đến phong trào Duy Tân ở nước ta, để cuối cùng chứng minh con đường này có giá trị phổ quát.

Tôi không đủ hiểu biết và điều kiện để xem các sử gia từng nghiên cứu Phan Châu Trinh đã nói gì. Nhưng tôi có cách tiếp cận khác, xem học sinh được học những gì về Phan Châu Trinh, qua đó biết được một cách cô đặc và chính xác nhất cách hiểu và đánh giá Phan Châu Trinh trong giới chính thống. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 dày 154 trang có năm trang dành cho bài số 23: “Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Chiến tranh Thế giới Thứ nhất”, trong đó có đề mục thứ hai dài một trang “Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách”. Bài được mở đầu thế này:

“Ông là người sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, chủ trương cứu nước bằng biện pháp cải cách như nâng cao dân trí, dân quyền, dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, xem đó như là điều kiện tiên quyết để giành độc lập” (chữ nghiêng của tôi).

Chưa hết. Các nhà soạn sách còn cố ý chừa lại một điểm nhấn dành cho học sinh tự suy ngẫm trong mục gợi ý ở cuối bài: “Hãy nêu những sự kiện chứng minh Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản…”.

Chao ôi, người ta sợ cái món dân chủ tư sản quá, rồi đem bóng ma ấy ra hù học trò! Họ gói phong trào Duy Tân cùng với khẩu hiệu khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh nổi tiếng của cụ Phan lại thành một cục, đóng lên đó cái triện “dân chủ tư sản” và “dựa vào Pháp” để cho người đời quên đi một trào lưu nổi bật trong lịch sử. Rất dễ hiểu vì sao Nguyên Ngọc và các đồng nghiệp phải dày công “lật lại” hồ sơ Phan Châu Trinh, cố gắng đặt phong trào này lại đúng chỗ trong dòng chảy lịch sử cận đại.

Tôi không dám đả động đến chuyện đúng sai của các nhân vật lịch sử. Phan Châu Trinh không đi đến đích là đương nhiên, nhưng như vậy không hề có nghĩa ông không đúng, hoặc chỉ là một khúc nối nhỏ để tránh cho lịch sử khỏi bị đứt quãng. Phong trào Duy Tân ở Nhật do Fukuzawa, Ikuchi,.. khởi xướng đã thành công nhờ có sự đốc thúc mạnh mẽ của chính Minh Trị Thiên hoàng và được tầng lớp tư sản đang lên samurai dốc lòng ủng hộ. Một nước không mấy tiếng tăm cạnh ta như Thái Lan cũng thành công ít nhiều trong canh tân hồi đầu thế kỷ trước là nhờ có một Bộ trưởng là nhà văn hóa lớn nằm ngay trong Chính phủ Hoàng gia. Ngược lại, ở Việt Nam một phong trào vận động quần chúng canh tân như thế làm sao khỏi bị chính quyền thực dân thẳng tay bóp chết khi còn trong trứng nước.

Điều trớ trêu là sau hơn một thế kỷ, có chính quyền trong tay, với điều kiện tốt nhất chưa từng có trong lịch sử để khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, chúng ta lại không làm quyết liệt. Nếu nhận thức đúng, và làm theo triệt để, mọi việc đã có thể khác. Tiêu cực xã hội tràn lan, lên đến tột đỉnh, đang đe dọa tương lai đất nước là điều rất dễ hiểu.

Tiếp thu tinh thần Duy Tân, Nguyên Ngọc bỏ ra nhiều công sức để dịch thuật, từ J. P. Satre, M. Kundera, F. Julien và nhiều tác giả khác chuyên sâu về văn hóa Tây Nguyên. Anh đi đầu, giương cao ngọn cờ Tân văn trong văn học nghệ thuật, lá cờ đã đưa Nhật Bản đến thành công. Anh vật lộn với các tác phẩm kinh điển để tự học và cho đồng nghiệp cùng học bởi nỗi trăn trở không nguôi đối với lớp nhà văn trẻ không có ngoại ngữ và thiếu kiến thức nền về văn hóa.

Thời nào cũng vậy, mà nhất là thời đại hội nhập toàn cầu hiện nay, cứ hài lòng quanh quẩn trong sân nhà, rồi tán dương tâng bốc nhau, làm sao ra được tác phẩm lớn. Muốn biết tác phẩm lớn nhỏ phải đem chúng đặt lên hệ quy chiếu toàn cầu, phải chấp nhận phương pháp luận và chuẩn mực phổ quát trên thế giới. Văn học, dù viết bằng tiếng Việt, chắc không tránh khỏi quy luật này. Hãy bỏ cái thói kiêu ngạo vô lối “ta có con đường của ta”. Hãy đừng sợ diễn biến hòa bình mà không chịu xông lên các sân chơi quốc tế, con đường độc đạo đưa chúng ta lên đỉnh cao. Hãy xem Olympic 2012, xem cả cái cách mà khắp nơi người ta tôn vinh các vận động viên hàng đầu thế giới như thế nào. Đơn giản là thế, song không phải ai cũng chịu nhận ra và dấn thân như Nguyên Ngọc.

Thật nực cười khi nghĩ rằng Nguyên Ngọc phải tiếp tục cho ra những tiểu thuyết, những sử thi thời hậu chiến, thì mới xứng đáng là nhà văn lớn. Tại sao làm những việc mà Nguyên Ngọc dốc sức trong mấy năm nay lại chưa xứng tầm một nhà văn lớn? Không chỉ trong văn học, trong khoa học cũng có chuyện buồn cười tương tự. Nhiều người không dám bứt phá, bị quá khứ huyễn hoặc, rồi chịu chết “lâm sàng” trong cái chuyên ngành chật hẹp của mình. Trong khi khoa học, cả tự nhiên lẫn xã hội, nhân văn, từ lâu đã là đa ngành.

Mà Nguyên Ngọc vẫn viết truyện ngắn đấy chứ, và những tác phẩm hay nhất của anh vẫn là về Tây Nguyên. Vẫn giọng văn đó, không lẫn với ai, nhưng truyện Tây Nguyên của anh bây giờ, theo tôi, còn hay hơn ngày trước nhiều. Trước đây anh là một tráng sĩ – nhà văn, bây giờ anh viết văn trên tư thế một nhà văn hóa được trang bị đầy đủ kiến thức Đông - Tây kim cổ.

Rừng xà nu là một bản anh hùng ca, có chỗ đứng khá trang trọng trong sách Ngữ văn lớp 12, song với tôi, nó không hấp dẫn bằng mấy truyện ngắn anh viết gần đây về rừng Tây Nguyên như Tượng gỗ rừng già, Người hát rong giữa rừng, Lễ thổi tai và rượu cần... Rừng xà nu không thoát khỏi dòng văn học “minh họa”, do đó buộc phải bằng những tình huống cực đoan nhất, khốc liệt nhất trong chiến tranh để minh họa chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Ngược lại, mấy truyện ngắn gần đây của Nguyên Ngọc về rừng Tây Nguyên là chuyện đời thường, rất “thường” là khác, nhưng lại rất kỳ lạ, đọc chúng cứ thấy ngỡ ngàng như người bị lóa mắt khi bước từ bóng tối ra ánh sáng. Nhân vật Tnú trong Rừng xà nu thật anh dũng, anh bóp cổ thằng Dục bằng bàn tay rụi hết cả ngón do chính tên ác ôn này đốt khi tra tấn anh và giết chết vợ anh trước đó. Nhưng hành động này không lạ bằng anh chàng cục mịch được linh ứng đi vào rừng già tìm khúc gỗ đẽo tượng trong dịp cất nhà rông của làng. Lạ hơn nữa, anh chàng này nhìn Nguyên Ngọc một cách đầy ác cảm và tức tối khi nhà văn từng có những tác phẩm để đời về Tây Nguyên lại lẩm cẩm hỏi mua anh một chiếc tượng gỗ đem về bày lên bàn làm việc. Nó chạm đến chỗ linh thiêng nhất của người Gia Rai: Rừng.

Rừng ở Tây Nguyên đầy hoang dại, bí ẩn, linh thiêng, là nơi con người trực tiếp với thần linh và được thần linh che chở. Không phải cồng chiêng, lễ hội… mà chính rừng mới là cội nguồn văn hóa ở miền đất này, Nguyên Ngọc thật tuyệt vời khi nhắc nhở chúng ta điều này. Phá rừng Tây Nguyên, đẩy người dân tộc ra khỏi rừng, là tội phạm.

Ở tuổi bát tuần Nguyên Ngọc vẫn đi. Tôi luôn nhìn chừng anh đang đi ở tốp trước và theo sau. Xa hơn một chút về phía trước còn có thầy Hoàng Tụy. Khoảng cách đến hai người đo theo chiều kích thời gian là 5 và 10 năm. Đi cho đến bao giờ hở anh? Anh cười đầy tự tin: “Đi mãi…, để còn thấy con tạo xoay vần đến đâu”. Nhưng mà đã bát tuần rồi, anh Ngọc ơi! 

Nguồn: Tia Sáng. 

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 23 tháng 6, 2011

LẠI MỘT BỨC THƯ NGỎ, NHƯNG LẦN NÀY GỬI RA NƯƠC NGOÀI

Giáo sư Phạm Duy Hiển biểu tình chống Trung Quốc trước ĐSQ TQ
Nhân 100 ngày Fukushima và 100 năm khoa học hạt nhân, GS chuyên ngành hạt nhân Phạm Duy Hiển đã có thư ngỏ gửi Thủ tướng Naoto Kan, dưới đây là toàn văn bức thư:

Thư ngỏ của GS Phạm Duy Hiển gửi Thủ tướng Naoto Kan


Kính thưa Ngài Thủ tướng Naoto Kan,

Tròn 100 năm trước, lần đầu tiên con người đã nhìn thấy những cấu trúc rất bé nằm sâu trong lòng vật chất gọi là hạt nhân nguyên tử. Ba mươi năm sau đó, một cơ cấu lò phản ứng ra đời chứng minh nguồn năng lượng vĩ đại trong cấu trúc ấy có thể khai thác và chế ngự được. Nhưng chưa đầy bốn năm sau, có trong tay thành quả lao động của hàng trăm nhà khoa học quy tụ quanh dự án Manhattan, quân đội Mỹ đã mang hai quả bom nguyên tử dội xuống Hiroshima và Nagasaki, chẳng phải để buộc nước Nhật của Ngài nhanh chóng đầu hàng, mà cốt phô trương sức hủy diệt bằng nguyên tử trong thời hậu chiến. Những nhà khoa học tài ba thai nghén ra hai quả bom ấy đã bất lực không ngăn được nhà cầm quyền gây ra thảm họa trên đất Nhật.

Cũng chính từ đó, người dân khắp nơi mới biết đến hạt nhân nguyên tử và đồng nghĩa nó với bom nguyên tử gây tang thương bất hạnh cho con người. Thật là oan!
.
Đài tưởng niệm Hòa bình Hiroshima được giữ nguyên trạng để nhắc nhở loài người về sức mạnh hủy diệt của bom nguyên tử.
Đài tưởng niệm Hòa bình Hiroshima được giữ nguyên trạng để nhắc nhở loài người về sức mạnh hủy diệt của bom nguyên tử. Ảnh: IE

Điện hạt nhân (ĐHN) xuất hiện vào thập kỷ năm mươi sau chiến tranh đã giải tỏa nổi oan này. Một không khí lạc quan dâng trào khiến rất ít ai trong giới khoa học lúc ấy (trong đó có người viết lá thư này) nghĩ rằng một ngày nào đó ĐHN lại sẽ mang bất hạnh đến cho con người. Song chính thói chủ quan và tự tin quá độ ấy đã dẫn đến tai nạn ở Three Mile Island, và nhất là ở Tchernobyl. Chưa lên đến cao trào, ĐHN đã phải thoái trào. Suốt hơn ba thập kỷ, nước Mỹ không xây thêm một nhà máy nào.

Trong bối cảnh ấy tôi hết sức khâm phục người Nhật. Dù đã chịu tang thương từ hai quả bom nguyên tử, lại bị vành đai địa chấn bám sát bờ biển phía đông, đa số người Nhật vẫn chấp nhận rủi ro để có ĐHN bảo đảm an ninh cho cỗ xe kinh tế nước mình. Một chương trình khoa học công nghệ ĐHN đồ sộ và tốn kém nhất được triển khai trong nhiều thập kỷ. Tôi nghĩ rằng người Nhật chấp nhận ĐHN không phải vì tin mọi thứ đều hoàn hảo như các tập đoàn năng lượng thường huênh hoang. Trên hết, họ tin vào thực lực công nghệ tiên tiến của Nhật Bản có thể giảm thiểu tối đa rủi ro xảy ra sự cố, và nếu xảy ra, sẽ hạn chế tối đa tác hại của chúng.

Đây là niềm tin vào đội ngũ khoa học hạt nhân đầy truyền thống của Nhật, bắt đầu từ H. Yukawa và Y. Nishina, hai nhà bác học đã từng để lại những phát minh lớn về vật lý hạt nhân ngay từ trước thế chiến II. Các thế hệ tiếp theo cũng vậy, Nhật Bản luôn có đội ngũ hạt nhân hùng hậu, những viện nghiên cứu ở tuyến đầu thế giới.
.
Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I. Ảnh: IE
Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I. Ảnh: IE

Nhưng - kính thưa Thủ  tướng - một lần nữa thảm họa hạt nhân lại tìm  đến người Nhật. Một giờ sau cơn động đất và sóng thần tàn phá tan hoang vùng Đông Bắc, khi biết tin mất điện tại nhà máy Fukushima, Ngài đã thốt lên: “Đây mới thực sự là hiểm họa”. Tờ mờ sáng hôm sau Ngài bay đến tận hiện trường, chui vào boong-ke có tường bê tông cản xạ, tranh cãi với TEPCO và thúc giục họ mở van thoát khí phóng xạ ra ngoài. Những ngày sau đó, xuất hiện trước truyền hình với vẻ mặt thấm mệt bởi sức nặng đè lên vai, Ngài cúi rạp trước quốc kỳ và trước cử tọa để nhận lỗi. Có một lúc nào đó, tôi đã đọc được suy tư trên nét mặt Ngài: vì đâu ra nông nỗi này? 

Nhưng nỗi đau này  đâu phải chỉ riêng Ngài. Giờ đây, khi Fukushima tròn một trăm ngày, mọi chuyện đã sáng tỏ để rút ra bài học cho ĐHN bước tiếp khi khoa học hạt nhân đã tròn một trăm tuổi. Chế ngự năng lượng hạt nhân đã và sẽ không bao giờ là việc dễ dàng. Diễn biến ở Fukushima đã không đến mức tồi tệ nếu cả hệ thống ĐHN Nhật Bản không chìm đắm trong bản giao hưởng “mọi thứ đều hoàn hảo” do các tập đoàn năng lượng dàn dựng. Những tiếng nói chân chính đều bị xem là tiếng đàn lạc điệu. Đội ngũ khoa học tài ba của nước Nhật đã không được phát huy để ngăn chặn tai họa và xử lý các tình huống đã xảy ra. Nhà khoa học Nhật Y. Yamaguchi đã nhận xét chí lý: “động đất và sóng thần chỉ châm ngòi, chính nước Nhật mới tạo điều kiện để thảm họa xảy ra như thế”. Bài học lớn nhất rút ra từ Fukushima là con người, chứ không phải máy móc tối tân, mới chính là nhân tố quyết định bảo đảm an toàn ĐHN.

Giờ đây, khi quá  nhiều vụ việc tiêu cực, mờ ám, của những nhóm lợi ích lũng đoạn các cơ quan nhà nước được phanh phui trong nỗi tuyệt vọng mà hàng triệu con người đang nếm trải thì đại đa số người Nhật phải nói không với ĐHN. Chính vì dân mất lòng tin nên mới đây tại Pháp, Ngài đã tuyên bố đình chỉ chương trình xây hàng chục lò phản ứng mới, thay vào đó là phát triển năng lượng tái tạo. Một khi nước Nhật cam kết thúc đẩy năng lượng tái tạo, thì đây sẽ là bước ngoặt đáng mừng cho cả thế giới. Tôi chờ xem liệu đây phải chăng là chính sách nhất quán chính thức của chính phủ Nhật trong tương lai?

Kính thưa Thủ tướng,

Thảm họa Fukushima xảy ra đúng vào lúc Việt Nam vừa mới khởi động dự  án ĐHN. Dự án này đã từng nằm trong chương trình nghị sự khi Ngài công du sang Việt Nam hồi cuối năm ngoái. Dự án đồ sộ này đã được chính các tập đoàn năng lượng Nhật tham gia tư vấn và cổ vũ nó trong suốt mười năm qua. Họ cũng đã hào phóng tạo điều kiện cho nhiều người Việt Nam sang tham quan ĐHN ở Nhật để từ đó du nhập về nước bản giao hưởng mọi chuyện đều rất hoàn hảo. Nhưng đất nước chúng tôi đâu có mấy người biết công nghệ ĐHN để có thể khởi động một chương trình đồ số xây hàng chục lò phản ứng từ 2020 đến 2030?    

Cho nên tôi thiết nghĩ  nên lùi thời hạn khởi công lại khoảng mười năm để nước Nhật giúp chúng tôi đào tạo đội ngũ chuyên gia thành thạo, thúc đẩy các dự án về năng lượng tái tạo, sớm xóa bỏ tình trạng sử dụng điện năng quá lãng phí và rất kém hiệu quả như hiện nay. Việt Nam đang rất thiếu điện, nhưng những nội dung hợp tác này sẽ giúp giải quyết bài toán thiếu điện hiệu quả hơn nhiều, không nhất thiết phải vội vàng khởi công ĐHN khiến người dân phải lo âu sau khi họ đã chứng kiến những thảm cảnh ở Fukushima trong những ngày qua. 

Rất mong Ngài xem xét. 

Xin chúc sức khỏe Ngài. 

Kính thư.    

Phạm Duy Hiển - GS chuyên ngành hạt nhân
Nguồn: Bee.net.vn
.
Một số hình ảnh Giáo sư Phạm Duy Hiển tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc
ngày 12.6.2011 tại ĐSQ Trung Quốc ở Hà Nội.

 

GS. Phạm Duy Hiển và Nguyễn Xuân Diện

Chụp ảnh lưu niệm trước giờ xuất phát

 

 
 
 Ảnh: Nguyễn Xuân Diện-blog
-->đọc tiếp...