Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Viết Đào. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Viết Đào. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

TIN NÓNG: NHÀ VĂN BLOGGER PHẠM VIẾT ĐÀO BỊ BẮT KHẨN CẤP

Công an Hà Nội ra lệnh bắt khẩn ông Phạm Viết Đào 
13/06/2013 | 21:40:00

Ngày 13/6, Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội ra Lệnh khám xét khẩn cấp và Lệnh bắt khẩn cấp đối với  ông Phạm Viết Đào, sinh ngày 10/4/1952 tại Nghệ An; hiện thường trú tại số 02 hẻm 39/7/460 Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Ông Phạm Viết Đào có hành vi vi phạm pháp luật theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tội "lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân."


Quá trình thực hiện lệnh khám xét, bắt khẩn cấp, Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội thực hiện đúng quy định của pháp luật. Ông Phạm Viết Đào có thái độ chấp hành.


Các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi vi phạm của ông Phạm Viết Đào để xử lý theo quy định của pháp luật./. 

Tễu: Cũng trong tối 13.6.2013, trang Blog Phạm Viết Đào tại địa chỉ http://phamvietdao4.blogspot.com/ cũng không còn truy cập được nữa. 
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

LẤY LẠI TÊN NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA ĐỂ LẤY LẠI LÒNG DÂN

Nguyễn Thành Tâm 

 

Việc đảng cộng sản Việt Nam ,những năm ấy vì quá thân Liên Xô, quá sùng bái Liên Xô  mà đổi tên nước cho giống Liên Xô và cũng học Liên xô mà đút nội dung “đảng lãnh đạo nhà nước” vào hiến pháp. (Tên nước Liên Xô là cách gọi tắt  từ tên “Liên Bang Xã hội Chủ Nghĩa Xô Viết” và điều 6 trong hiến pháp Liên Xô là đảng cộng sản Liên Xô lãnh đạo toàn diện nhà nước). 

 

Việc đảng cộng sản Liên Xô tự tan rã và nước Nga cũng như các nước khác trong Liên Bang đã đi theo con dường dân chủ,thì đáng lẽ ta cũng học làm theo ngay sau đó để cho dân ta được nhờ, đàng này trước đây, vì học Liên Xô mà dân sắp chết đói, loạn lạc sắp nổi lên,thì các vị đảng ta lại trở về “tự chủ”, lại “sáng suốt”: “đổi mới nửa vời xóa bỏ chút chút về bao cấp” để khỏi sụp đổ như Liên Xô. Thời gian qua,nhờ độc đảng,độc trị mà có thể nói đảng đã thành công: Sau ngày thống nhất , đất nước từ chỗ cũng sàng sàng như các nước Thái Lan, Mã Lai  mà nay họ giàu  đến mức phải đến hơn bảy mươi năm nữa Việt Nam mới bằng họ bây giờ (*); nhiều đảng viên lãnh đạo từ xã phường đến trung ương giàu rất nhanh,có người còn hơn cả những nhà tư bản ở các nước tư bản giẫy chết ,còn các tầng lớp nông dân ,công nhân thì nghèo khó như thế nào ai cũng biết rồi! 

 

Vừa qua,cũng nhờ có “sự sáng suốt” của ai trên Trung ương mà sinh ra cái “sửa đổi hiến pháp”.Và rồi cũng nhờ đảng thấy cần phải độc quyền hơn nữa mà gật cho sửa .Theo kiểu đã thành nếp, đảng có toàn quyền, nên đảng sửa, thì dân phải nghe theo (dân đã có phản xạ giống như chuyện con mèo của Trạng Quỳnh mà gần đây, có người đã viết trên  Blog Phamvietđao vậy ! ) Có thể nói “đảng cần độc quyền hơn nữa” vì như ai cũng nhận ra, cái dự thảo sửa đổi vừa qua được công bố có nội dung còn phát xít  hơn cái hiến pháp cũ.  Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn ,hơn ai hết,những nhân sĩ trí thức hàng đầu của đất nước họ đã lên tiếng.Họ đã đưa ra những kiến nghị tiến bộ để giúp việc cứu dân . Cho đến nay đã có đến hơn một vạn ba trăm ngàn người không sợ dàn áp đã ký tên ủng hộ và có hàng chục vạn người với nhiều đảng viên ủng hộ nhưng ngại vì sợ trả thù không ký tên. Ngược lại sự tiến bộ, đảng đã lộ ra ý đồ quyết liệt qua phát biểu nổi khùng của Nguyễn Phú Trọng kịch liệt lên án và muốn dập tắt tất cả mọi ý kiến không theo ý đảng.Thực ra, nói là đảng, nhưng đó chỉ là một nhóm đặc quyền đặc lợi lãnh đạo, chứ hàng triệu đảng viên chẳng được gì, thậm chí còn bị bóp hầu bóp họng dã man là đằng khác. 

 

Việc cố tình tóm thâu đất nước bằng chế độ phát xít hơn nữa của một nhóm lãnh đạo trung ương qua chỉ đạo dự thảo sửa đổi hiến pháp, theo dư luận là việc làm quá lú lẫn. Với dân trí hiện nay của dân và của hàng triệu đảng viên bị phản bội họ không đề yên cho một nhóm cầm quyền muốn làm gì thì làm.Khi biển kia nổi sóng thì những chiếc   thuyền  Vinaline  đã quá cũ nát không tồn tại được đâu. 

 

Làm sao lại bày những trò hề đưa ra những tờ giấy cho dân ký “đồng ý” hay “không đồng ý” với bản sửa đổi theo đảng chỉ đạo rồi đưa cho đảng đút túi ,tổng hợp nói đó là 90 hay 99% tán thành ? Bản thân là lãnh đạo ,các vị phải thấy cái nào đúng cái nào sai đi ngược trào lưu tiến hóa mà lãnh đạo chứ ? Đàng nào thì trong tình thế  hiện nay đảng cũng lãnh đạo chứ ai vào đây mà các vị sợ mất quyền đến mức phải ra sân khấu xưng là “như ta đây” theo kiểu hề tuồng đến vậy ! Phải nói thẳng,nếu các vị có một chút sáng suốt tối thiểu , không phải quá lú thì trong tình hình của đất nước và thế giới hiện nay, các vị đã phải sửa hiến pháp đi gần đến chế độ văn minh,chứ không u mê như dự thảo vừa qua..Việc làm của các vị đã làm mất lòng tin của dân và của phần lớn đảng viên có tư cách. 

 

Nhưng hình như,cho đến nay  các vị đã phần nào thấy cần phải đi về với nhân dân, trong đó có phần lớn đảng viên có lương tâm trong sáng ,đặc biệt có nhiều trí thức đã từng dạy các vị để các vị ôm được bằng tiến sĩ mà leo cao . Đó là dấu hiệu đáng mừng! 

 

Việc chính phủ vừa qua góp ý phải để dân lập hiến ,hay nghe Ban biên tập dự thảo sửa đổi hiến pháp có nêu việc lấy lại tên nước là NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA , đã hé ra bao tia sáng của cuối đường hầm . Dân không hề sợ chết xông lên “cướp chính quyền” , dân sẵn sàng hy sinh đến đứa con cuối cùng để thống nhất giang sơn .Bao bà mẹ “đào hầm từ lúc tóc còn xanh,nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc”để nuôi dấu cộng sản…nay họ được gì? Họ mất đất vì cán bộ đảng cậy thế để cướp ,họ phải tay trắng lang thang kêu lãnh đạo trung ương mà chẳng ai an ủi họ ! Đó là chưa kể bao người có công với cách mạng đã bị giết trong cải cách ruộng đất,trong tiêu diệt tư sản,trong cải tạo đọa đày vì có đề xuất trái ý đảng… 

 

Xuất phát ban đầu dân theo Hồ Chí Minh,dân theo Việt Minh,dân theo chế độ dân chủ ,dân theo hiến pháp thể chế cộng hòa. Đảng có công lãnh đạo thì phải giữ những điều dân đã sống chết đi theo . Đảng đã sai lầm ,đã để cho một “bộ phận không nhỏ” thoái hóa biến chất thì phải sửa chữa chứ sao lại tiếp tục sai lầm ? Đảng muốn tiếp tục theo con đường như Liên Xô ? Đảng muốn theo Trung cộng để nó nuốt cả đất nước ta ? 

 

Vấn đề cơ bản hiện nay là đảng vẫn tiếp tục lãnh đạo và đảng hãy làm như ông Hồ Chí Minh đã nói : “Mong muốn tột bậc của tôi là…”nội dung ông Hồ nói,tất cả các vị đã biết cả rồi ,các vị hô hào học tập  Bác nhưng các vị không làm. Mà muốn làm theo ông Hồ thì không có con đường nào khác là con đường dân chủ .Lẽ nào như ông Trọng đã ẵm bằng tiến sĩ mà không thấy điều này ?! 

 

Để có thể từng bước đi theo con đường văn minh của nhân loại ,trước nhất phải lấy lại tên nước là NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA.

Sài gòn,15-4-2013
 
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

CẢ HAI BÁC BA SÀM VÀ PHẠM VIẾT ĐÀO ĐỀU ĐÃ CÓ NHÀ MỚI

Hồi 9h20′ sáng nay, 8/3/2013, trang BA SÀM tại địa chỉ: 
anhbasam.wordpress.com đã bị tin tặc đánh sập, hiện không truy cập được.

Các kỹ thuật viên đang cố gắng khắc phục. ABS Mong độc giả thông cảm. Toàn bộ phần điểm tin Sáng nay vẫn có thể đọc tại phụ trang Việt Sử ký tại địa chỉ: vietsuky.wordpress.com 
Cập nhật: vietsuky.wordpress.com cũng đã btin tặc đánh phá không truy cập được.

Độc giả vào đọc trang Ba Sàm theo địa chỉ mới: http://basam5.wordpress.com
Cập nhật tiếp: Sáng 9.3 địa chỉ trên lại bị khống chế. Hiện tại không thể truy cập.

Trang blog của nhà văn Phạm Viết Đào tại địa chỉ:
phamvietdao3.blogspot.com đã bị tin tặc tấn công, hiện không thể truy cập.
16h00 (09.03.2013): MỜI ĐỘC GIẢ GHÉ THĂM TRANG BA SÀM TẠI ĐỊA CHỈ: http://anhbasamvn.wordpress.com/
22h15, ngày 9.3.2013, Nhà văn Phạm Viết Đào báo tin đã dựng nhà mới tại địa chỉ:
Kính mời bà con cô bác ghé thăm!
Kính báo

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

Thư giãn cuối tuần: BÁC HAI XE ÔM ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Hai Xe Ôm đề xuất sửa đổi Hiến pháp

Hai Xe Ôm


Là người làm nghề xe ôm, xuất phát từ đặc trưng, thói quen và kinh nghiệm nghề nghiệp, Hai Xe Ôm tôi xin tham gia một vài ý kiến đóng góp sửa đổi Hiến pháp. 

1/ Nên giữ mãi Điều 4 Hiến pháp 

Là người quen cầm lái, hành nghề kiếm ăn, nuôi sống gia đình bằng việc cầm lái; việc cầm lái này vừa liên quan đến miếng cơm manh áo, đến tính mạng của chủ xe và của cả hành khách đi xe nên trong đời làm xe ôm của mình, chưa bao giờ Hai tôi trao cho ai kể cả người thân, vợ con được thay mình lái cái xe, cái cần câu cơm của mình...Vì mỗi chiếc xe ngoài tính năng kỹ thuật chung ra, do qua tay sử dụng nên nó tự nhiên hình thành những vết mòn quán tính riêng, dân xe ôm gọi là thói quen xe...Đang lái xe này chuyển sang chiếc xe khác là tay lái loạng chạng dễ mất an toàn...

Xuất phát từ đặc thù, đặc trưng nghề cầm lái xe nên Hai Xe Ôm rất hiểu và đồng cảm với việc Đảng chủ trương phái có điều 4 Hiến pháp, phải giữ rịt lấy cái điều này để mặc định, cố định, cố thủ quyền cầm lái của mình. Đối với Hai Xe Ôm sẽ cầm lái đến cùng cho đến khi tan xe, thay xe mới chứ nhất định không trao xe cho ai thay mình chở khách.Đảng chắc cũng vậy nên Hai tôi ủng hộ Đảng và Nhà nước giữ vĩnh cửu Điều 4 Hiến pháp cho đến khi ” tan” nhà nước thì thay bằng nhà nước khác giống như Hai Xe Ôm thay xe...

Hai Xe Ôm nhất trí không thay, bỏ Điều 4 Hiến pháp. 

2/ Hai Xe Ôm kiến nghi bỏ Điều Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69); Đó là điều: 

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật...” 

Theo thiển ý và kinh nghiệm của Hai Xe Ôm và cũng xuất phát từ nghề xe ôm của mình, việc dân tổ chức biểu tình tự phát trên đường phố là rất rách việc đối với dân làm nghề xe ôm. Mỗi khi gặp đoàn người đi khiếu kiện đòi đất, biểu tình chống Trung Quốc là cánh xe ôm lại phải đưa khách đi đường vòng, tránh đoàn biểu tình, vừa mất thì giờ, vừa tốn xăng...

Còn tự do ngôn luận, tự do báo chí nữa; Điều này cũng giống như cánh xe ôm khi đã nhận chở khách là khắc biết nên đi đường nào cơ lợi nhất cho mình; Bây giờ các ông khách lại tư do ngôn luận, lại chỉ đường, lại bàn ra tán vào việc tìm đường đi, lắm thầy thối ma rách việc vì làm mất tập trung, dễ mất an toàn ?

Vả lại ở ta xưa nay đã làm gì có quyền ”tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình...”; Đảng, Nhà nước hành xử  chắc cũng giống như dân xe ôm: ai nói gì mặc mẹ, đã lên xe rồi, có khách rồi là mình cứ lái xe lao theo đường của mình...Do đó nếu cứ để điều 26 này thì hóa ra nhà nước nói dối, nói một đằng làm một nẻo, đưa vào hiến pháp một thứ quyền bánh vẽ...

Theo Hai Xe Ôm, chi bằng nhân đà sửa đổi hiến pháp ký này, cho xóa béng cái Điều 26 này đi để cho cái đám thù địch chống phá không lợi dụng cái quyền này để kích động dân chống phá đảng và nhà nước. Còn nhà nước, Đảng sẽ được tiếng sòng phẳng, minh bạch, không lừa dân... khi để điều 26 trong Hiến pháp !
Nguồn: PVĐ blog.
 


-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG CẦN CHÍN CHẮN VÀ BÌNH TĨNH HƠN

TBT Nguyễn Phú Trọng cần chín chắn, bình tĩnh hơn 

Nguyễn Huy Canh
Nếu tôi là TBT, trên cương vị ấy tôi sẽ có lời cảm ơn về những ý kiến đóng góp quí báu của các tầng lớp nhân dân, trong đó đặc biệt là ý kiến của các nhân sĩ, trí thức cho những v/đ nóng và nổi cộm của đất nước. Những ý kiến đó, xin thay mặt BCHTW,tôi sẽ có ý kiến chỉ đạo ban soạn thảo sửa đổi HP nghiên cứu kĩ, tiếp thu có chọn lọc.
Trong thời gian qua, đảng, nhà nước chủ trương sửa đổi HP1992; đã có lời kêu gọi nhân dân đóng góp ý kiến cho bản Dự thảo được ban soạn thảo đưa ra với một tư tưởng quán triệt từ đầu: không có vùng cấm đối với các ý kiến, kể cả nội dung của điều 4. Ban soạn thảo, QH và đảng lắng nghe và trân trọng tiếp thu các ý kiến xây dựng đó của nhân dân.

Hiện thực đất nước có quá nhiều biến đổi, HP92 không còn phù hợp nữa, phải thay đổi nó. Đặc biệt những năm gần đây, đất nước như rơi vào nhiều trạng thái khủng hoảng: tham nhũng tràn lan với nhiều cấp độ; quan chức, và con cháu của họ cuộc sống thì xa hoa, phè phỡn, trong khi đó nhiều bộ phận nhân dân thì đói khổ; nền kinh tế tụt dốc và chao đảo. Đi tìm nguyên nhân và những giải pháp cho thực trạng đó nhằm cứu nguy cho đảng, mở con đường đi tới cho dân tộc trở thành nhu cầu rất cấp bách của lịch sử chúng ta. Tìm kiếm vận hội, cơ chế, con đường ra cho đất nước không chỉ là công việc của các nhà lãnh đạo, các nhà lí luận của đảng mà phải trở thành công việc của toàn dân, sự đóng góp của toàn dân, trong đó đặc biệt là ý kiến đóng góp của các nhân sĩ, trí thức hàng đầu đất nước.

Đóng góp ý kiến cho Dự thảo phải được hiểu, và nên được hiểu là nhu cầu, là cơ hội kép đó.

Tư tưởng về không có vùng cấm trong các ý kiến đóng góp của nhân dân thiết nghĩ là biểu hiện tập trung tư tưởng dân chủ của thời đại: cởi mở, tôn trọng, biết lắng nghe và chung sống với tất cả các ý kiến, các quam niệm khác biệt, chứ không phải là những thủ đoạn chính trị, những hình thức được che đậy như vẫn diễn ra trong lịch sử đầy oan nghiệt trước đó.

Kiến nghị 72 cùng nhiều ý kiến khác ra đời trong bối cảnh và tư tưởng dân chủ như đã trở thành dòng chủ đạo của lịch sử. Nó đã đề cập tới những v/đ nền tảng của HP và của chế độ chính trị của chúng ta: bỏ điều 4, quyền lập hiến thuộc về nhân dân, tổ chức nhà nước theo cấu trúc tam quyền, quân đội trung thành với tổ quốc…

Những v/đ trên đây của thể chế kinh tế, chính trị theo hướng xóa bỏ chuyên chế-tập quyền  nhằm mong muốn đưa đất nước vào đường ray của thế giới phát triển: đa nguyên, đa đảng đã được biết đến từ nhiều năm qua, và giờ đây những ý kiến đó như một sự tổng kết, và được sự đồng thuận của nhiều người.

Có thể phải khẳng định những ý kiến đó chưa phải tất cả đã là phù hợp theo ý nghĩa phổ biến của đời sống thực tiễn nước nhà. Nhưng dù sao nó cũng đã trở thành nguyện vọng, thành khát vọng của một bộ phận dân cư, của một lát cắt của đời sống thực tiễn sống động không thể chối bỏ được này.

Nguyên lí dân chủ trong đời sống hiện đại không cho phép có vị trí độc tôn, độc quyền của một quan điểm, một hệ qui chiếu bởi tính bất toàn, bất định của thế giới ngày nay; Mặt khác do bởi tính cởi mở và sự tôn trọng của các giá trị khác biệt trong đời sống nhân sinh ngày càng được thừa nhận rộng rãi. Điều này cũng chưa tính đến sự vượt qua những lí thuyết đã lỗi thời, những lịch sử đã đi qua trong đó có chủ thuyết Marx cũng như nhiều mô hình chủ nghĩa xã hội.

Trên tinh thần đó, bài phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng ngày 25/2 tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ về một bộ phận suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức khi có ý kiến cho Dự thảo về những v/đ nền tảng của thể chế, và HP cùng một số sự kiện khác như biểu tình, khiếu kiện đông người…cần phải xử lí, đã gặp phải quá nhiều phản ứng gắy gắt và bức xúc chính đáng của nhân dân là điều có thể hiểu được.

Nếu tôi là TBT, trên cương vị ấy tôi sẽ có lời cảm ơn về những ý kiến đóng góp quí báu của các tầng lớp nhân dân, trong đó đặc biệt là ý kiến của các nhân sĩ, trí thức cho những v/đ nóng và nổi cộm của đất nước. Những ý kiến đó, xin thay mặt BCHTW,tôi sẽ có ý kiến chỉ đạo ban soạn thảo sửa đổi HP nghiên cứu kĩ, tiếp thu có chọn lọc. Ý kiến về đa nguyên, đa đảng, về tam quyền…chúng ta vẫn biết nó là những tư tưởng tiến bộ, là thành quả của nền văn minh nhân loại, của văn hóa chính trị…Song để vận dụng nó vào hiện thực chính trị nước nhà, không cẩn thận, không được cân nhắc nhiều chiều, thấu đáo có khi lại trở thành dập khuôn, thành giáo điều, máy móc, và có thể dẫn tới sự rối loạn…Vậy xin đồng bào cả nước cho bảo lưu những ý kiến loại này, do xét thấy chưa thật chín muồi,còn nhiều ý khác biệt, cần phải được thảo luận thêm trên tinh thần tôn trọng cái đa chiều. Thời gian trình dự thảo ra QH cũng đang đến gần, rất mong nhận được thêm nhiều ý kiến tâm huyết của đồng bào trong và ngoài nước, của các nhân sĩ -trí thức sao cho HP thực sự trở thành ýchí,thành  quyền lực và nguyện vọng của nhân dân ta.

Về những v/đ nóng hiện nay như biểu tình, khiếu kiện đông người…chúng ta phải đứng trên quan điểm lợi ích của đất nước, của người nông dân bị thu hồi đất, của chủ đầu tư để giải quyết tốt, hạn chế cao nhất những bất bình đẳng xảy ra, hay lợi ích của nông dân bị thiệt thòi…Chúng ta phải thuyết phục được người  dân trên tinh thần phải ưu tiên đến những lợi ích, nguyện vọng và đặc biệt phải biết đồng cảm với những nỗi nhọc nhằn, khốn khó của người nông dân. Là người cán bộ của dân thì phải trong sáng, tỉ mỉ, sâu sát và cụ thể…đó là cái gốc giải quyết cho mọi vấn đề…

Tôi tin chắc rằng, với tư tưởng đó, TBT sẽ tránh không nhận phải những lời trách móc nặng nề như là hồ đồ; Chắc cũng sẽ tránh không bị phản ứng dữ dội về trường hợp cho đuổi việc nhà báo Nguyễn Đắc Kiên; cũng như những tuyên bố ngửa bài trước đó của ông Phan Trung Lí không bị coi là trò bỡn cợt cử tri… 

Ngày 1/3/013
Nguồn: Blog Phạm Viết Đào.

Tễu: Nếu....nếu....Nếu có một TBT khôn ngoan, chín chắn, lịch lãm và nhân văn như thế, thì đất nước ta và đảng của ông Trọng không như thế này, và nhân dân và trí thức thì không đến nỗi ...."suy thoái" như thế này!
 
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP 1992 PHÁ HỦY NỀN TẢNG CỦA CHÍNH HIẾN PHÁP

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP 1992 PHÁ HỦY NỀN TẢNG CỦA CHÍNH BẢN HIẾN PHÁP 

Trần Mạnh Hảo 


Điều 4 trong bản “Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 2005 – Bản sửa đổi), có đoạn viết như sau: “Đảng Cộng Sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 4 này mâu thuẫn và chống lại Điều 2, Điều 3, Điều 8, Điều 15, Điều 16, Điều 21, Điều 83… của chính bản Hiến pháp. Chúng tôi sẽ lần lượt chứng minh.

Điều 2 của bản Hiến pháp có đoạn viết như sau: “Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”. Theo Điều 2 này khẳng định nước CHXHCNVN là một nước dân chủ. Bởi, Điều 2 nhắc lại định nghĩa của Ngài Abraham Lincoln (1809-1865) – vị anh hùng giải phóng nô lệ, vị tổng thống thứ 16 của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, thần tượng của Karl Marx, được Marx tôn làm biểu tượng của Tự Do – định nghĩa về một quốc gia dân chủ như sau: “Một quốc gia dân chủ là một quốc gia mà chính quyền của dân, do dân, vì dân!”.

Như vậy, khi Điều 4 khẳng định: “Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tức là nước CHXHCNVN theo một chế độ Đảng trị = Đảng chủ, hoàn toàn chống lại Điều 2: khẳng định nước CHXHCNVN là một nhà nước Dân trị = Dân chủ! Như vậy, nếu căn cứ vào Điều 2, thì Điều 4 là vi hiến và ngược lại; nhưng Điều 2 có trước Điều 4, nên ta có thể coi Điều 4 là điều vi hiến được chăng?

Điều 83 của Hiến pháp có đoạn viết như sau: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCNVN. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp…”. Như vậy, Điều 2 và Điều 83 cùng khẳng định quyền tối thượng của nước CHXHCNVN thuộc về nhân dân chứ không thuộc về Đảng CSVN như Điều 4 đã quy định Đảng CSVN nắm quyền tuyệt đối: “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Xã hội là toàn bộ đời sống văn hoá, chính trị, kinh tế, pháp luật, thể chế, lịch sử, tôn giáo…của con người trong một quốc gia. Tức là Điều 4 quy định Đảng CSVN là chủ nhân ông của đất nước và dân tộc Việt Nam, là ông vua của các vua, chúa của các chúa. Nhưng oái oăm thay, ở Điều 2 và Điều 83, bản Hiến pháp năm 1992 lại khẳng định Nhân Dân là chủ nhân ông của đất nước và dân tộc, nắm quyền tối thượng quốc gia, y hệt các nhà nước dân chủ khác trên thế giới vậy (Thế giới ngày nay có chừng 95% số quốc gia theo chế độ dân chủ đại nghị). Do đó, cứ theo Điều 4, Điều 2, Điều 83, thì nước Việt Nam ta có hai “vua”: “Vua Đảng CSVN” và “Vua Nhân Dân” ư ? Nếu lấy hai chọi một, thì Điều 4 là thiểu số phải bị coi là vi hiến trước Điều 2 và Điều 83 đa số?

Chưa hết, ngay cả ở Điều 3 trong bản Hiến pháp 1992 cũng hàm chứa yếu tố chống lại Điều 4.

Điều 3 có đoạn viết như sau: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân”. “Quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân” nghĩa là nhân dân làm chủ tất tần tật mọi sinh hoạt xã hội từ chính trị, văn hoá xã hội, thể chế, luật pháp, lịch sử… của nước Việt Nam. Mệnh đề này của Điều 3 trong Hiến pháp phủ nhận Điều 4. Như vậy, Điều 3 đã về hùa với các Điều 2 và Điều 83 cùng xóa bỏ Điều 4 trong bản Hiến pháp.

Mệnh đề thứ 2 của Điều 3 viết như sau: “… Thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…”. Chính Điều 3 trong Hiến pháp đã xác định xã hội Việt Nam là một xã hội công bằng, tự do. Tự do và Công bằng xã hội là mọi công dân đều bình đẳng, không ai nhảy ra sai khiến (lãnh đạo) ai mà không được sự đồng ý của người bị sai khiến (bị lãnh đạo). Đảng CSVN chỉ là một nhóm người rất thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam (ngót ba triệu đảng viên CS trong khi đó có hơn 90 triệu người dân ngoài đảng). Vậy thiểu số kia muốn cai trị (lãnh đạo) đa số này phải hỏi ý kiến xem 80 triệu dân có đồng ý (cho phép) Đảng CSVN cai trị đại đa số nhân dân Việt Nam hay không?

Nghe câu hỏi này, Đảng CSVN bèn bảo: – Quốc hội nước CHXHCNVN đã bỏ phiếu xác định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng CS thì không phải là toàn dân đồng thuận là gì? Vâng, đấy chỉ là sự đồng thuận hình thức, đồng thuận ảo, đồng thuận giả tạo! Vì trong Quốc hội có đến hơn 95% đại biểu là đảng viên CS, thì Quốc Hội thực chất chỉ là Quốc hội của Đảng CS mà thôi! Với phương châm bầu cử: “Đảng cử, Dân bầu” của Đảng CS, thì người dân (hơn 80 triệu) đã bị tước quyền ứng cử và bầu cử. Khi Nhân Dân mất quyền “cử” thì chữ “ bầu” cũng thành vô nghĩa, thành trò hề! Do đó, mọi cuộc bầu bán do Đảng CS tổ chức để hình thành Quốc hội đều chỉ là hình thức, là trò ảo thuật kiểu Đảng CS vừa đá bóng, vừa thổi còi, vừa lĩnh thưởng mà thôi! Bầu cử Quốc Hội mà Đảng CS toàn cử người của mình ra ứng cử, rồi bắt dân chỉ được quyền “Bầu”, không được quyền “Cử”, Dân không được quyền kiểm phiếu… thì cái Quốc Hội kia chỉ là Quốc Hội của Đảng chứ nào đâu còn là Quốc hội của Dân? Do đó, chính Đảng CSVN đã vi phạm Điều 3 của Hiến pháp là không tôn trọng hai chữ: Tự do – Bình đẳng (Công bằng)!

Như vậy, Điều 3 trong Hiến pháp đã phủ nhận chính Điều 4 vậy!

Điều 8 trong bản Hiến pháp 1992 có đoạn viết như sau: “… Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Điều 8 không cho phép ai (kể cả Đảng CS) được phép quan liêu, cửa quyền. Nhưng ở Điều 4, Đảng CSVN đã chứng tỏ sự quan liêu, cửa quyền của mình bằng cách tự cho mình quyền lãnh đạo tối thượng nhân dân Việt Nam trái với quy định ở Điều 2, Điều 3 và Điều 83. Do đó, Điều 8 cũng đã phủ nhận chính Điều 4.

Điều 15 trong bản Hiến pháp, có đoạn viết: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng…”.

Chính sự khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường (khái niệm “định hướng XHCN” hoàn toàn vô nghĩa), chấp nhận nền kinh tế tư nhân tại Việt Nam nơi Điều 15 này đã phủ nhận Điều 4; vì Điều 4 ghi: “Đảng CSVN theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Vì sao vậy? Vì ai đã đọc Mác-Lênin, dù chỉ ở trình độ sơ cấp, cũng biết chủ nghĩa Mác-Lê phủ nhận kinh tế thị trường = tư bản, xóa bỏ sở hữu tư nhân. Có chủ nghĩa Mác- Lê thì không có kinh tế tư bản = kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân và ngược lại! Như vậy, Điều 15 đã xóa bỏ Điều 4 hay ngược lại!?

Điều 17 trong bản Hiến pháp 1992 tiếp tục phủ nhận Điều 4 bằng cách nói rõ hơn sự phát triển tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam như sau: “Phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…”. Chính sự khẳng định Đảng CSVN lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Điều 17 này đã giết chết chủ nghĩa Mác-Lênin là tôn giáo và cương lĩnh của Đảng như Điều 4 đã quy định. Vậy, Điều 17 này đã xóa bỏ Điều 4 hay ngược lại?

Điều 21 trong bản Hiến pháp 1992 tiếp tục khẳng định Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường, tức kinh tế tư bản chủ nghĩa, như có đoạn viết sau: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động…”. Mục đích của chủ nghĩa Mác-Lê Nin là chôn chủ nghĩa tư bản. Sao Đảng CSVN ghi trong Điều 4 Hiến pháp “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội… theo chủ nghĩa Mác-Lênin” lại phát triển kinh tế tư bản? Hóa ra, bằng cách đề ra bốn Điều: 15, 16,17, 21 trong Hiến pháp 1992 là xây dựng nền kinh tế tư bản trên đất nước Việt Nam, Đảng CSVN đã làm ngược lại 180 độ chủ nghĩa Mác–Lênin; cũng có nghĩa là chính Đảng CSVN không chôn tư bản như nguyên lý Mác-Lênin đã dạy, mà ngược lại còn đi xây dựng tư bản chủ nghĩa. Như vậy, có phải chính là Đảng CSVN đã ngầm xóa bỏ Điều 4 trong bản Hiến pháp?

Tựu trung, Điều 4 trong Hiến pháp 1992 (bản sửa đổi) đã xóa bỏ các Điều 2, 3, 8,15, 16, 21, 83… của chính bản Hiến pháp, cũng là xóa bỏ nền tảng của bản Hiến pháp vậy! Muốn bản Hiến pháp không bị vô hiệu hoá vì sự thậm vô lý (ngược đời), cần phải xóa bỏ Điều 4 . Vả lại, nếu Điều 4 Hiến pháp không bị xóa bỏ, hiển nhiên là các cuộc bầu cử của nhà nước Việt Nam chung quy chỉ là hình thức, là trò đùa mà thôi; vì Hiến pháp đã khẳng định đảng cộng sản Việt Nam với số đảng viên thiểu số (ba triệu) là lực lượng vĩnh viễn lãnh đạo đất nước, lãnh đạo khối nhân dân đa số (90 triệu) thì còn bầu cử làm gì cho mất công, vô ích. Chính Điều 4 Hiến pháp này đã thông báo một điều hiển nhiên : NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM LÀ NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI, ĐỘC ĐẢNG, TUYỆT ĐỐI KHÔNG PHẢI LÀ NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ .... 

Sài Gòn 2006-2013
Trần Mạnh Hảo
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

THÊM PHÁT HIỆN MỚI XUNG QUANH CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG

CÔNG HÀM 14/9/1958 DO THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG KÝ LÀ "CÁI BẪY" NGOẠI GIAO CỦA CT HỒ CHÍ MINH LỪA CHU ÂN LAI

LS Nguyễn Trọng Quyết
Lời dẫn của nhà văn Phạm Viết Đào: 
- Ngày 14 tháng 9 năm 1958 lại là ngày Chủ nhật. Đây là ngày nghỉ hàng tuần của các cơ quan Nhà nước, trong đó có Chính phủ ?
- Tại thời điểm năm 1958, quyền hạn của chức danh Thủ tướng được quy định theo Hiến pháp năm 1946.
- Điều 44 Hiến pháp năm 1946 ghi rõ:

“Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó Chủ tịch và Nội các.

Nội các có Thủ tướng, các bộ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng”.
Quy định trên cho thấy: Thủ tướng chỉ là người đứng đầu nội các, là một thành viên trong số rất nhiều thành viên của Nội các, do Chủ tịch nước chọn và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Các quy định khác của bản Hiến pháp xác nhận vị trí người đứng đầu Chính phủ khi ấy là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa...
- Như vậy chữ ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 14/9/1958 hoàn toàn không có giá trị pháp lý, tư cách pháp nhân thay mặt Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1946!
Cảm ơn Ls Nguyễn Trọng Quyết đã phát hiện ra "cái bẫy" pháp lý  có giá trị này?

Ngày 14 tháng 9 năm 1958, tại sao?
Ngày 14 tháng 9 năm 1958 từ Hà Nội, “Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai – Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có nội dung như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể…
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958 …”
Xét về mặt câu chữ cho thấy: văn bản này được làm tại Hà Nội vào ngày 14 tháng 9 năm 1958. Diễn giải theo trình tự có thể suy luận: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhóm họp, biểu quyết nhất trí ghi nhận và tán thành tuyên bố về hải phận của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; cuộc họp có thể diễn ra vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 hoặc trong khoảng thời gian 10 ngày trước đó (từ ngày 4 tháng 9 năm 1958 đến ngày 13 tháng 9 năm 1958). Trên cơ sở đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký văn bản thông báo quan điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho Chu Ân Lai. Vì văn bản được ký vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 nên đương nhiên, con dấu của Chính phủ cũng được đóng vào ngày này.
Nhưng ngày 14 tháng 9 năm 1958 lại là ngày Chủ nhật. Đây là ngày nghỉ hàng tuần của các cơ quan Nhà nước, trong đó có Chính phủ. Có đúng là ngày Chủ nhật 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và bộ máy giúp việc vẫn tới Phủ Thủ tướng làm việc bình thường, soạn thảo và ký ban hành văn bản gửi Chu Ân Lai? Hay sự thật, văn bản này đã được soạn rồi ký sẵn một hoặc nhiều ngày trước đó, thậm chí là sau đó?
Quyền hạn của Thủ tướng!
Tại thời điểm năm 1958, quyền hạn của chức danh Thủ tướng được quy định theo Hiến pháp năm 1946.
Cần nhấn mạnh rằng, văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 ghi chức danh “Thủ tướng Chính phủ” trong phần người ký là chưa chính xác. Điều này rất dễ gây ra sự hiểu lầm tai hại: Thủ tướng chính phủ là người đứng đầu chính phủ và có quyền đại diện cho chính phủ ấy.
Thế nhưng, quy định của Hiến pháp năm 1946 lại hoàn toàn không phải như vậy.
Điều 44 Hiến pháp năm 1946 ghi rõ: “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phó Chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các bộ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng”.
Quy định trên cho thấy: Thủ tướng chỉ là người đứng đầu nội các, là một thành viên trong số rất nhiều thành viên của Nội các, do Chủ tịch nước chọn và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Các quy định khác của bản Hiến pháp xác nhận vị trí người đứng đầu Chính phủ khi ấy là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Không có một điều luật riêng biệt quy định quyền hạn cụ thể của chức danh Thủ tướng và thậm chí, người giúp đỡ Chủ tịch nước là Phó Chủ tịch mà không phải là Thủ tướng. Nói cách khác, quyền hạn của Thủ tướng theo Hiến pháp 1946 rất hạn chế, bó hẹp trong một số công việc như: chọn Bộ trưởng để đưa ra Nghị viện biểu quyết; chọn thứ trưởng để Hội đồng Chính phủ chuẩn y; chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các. Bản Hiến pháp cũng không có điều khoản quy định về thẩm quyền của Nội các.
Thay vào đó, Hiến pháp 1946 lại quy định rất cụ thể quyền hạn của Chủ tịch nước và quyền hạn của Chính phủ. Trong số các quyền hạn của Chủ tịch nước theo quy định tại Điều 49, có các quyền hạn sau: 
- Thay mặt cho nước;
- Chủ tọa Hội đồng Chính phủ;
- Ký hiệp ước với các nước;
Rõ ràng, Chủ tịch nước mới là chức danh đại diện cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa nói chung, cho Nhà nước và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nói riêng trong quan hệ bang giao với các nước mà Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là ngoại lệ. Thủ tướng chỉ là một thành viên của nội các – một cơ quan của Chính phủ và không có các quyền hạn này.
Cũng không có bằng chứng cho thấy Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hội đồng chính phủ khi ấy đã ủy nhiệm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng được quyền đại diện ra văn bản phúc đáp tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.   
Chính phủ có họp?
Văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 nêu rõ là: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành …”. Do vậy theo logic, sau khi có Tuyên bố về hải phận ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có một cuộc họp và nội dung cuộc họp đã thể hiện ý chí “ghi nhận”, “tán thành” tuyên bố của Trung Quốc.
Như đã trích dẫn một phần Điều 49 Hiến pháp năm 1946, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền “chủ tọa Hội đồng Chính phủ”. Dựa trên tư liệu từ báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam (dangcongsan.vn), nhật ký làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 04 tháng 9 năm 1958 đến ngày 14 tháng 9 năm 1958 được ghi lại như sau:
- Ngày 4 tháng 9 năm 1958:
+ Sáng: tiếp đoàn Đại biểu bóng đá  Campuchia;
+ Trong ngày, dự họp ban Bí thư bàn một số vấn đề về báo Nhân dân và công tác dân vận;
+ Trong ngày: tiếp đoàn đại biểu cán bộ trường thiếu sinh quân Quế Lâm và bệnh viện Nam Ninh;
- Ngày 5 tháng 9 năm 1958:
+ Dự họp Bộ Chính trị để bàn về công tác tổ chức Đảng, Chính phủ và công tác thủy lợi;
- Ngày 6 tháng 9 năm 1958:
+ Gửi đện mừng các vị lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ Triều Tiên nhân dịp kỷ niệm lần thứ 10 quốc khánh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên;
- Ngày 7 tháng 9 năm 1958:
+ Sáng: đi thăm công trình thủy nông Gia Thượng, xã Ngọc Thụy, quận 8 (huyện Gia Lâm), ngoại thành Hà Nội;
+ Cùng ngày, đến thăm Trường sỹ quan hậu cần;
- Ngày 8 tháng 9 năm 1958:
+ 7 giờ, tiếp đoàn đại biểu hòa bình Miến Điện;
+ Trong ngày: dự họp Bộ Chính trị bàn về đấu tranh thống nhất nước nhà;
+ Cùng ngày: gửi huy hiệu tặng ông Phùng Quang Chiểu và Thanh niên xã Thống Nhất (Lào Cai);
 - Ngày 9 tháng 9 năm 1958: không ghi lịch làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
- Ngày 10 tháng 9 năm 1958:
+ Dự họp ban Bí thư để bàn về chính sách phân bón cho nông nghiệp và một số vấn đề khác;
+ Cùng ngày, ký quyết định số 86/QĐ giảm án tử hình xuống tù chung thân cho một phạm nhân can tội giết người;
- Ngày 11 tháng 9 năm 1958: không ghi lịch làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
- Ngày 12 tháng 9 năm 1958:
+ Dự họp bộ Chính trị bàn về quản lý gạo vụ mùa năm 1958 và về con số kiểm tra kế hoạch Nhà nước năm 1959;
- Ngày 13 tháng 9 năm 1958:
+ Sáng: thăm lớp học Chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc tổ chức tại Hà Nội;
+ Sau đó, thăm triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1958;
+ Chiều: tiếp giao sư người Miến Điện U.Oong la và phu nhân;
- Ngày 14 tháng 9 năm 1958:
+ Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề: Công xã nhân dân, ký bút danh Trần Lực, đăng báo Nhân dân, số ra 1645 giới thiệu về quá trình hình thành và những đặc điểm của công xã nhân dân ở Trung Quốc.
Không có tư liệu phản ánh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa bất cứ cuộc họp nào của Hội đồng chính phủ trong khoảng thời gian từ ngày 4 tháng 9 năm 1958 đến ngày 14 tháng 9 năm 1958. Cũng không thể nói có việc Phó Chủ tịch nước thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh để chủ tọa Hội đồng chính phủ vì thời kỳ này, không ai được bổ nhiệm giữ chức danh Phó Chủ tịch nước.  
Nếu điều này là sự thật thì văn bản của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quy định về hải phận…” là hoàn toàn không chính xác; và tiếp nữa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng không có quyền đại diện cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để hứa hay cam kết với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về mọi vấn đề có liên quan đến thực thi tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 vì thẩm quyền này thuộc về Hội đồng Chính phủ và Chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hòa.
Nếu điều này là sự thật thì văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký hẳn nhiên không phải là “công hàm ngoại giao” như kẻ xâm lược đã thổi phồng, cường điệu hóa mà thực chất chỉ là một lá thư viết vội của cá nhân Thủ tướng nội các thuộc Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hòa gửi Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, có nội dung hoàn toàn không phản ánh quyết định của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khi ấy. Theo cách nói dân gian, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói dối Chu Ân Lai và thật lực cười khi Trung Quốc lại lấy những lời nói dối đó đó làm căn cứ để khẳng định chủ quyền phi lý đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
**
Cho đến chừng nào Hoàng Sa và một phần Trường Sa vẫn còn nằm trong tay ngoại bang, lá thư viết vội của ông Phạm Văn Đồng vẫn được kẻ xâm lăng sử dụng như một bằng chứng để biện hộ cho hành vi bành trướng của chúng thì chừng đó, mỗi người con đất Việt vẫn kiên quyết và thẳng thừng bác bỏ văn bản vô giá trị này.
LS. Nguyễn Trọng Quyết 
Phụ lục: Danh sách Chính phủ mở rộng
Chính phủ mở rộng (từ kỳ họp thứ 5 đến kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá I)
(Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Quốc hội khoá I, Kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20/9/1955 và được tiếp tục bổ sung cho đến Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa I, ngày 27-5-1959)

Chủ tịch nước
Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Ông Phạm Văn Đồng (từ 9-1955)
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Ông Phan Kế Toại (từ 9-1955)
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Ông Võ Nguyên Giáp (từ 9-1955)
Phó Thủ tướng
Ông Trường Chinh (từ 4-1958)
Ông Phạm Hùng (từ 4-1958)
Bộ trưởng Bộ Công an
Ông Trần Quốc Hoàn
Bộ trưởng Bộ Giáo dục
Ông Nguyễn Văn Huyên
Bộ trưởng Bộ Tài chính
Ông Lê Văn Hiến (đến 6-1958)
Ông Hoàng Anh (từ 6-1958)
Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện
Ông Nguyễn Văn Trân (từ 9-1955)
Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Kiến trúc
Ông Trần Đăng Khoa (từ 9-1955 đến 4-1958)
Bộ trưởng Bộ Thủy lợi
Ông Trần Đăng Khoa (từ 4-1958)
Bộ trưởng Bộ Kiến trúc
Ông Bùi Quang Tạo (từ 4-1958)
Bộ trưởng Bộ Công nghiệp
Ông Lê Thanh Nghị (từ 9-1955)
Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp
Ông Phan Anh (từ 9-1955 đến 4-1958)
Bộ trưởng Bộ Nội thương
Ông Đỗ Mười (từ 4-1958)
Bộ trưởng Bộ Ngoại thương
Ông Phan Anh (từ 4-1958)
Bộ trưởng Bộ Y tế
Ông Hoàng Tích Trí (đến 5-1959)
Ông Phạm Ngọc Thạch (từ 5-1959)
Bộ trưởng Bộ Lao động
Ông Nguyễn Văn Tạo
Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Ông Vũ Đình Hòe
Bộ trưởng Bộ Văn hoá
Ông Hoàng Minh Giám
Bộ trưởng Bộ Thương binh
Ông Vũ Đình Tụng (đến 5-1959, vì giải thể)
Bộ trưởng Bộ Cứu tế
Ông Nguyễn Xiển (từ 9-1955 đến 5-1959, vì giải thể)
Bộ trưởng Bộ Nông lâm
Ông Nghiêm Xuân Yêm
Bộ trưởng Phủ Thủ tướng
Ông Phạm Hùng (từ 9-1955 đến 4-1958)
Ông Nguyễn Duy Trinh (từ 4-1958 đến 12-1958)
Ông Nguyễn Khang (từ 5-1959)
Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
Ông Nguyễn Văn Trân (từ 4-1958 đến 12-1958)
Ông Nguyễn Duy Trinh (từ 5-1959)
Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
Ông Lê Văn Hiến (từ 12-1958)
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước
Ông Trường Chinh (Phó Thủ tướng kiêm chức từ 4-1958)

Bài do LS Nguyễn Trọng Quyết gửi cho Phamvietdao.net

-->đọc tiếp...