Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Xuân Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Xuân Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

TƯỞNG NHỚ NGUYỄN HỮU ĐANG - SỐ PHẬN CHỨA MỘT PHẦN LỊCH SỬ

Nguyễn Hữu Đang - Một nhân cách cao quý
Nguyễn Thượng Thành 
Hôm nay kỷ niệm đúng 100 năm ngày sinh cụ Nguyễn Hữu Đang (15/8/1913 -15/8/2013), một nhà báo có lương tâm, một trong những thành viên sáng lập Hội truyền Bá Quốc ngữ và là người chỉ huy dựng lễ đài độc lập cho ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. 

Nguyễn Hữu Đang là người không chịu dùng tài năng của mình để bẻ cong ngòi bút và không chịu uốn thấp nhân cách để làm những điều đi ngược lại với lương tâm. Nguyễn Hữu Đang tham gia Phong trào Nhân văn - Giai Phẩm và sau đó, mặc dù bị đe dọa khủng bố, nhưng với bản chất thẳng thắn cương nghị của mình, ông nhất quyết không chịu “đấm ngực nhận tội” và đặc biệt ông nhất định không bao giờ đứng ra tố cáo những anh em văn nghệ sĩ khác. Cái giá cho sự nghĩa khí này là ông phải chịu sự đàn áp và trả thù tàn bạo với mức án 15 năm giam cầm ở Hà Giang. Trước khi bị bắt, Nguyễn Hữu Đang cũng đã phải chịu những đòn đánh ác hiểm, cay nghiệt bằng nhiều bài báo của các “dư luận viên” của Đảng hồi đó. Dưới đây là một đoạn trong bài “Con đường phản cách mạng của Nguyễn Hữu Đang” của tác giả Hồng Vân, đăng trên tạp chí Văn Nghệ số 12, tháng 5 năm 1958:

“Nguyễn Hữu Đang tên bất học vô thuật này, nhảy vào văn nghệ với thủ đoạn của một tên khiêu khích, cũng chẳng tài giỏi gì hơn là cóp nhặt một số luận điệu, một số danh từ của những phần tử cơ hội chủ nghĩa đã ném ra, xuyên tạc những chính sách văn nghệ đúng đắn của Lên-nin, của Đảng cộng sản Trung Quốc, để tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng ta trên văn nghệ…”

Nguyễn Hữu Đang được ra tù năm 1973 nhưng ông vẫn phải chịu sự ghẻ lạnh, xa lánh của xã hội. Tổng cộng thời gian ông bị cầm tù oan khuất và sống trong buồn tủi và cô đơn là gần 30 năm trời. Những năm cuối đời Nguyễn Hữu Đang sống trong cô độc, không vợ không con và nhờ vào nguồn thực phẩm chính là côn trùng, cóc nhái. Hãy nghe Phùng Quán, người bạn nghĩa tình đã giúp đỡ rất nhiều cho ông trong những năm đó viết về sinh hoạt của Nguyễn Hữu Đang:

“Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng khoảng 5 mét vuông, chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Động vào chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. Sau đó tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc: Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh thiếu niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm sầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu – trâu gõ mõ, chó leo thang– anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xe. Tác dụng thứ hai, quan trọng không kém... Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ đơn độc…” (*) 


Một con người thừa tự trọng, có nhân cách khảng khái, người không bao giờ bán đứng bạn bè, cương trực và nhân hậu như Nguyễn Hữu Đang đã từng tâm sự với Phùng Quán về việc đã chọn sẵn chỗ nằm cho mình khi ra đi: “… một búi tre gần cuối xóm, độc giữa cánh đồng…, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ dầy lá tre rụng, rất vừa người … Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phiền ai … Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay” (*)

Hôm nay cầm trên tay bức ảnh cụ Nguyễn Hữu Đang tặng vợ chồng Phùng Quán, thấy trong lòng dấy lên một nỗi xót xa cho thân phận những văn nghệ sĩ, trí thức có thừa tài năng và nhân cách nhưng vì bất phùng thời mà cả cuộc đời đã trở thành những nạn nhân đau khổ, oan khuất của một chế độ mà họ đã từng đem tâm huyết và trí tuệ của mình để tận tâm phục vụ.
___________
(*) Ngày cuối năm tìm thăm người dựng lễ đài Tuyên ngôn độc lập in trong cuốn Ba phút sự thật.

Ông Đang 
Phạm Xuân Nguyên

Mỗi số phận chứa một phần lịch sử 
(E. Evtushenko)

1. Họp mặt cuối năm tạp chí Tia Sáng, vừa thấy tôi ló mặt vào hội trường Bộ Khoa học và Công Nghệ, ông Lê Đạt vẫy lại nói: “Anh Đang mất rồi, Nguyên”.
“Mất lúc nào vậy anh?

Sáng nay (8/2/2007).

Trước anh Quán một ngày (nhà thơ Phùng Quán mất vào ngày âm là 22 tháng Chạp).

Ừ. Sáng ngày ông Công đưa ma.

Nơi nào đứng ra làm tang lễ, anh?

Tao bảo thằng Quốc (Dương Trung) đứng ra, nhân danh Hội truyền bá quốc ngữ. Cứ để anh em trong nhóm làm mãi. Mà mày viết một bài về anh Đang đi.

Anh viết mới phải chứ, cùng hội cùng thuyền. Em là lớp hậu sinh.

Hậu sinh càng phải viết. Mà mày cũng cùng hội chứ sao ! »
Tan họp, gọi điện thoại cho một anh bạn thân quen, tổng biên tập của một tờ báo có tiếng: «Ông Nguyễn Hữu Đang mất, tôi muốn viết một bài ». - «Không được ông ơi. Có chỉ thị rồi!». 
.
Về nhà mở email, có thư của anh Nguyễn Ngọc Giao ở nhóm Diễn Đàn từ Paris với chữ URGENT: «Choa thân mến, vừa nghe tin ông Nguyễn Hữu Đang từ trần hôm qua. Choa có thông tin gì (xác nhận, precision...) thì cho biết ngay nhé». 
.
2. Tôi biết gì về ông Đang?

Tôi không biết gì về ông Đang!

Tháng 11/1992, nhà thơ Phùng Quán đưa tôi một giấy mời:

«Mừng sống dai
Nguyễn Hữu Đang chiến sĩ kách mệnh. Trưởng ban tổ chức ngày đại lễ của đất nước Tuyên Ngôn Độc Lập mùng 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội. 1992 (Nhâm Thân) 80 xuân ngồi trầm tư tại bản quán trong căn hộ độc thân - nguyên cái chái bếp của tập thể giáo viên trường phổ thông cơ sở thôn Trà Vy, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương, Thái Bình. Chúng tôi Phùng Cung và Phùng Quán (em kết nghĩa) xin trân trọng kính mời : đúng 10 giờ 30 ngày 20 tháng 11 năm 1992 đến tại nhà riêng chúng tôi số 10 Thụy Khuê - khu tập thể giáo viên trường Chu Văn An, uống chung rượu khổ sâm mừng sự sống dai.
Phùng Cung và Phùng Quán.”

In cùng những dòng này là bức ảnh ông Đang ngồi trong xó nhà của mình ở Thái Bình sáng mồng một tết Nhâm Thân (1992) kèm dòng chữ “Nguyễn Hữu Đang. Tám mươi xuân - trai tân - độc thân”. Mặt sau giấy mời là bản chụp lại trang bìa tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số đặc biệt kỷ niệm 45 năm Cách Mạng Tháng Tám (1990) ghép với phần chụp bài viết trong tạp chí đó nói về vai trò của Nguyễn Hữu Đang, trưởng ban tổ chức ngày tuyên bố độc lập 2/9/1845. Phần chụp này là đoạn công bố hai bức thư do Nguyễn Hữu Đang viết gửi ông Thị trưởng Hà Nội.

Thư 1: “Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội 
Bộ Tuyên truyền của Chính phủ lâm thời sẽ tổ chức ngày 2-9-1945 một “Ngày Độc Lập”. Muốn cho ngày ấy có một tính cách thiêng liêng, Ban Tổ chức chúng tôi yêu cầu Ngài hạ lệnh cho các chùa chiền, nhà thờ phải cho mở cửa, quét tước sạch sẽ và đốt trầm hương suốt ngày hôm ấy để mừng Ngày Độc Lập.

Kính thư
Nguyễn Hữu Đang”.
Thư 2: “Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội
Nhân “Ngày Độc Lập”, chúng tôi yêu cầu Ngài cho treo cờ ở vườn hoa Ba Đình và hai bên những phố lân cận. Còn về lễ chào quốc kỳ, chúng tôi nhờ ngài cho sửa soạn một chiếc cột cao 12 thước tây và bánh xe (poulie); sẽ có chỉ thị về chỗ dựng cột cho phu Tòa Thị chính.

Kính thư
Nguyễn Hữu Đang”.
Tôi đã bỏ lỡ dịp gặp ông Đang lần đầu này do “nhát sợ” trước một lời khuyên (chuyện đó tôi đã kể trong bài viết Nhớ ông Quán). Mãi sau tôi mới gặp ông khi ông Quán mất và những dịp giỗ ông Quán. Gặp nhưng vẫn không biết gì về ông. Ông Đang vẫn là một khối bí ẩn đối với tôi.

Trong một lần giỗ ông Quán, khi ấy vẫn ở tại nhà bên Hồ Tây, nhân nhắc lại chuyện mừng thọ ông Đang, có người đã chép lại cho tôi bài thơ làm ngay dịp đó tặng “người sống dai”:

Bốn mặt Tây Hồ bát ngát trông
Nơi đây bè bạn tới mừng ông
Sống dai tám chục còn dư sức
Chết ẻo trong tù có uổng công
Tuyệt thế nhân gian ờ cứ thế   
Bắc Hà “hào kẹt” có tên ông
Thân hữu xa gần nâng cốc rượu
Trăm năm duyên nợ biết bao xong!
                                    (Tùng Quân)

“Hào kẹt” là viết chại của “hào kiệt” để hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

3. Khi Đổi Mới xướng lên, nhiều vấn đề tồn đọng của lịch sử hiện đại Việt Nam được xới ra, lật lại, nhiều nhân vật bị khuất lấp được chiếu sáng. Ông Đang với tư cách một yếu nhân của Hội truyền bá quốc ngữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trách nhiệm tổ chức ngày lễ độc lập 2/9/1945 dần dần hiện hình trở lại trên dòng thời gian và lịch sử. Nhưng điều đó không thành được sự “bảo chứng” để nói về ông Đang với tư cách một nhân vật chủ chốt của phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, như nhiều người mong đợi. Cho đến hôm nay, khi ông nằm xuống, vụ việc này vẫn chưa được bạch hóa và con người ông trong đó vẫn bị che phủ, dẫu đã nửa thế ký trôi qua. 

Trong một bản viết cho một nhà nghiên cứu nước ngoài về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm vào cuối tháng 11/1998 tại Hà Nội, ông đã phân tích nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này như sau:
“1. Ý thức, tư tưởng chủ đạo của phong trào là chống lại sự biến chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ chế độ chuyến chính thông thường đã bắt đầu có xu hướng hướng cực quyền (còn gọi là toàn trị, tiếng Pháp là totalitarisme, tiếng Anh là totalitarian) trong đó con người bị cưỡng bức toàn diện, triệt để nhiều khi tàn nhẫn đến vô nhân đạo, phi nhân văn, biến con người bị trị thành nô lệ của một tập đoàn thống trị ít người và duy ý chí tuy nhân danh cách mạng mà hành động, nhưng hiệu quả khách quan của hành động lại phản tiến hóa.

Sự biến chất này do ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa Stalinchủ nghĩa Mao Trạch Đông, cả hai đều tự nhận là chủ nghĩa Mác-Lênin! Rất tiếc là lúc ấy Đảng c.s. Việt Nam tin là như thế.

Phong trào còn lo ngại đáng lẽ chế độ chuyên chính vốn chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ cách mạng phải dùng đến, trong thời gian ngắn gọn tiếp theo liền Tổng khởi nghĩa, để củng cố chính quyền vừa mới giành được, nhưng khi nó đã trở thành chế độ cực quyền, toàn trị, nó sẽ kéo dài không thời hạn, nghiễm nhiên tự coi như hình thái “đích thực”, “chân chính” của chủ nghĩa xã hội khoa học mà loài người mong ước sau những mò mẫm vô hiệu quả của chủ nghĩa xã hội không tưởng.

2. Ý thức, tư tưởng chống đối này âm ỷ từ lâu trong lòng những người trí thức và văn nghệ sỹ Việt Nam, ngay trong các đợt chỉnh huấncải cách ruộng đấtđược tiến hành song song với kháng chiến đánh thực dân Pháp mấy năm cuối. Đến năm 1956, gặp hoàn cảnh thuận lợi, nó nổ bùng ra thành động cơsôi nổi của một cuộc đấu tranh mãnh liệt trong nội bộ dân tộc Việt Nam. Sự kiện đó sẽ tồn tại mãi trong lịch sử Việt Nam như một cái mốc đánh dấu bước chuyển tiếp từ giai đoạn đấu tranh giành độc lập sang giai đoạn đấu tranh giành dân chủ.

Việc chuyển hướng là cần thiết, nó phù hợp với một tất yếu lịch sử, đáp ứng nhu cầu đời sốngtiến hóa xã hội. Trước mắt, nó là nguyện vọng cao cả của nhân dân. Chính Cụ Hồ, trước khi vĩnh biệt cuộc đời cũng để lại một lời tuyên bố nổi tiếng - sau khi đã nêu ra khẩu hiệu cho toàn dân: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” - vừa mạnh bạo nhận trách nhiệm, vừa thắm thiết ân tình: “Nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì”. Nếu chúng ta hiểu “tự do” đây là dân chủ thì câu nói chí tình của ông cụ không xa cách cái thiện chí của phong trào “Nhân văn-Giai phẩm” nhiều lắm”.
Ông Đang viết tay, những từ những đoạn gạch chân là của ông. 

4. Tôi đang đọc tiểu thuyết Sách cười và lãng quên của Milan Kundera. Đây là đoạn mở đầu của tác phẩm này:

"Tháng hai 1948, nhà lãnh đạo cộng sản Klement Gottwald đứng trên ban công một cung điện baroc ở Praha diễn thuyết trước đám đông hàng trăm nghìn công dân tụ tập trên quảng trường Thành Phố Cũ. Đây là một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử xứ Bohêm. Một thời khắc định mệnh mà nghìn năm chỉ xảy ra một hay hai lần.

Gottwald được vây giữa các đồng chí của mình, đứng sát ngay cạnh ông là Clementis. Tuyết rơi, trời lạnh, Gottwald để đầu trần. Clementis đầy ân cần cởi chiếc mũ lông không vành của mình ra và đặt nó lên đầu Gottwald.

Ban tuyên huấn của đảng đã cho in ra hàng trăm nghìn bản tấm ảnh chụp cái ban công nơi Gottwald đội chiếc mũ lông không vành đứng giữa các đồng chí đang nói chuyện với nhân dân. Chính trên cái ban công đó đã bắt đầu lịch sử của xứ Bohêm cộng sản. Tất cả trẻ em đều biết tấm ảnh này vì đã thấy chúng trên các áp phích, trong sách giáo khoa hay trong các bảo tàng.

Bốn năm sau, Clementis bị kết án phản bội và bị treo cổ. Ban tuyên huấn của đảng lập tức cho ông ta biến khỏi Lịch Sử, và dĩ nhiên cũng biến khỏi tất cả các tấm ảnh. Từ đây, Gottwald chỉ còn một mình trên cái ban công. Nơi trước đây Clementis đứng giờ chỉ còn lại bức tường trống của cung điện. Còn về Clementis thì chỉ còn lại chiếc mũ lông không vành trên đầu Gottwald.” (Theo bản tiếng Pháp Le livre du rire et de l’oubli, Gallimard, Paris, 1985).

5. Đám tang ông Đang diễn ra sáng ngày ông Táo Bính Tuất về giời (10/2/2007) tại nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Một liên danh các cơ quan có dính dáng đến những ngành nghề ông Đang từng làm đứng ra chủ tang: Bộ Giáo dục và đào tạo, Ban liên lạc Hội truyền bá quốc ngữ, Ban liên lạc Hội diệt dốt, Báo Văn Nghệ... Trưởng ban tang lễ là ông Chánh văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quan chức cao nhất đến viếng là bà thứ trưởng Bộ này. Ông bộ trưởng Bộ này bận việc, gửi vòng hoa đến viếng. Bà Ngô Thị Kim Thoa (vợ ông Phùng Cung) và bà Vũ Bội Trâm (vợ ông Phùng Quán) chít khăn tang lên đầu, viếng xong, đứng cùng thân quyến ông Đang bên linh cữu chịu tang, thay chồng làm bổn phận người em.

Tôi cùng nhà văn Nguyên Ngọc viếng ông Đang một vòng hoa trắng. Khá nhiều vòng hoa trắng viếng ông Đang. Chị bán hoa tang bảo: cụ ấy không vợ không con thì hoa trắng là đúng rồi, nhưng thọ thế thì em sẽ viền thêm hoa cúc vàng xung quanh. Lại bảo: anh đứng đây chờ em làm hoa xong để theo anh mang vào, chứ đám này bọn em không được tự mình mang hoa vào trong cho khách như các đám khác. Tôi hỏi vì sao. Chị ta bảo là họ đặt biển báo kia rồi. Tôi đi tới cổng nhà tang lễ và thấy một tấm biển nền đỏ chữ vàng có chân đứng đặt ở lối ra vào: “Chú ý: Khách đến viếng vui lòng tự mang hoa vào. Xin cảm ơn.”. Biển làm sẵn thế này là dùng cho những lúc cần dùng như thế này. Vào viếng cùng lượt với chúng tôi là nhà thơ Dương Tường mang vòng hoa bị hàng hoa đề sai tên mình thành ra rất tếu với ông Đang “Thương tiếc Anh, Dương Cường”. Viếng xong lượt mình, chúng tôi lại đi cùng đoàn viếng của talawas do nhà thơ Hoàng Hưng dẫn đầu. Giới thiệu đoàn này vào viếng, người xướng danh chỉ nói là đoàn nhà văn, nhà báo, vờ như không thấy cái tên talawas trong phiếu đăng ký viếng và trên băng tang vắt ngang vòng hoa.

Ông Đang nằm vây phủ lụa vàng trong quan tài mở nắp. Chín mươi lăm tuổi (âm) một đời người, ông còn gì, để lại gì, sau khi thân thể tan thành tro bụi (hỏa thiêu). Cái quan định luận. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo chép lại cho họ hàng ông Đang đôi câu đối ông làm khi ra tù về quê (1994) mà ông đã ghi vào sổ tay anh:

“Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi 
Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế, quý cuộc đời Phạm Lãi, Trương Lương”. 

Từ Đà Lạt, nhà thơ Bùi Minh Quốc nhờ chị Vũ Bội Trâm đặt viết trên lụa đôi câu đối viếng ông Đang:

“Dâng Tổ Quốc kỳ đài Độc Lập vun gốc Nhân Văn một đời trong trắng
Hiến Nhân Dân diệu lý Tự Do đắp nền Pháp Trị muôn thuở sáng ngời”.

            Tôi ghi sổ tang:
.
            “Ông Nguyễn Hữu Đang là ai?
            Ông truyền bá quốc ngữ.
            Ông tổ chức ngày độc lập 2/9/1945.
            Ông làm Nhân Văn-Giai Phẩm.
            Ông đã sống và đã chết Một Con Người.
            «Mỗi số phận chứa một phần lịch sử»
            Nền dân chủ tự do của nước Việt sẽ có ghi tên Ông"

 Hà Nội 8 - 10/2/2007
Nguồn: Quê Choa

 
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Phạm Xuân Nguyên: TÔI KỂ CHUYỆN NÀY ...

Tôi kể chuyện này 
Phạm Xuân Nguyên

Sáng 17/4/2013, báo Quân Đội Nhân Dân (QĐND) tổ chức cuộc tọa đàm mang tên “Văn học VN về chiến tranh và người lính sau năm 1975 – Những cách nhìn khác” tại trụ sở tòa soạn 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội. Cách khoảng mười ngày trước đó, tôi đã được nhà thơ T. là đại tá làm việc tại báo, nhân gặp tại một cuộc ăn trưa ở nhà hàng 17 Lý Nam Đế, có nói miệng về cuộc tọa đàm và bảo là sẽ mời anh đến tham gia, phát biểu ý kiến. Ngày 13/4/2013, T. gửi mail cho tôi như sau:

Anh ơi, chủ đề là “Văn học VN về chiến tranh và người lính sau năm 1975-Những cách nhìn khác”. Còn câu hỏi đối thoại thì hôm đó tranh luận mới sinh ra các vấn đề mới. Nhưng, sơ bộ mấy điều phải đạt được: 
1. Đánh giá những nét cơ bản thành tựu Văn học chiến tranh sau năm 1975?
2. Đánh giá đội ngũ nhà văn nhà thơ viết về chiến tranh sau năm 1975?
3. Văn học chiến tranh sau năm 1975 tiếp tục dòng chảy thời chiến hay phát lộ một dòng chảy mới?
4. Cái nhìn của người sáng tác (tư duy sáng tác) đối với hiện thực chiến tranh và lao động nhà văn sau năm 1975 như thế nào?
5. Những cách tân nghệ thuật?
* Văn xuôi đi vào thân phận con người?
* Thơ đi vào tâm trạng cá nhân và những dằn vặt thời hậu chiến. 
6. Hiện nay, khó khăn nhất của người sáng tác về đề tài chiến tranh là gì?
7. Những nhu cầu của người sáng tác, đề xuất với các cấp lãnh đạo văn nghệ.
vân vân và vân vân.
Thời gian: 8h32 phút sáng 17-4 (thứ Tư)

Chiều 16/4, lúc 4h56, T. gọi điện cho tôi nhắc là ngày mai anh nhớ đến dự tọa đàm, anh cứ vào cổng 7 Phan Đình Phùng, lên phòng khách, sau đó sang phòng họp, anh em mong chờ đón tiếp anh. Tôi nhận cuộc gọi này khi đang ở nhà. Sau đó tôi đi taxi đến một cuộc gặp bạn bè. Trên xe, vào lúc 5h42 PM, tôi nhận được cuộc gọi mới của T. báo hoãn cuộc tọa đàm ngày mai, anh không phải đến nữa. T. cho biết lý do hoãn là vì anh T. chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cũng được mời dự nhưng đang đi Sài Gòn, một anh T. khác dự phòng thay anh T. kia thì ngày mai cũng bận một “talk show” không đến được. Tôi đang mải đi nên nghe vậy cũng ừ ào. Nhưng sau khi uống bia với bạn bè xong, tôi chợt nghĩ đến cuộc gọi nói hoãn tọa đàm của T. thì sinh nghi. Tôi gọi lại cho T. bảo: tọa đàm là do báo QĐND mời, chủ nhà là báo QĐND, cớ sao vì anh T. vắng mà hoãn, thế chẳng hóa ra là xúc phạm đến những người được mời khác như tôi sao. Nếu vậy thì đây là một điều không thể chấp nhận được, tôi sẽ nói trắng sự thật ra cho mọi người biết. Nhưng tôi không tin là thế, chắc có điều gì khác ở đây. Có phải đây chỉ là bày cớ để ngăn tôi đến cuộc tọa đàm không. T. trả lời ấp úng. Tôi kiểm chứng qua nhà văn S. là người cũng được mời tọa đàm thì biết chắc cuộc tọa đàm ngày mai vẫn có, như thế rõ ra là chỉ tôi đã được mời nhưng đến phút chót bị ngăn cản. Tôi gọi lại T. nói huỵch toẹt điều này thì được T. xác nhận và cho biết: anh đừng nghĩ đây là Tổng cục Chính trị can thiệp, mà đây là một nhân vật có thế lực trong báo đề nghị loại anh ra khỏi danh sách, không muốn anh có mặt tại cuộc tọa đàm. Tôi hỏi: nhân vật cao nhất của báo là Tổng biên tập, thiếu tướng N, có phải không? T. nói: không phải, anh N. đang đi công tác, em gọi điện mãi không được. Đến nước này thì tôi chỉ biết cám ơn T. vì đã đưa tôi vào danh sách mời tọa đàm ngay từ đầu, nhưng trong lòng rất bất bình với cách cư xử của báo QĐND. Tối 16/4 về nhà tôi còn nhắn tin cho T.

- Nếu mai anh vẫn đến như không có em báo thì sao nhỉ?

- Anh ơi, đừng làm khổ em thêm nữa.

- Ôi, quân đội nhân dân. Chú cứ yên tâm.

- Em tê tái từ chiều đến giờ rồi. Để mai mốt anh P.N. về, em báo cáo lại. Chắc anh N. cũng sẽ buồn và ngượng.

Chuyện chỉ là vậy. Sáng 17/4 tôi có giờ dạy cho sinh viên Khoa Viết văn – Báo chí, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, nhưng đã chuyển buổi dạy sang chiều vì tính là đi dự cuộc tọa đàm tại báo QĐND. Buổi chiều lên lớp, các em hỏi sáng thầy đi dự tọa đàm thế nào, tôi nói rõ sự tình. Các em ngạc nhiên, không hiểu. Đấy là tôi chưa kể cho các em nghe chuyện mười năm trước. Tháng 10/2003, báo QĐND cũng tổ chức một cuộc tọa đàm nhan đề “Thơ hôm nay đi về đâu?” và tôi cũng được mời tham dự. Các ý kiến phát biểu khá cởi mở, thẳng thắn tại cuộc tọa đàm đó đã được đăng trên báo QĐND số ra ngày thứ Sáu, 31/10/2003. Báo ra và đã có những phản ứng, đặc biệt là cho rằng những người tọa đàm đã phủ nhận thơ kháng chiến. Nhà thơ T.A.T., người trực tiếp làm trang thứ Sáu của báo QĐND khi đó và là người tổ chức cuộc tọa đàm, cùng Tổng biên tập báo là thiếu tướng N.Q.T., đã phải vào Thành báo cáo Tổng cục Chính trị. Sau này anh T. kể cho tôi nghe là khi trình bày danh sách các khách mời tọa đàm, đến tên tôi, một sĩ quan cấp trên đã bảo anh T. là sao anh này từng bị tù ta (!) mà các anh cũng mời. Nghe thế anh T. choáng váng, chẳng biết phải nói sao nữa!

Toàn bộ chuyện này, tức là những câu chuyện điện đàm của T. và tôi về việc tôi không còn được có mặt trong cuộc tọa đàm của báo QĐND ngày 17/4, diễn ra trước và trong cuộc uống bia của tôi với các bạn văn ở quán bia Lan Chín tại phố Tăng Bạt Hổ, Hà Nội, vào chiều tối 16/4. Trong cuộc uống này có nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm. Và bên vại bia buổi giao mùa xuân hè, Cầm đã đọc cho bạn bè nghe bài thơ “Vô cùng” của mình:

Tất cả chúng ta thật lòng nói dối
Tất cả chúng ta áo đẫm mồ hôi
Tất cả chúng ta căn nhà chật chội
Giữa cõi vô cùng vô tận mà thôi.

Tất cả chúng ta đều bị theo dõi
Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi
Tất cả chúng ta như bầy chó đói
Ngửa mặt lên trời hóng bóng trăng rơi.

Tất cả chúng ta đều không vô tội
Mỗi đêm một tờ giấy trắng mồ côi.
 
Hà Nội 17.4.2013
*Ông Phạm Xuân Nguyên đang là chủ tịch HNV Hà Nội.

Nguồn: Quê Choa.


-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

NHÀ VĂN PHẠM XUÂN NGUYÊN LÊN TIẾNG BẢO VỆ CÔNG VIÊN THỐNG NHẤT

Luật Thủ đô và Công viên Thống Nhất
Phạm Xuân Nguyên
 
Luật Thủ đô đã được Quốc hội thông qua vào ngày 21-11-2012. Luật này có hiệu lực từ ngày 1-7-2013.

Có luật để việc xây dựng thủ đô Hà Nội được chính tắc. Nhưng sự chính tắc chỉ chính đáng khi người thi hành luật luôn vì lợi ích của thành phố, quyền lợi của nhân dân mà làm. Khi nghe tin Luật Thủ đô được thông qua ở Quốc hội tôi nghĩ ngay đến Công viên Thống Nhất đang “nóng” ở Hà Nội.

Đó là vì đầu tháng 11-2012, UBND TP Hà Nội đã chấp thuận dự án bãi đỗ xe ngầm kết hợp nổi với tổng diện tích gần 2.400 m2 trong công viên lớn nhất, có ý nghĩa chính trị và văn hóa nhất thủ đô này.
.
Dư luận lo ngại vì thực hiện dự án này nghĩa là thu hẹp diện tích của một công viên lớn nhất thủ đô, mà như thế nghĩa là cắt bớt khoảng không gian môi trường dành cho sự nghỉ ngơi, vui chơi của người dân, mà như thế nghĩa là giải quyết việc trước mắt (tình trạng ùn tắc giao thông) nhưng lại ảnh hưởng lợi ích lâu dài.

Công viên này ban đầu gọi là “vườn hoa” và được mang tên Thống Nhất vì nó được xây dựng trong thời kỳ cả nước đang kháng chiến chống Mỹ để thống nhất đất nước, với công sức lao động của người dân Hà Nội và những người con miền Nam trên đất Bắc bắt đầu từ năm 1958 khi cải tạo hồ Bảy Mẫu và hồ Ba Mẫu. Năm 1960, vườn hoa được hình thành. Ngoài phần diện tích mặt nước; hiện tại diện tích Công viên Thống Nhất gồm 33 ha mặt đất nhưng Công ty Công viên Cây xanh chỉ quản lý 24 ha, còn 9 ha là các loại đất khác. Chiều dài hàng rào sắt xung quanh chỉ còn 1.900 m, trong khi chu vi thực tế là 3.100 m, tức là có đến 1.200 m tường rào bị các công trình xây dựng của đủ các thể loại cơ quan, công ty và nhà cửa của dân cố tình che khuất. Tên gọi “Thống Nhất” cho công viên được giữ đến năm 1980 thì đổi thành “Công viên Lênin” vì chắc người ta nghĩ đất nước đã thống nhất thì phải đổi tên. Nhưng đến năm 2003 công viên lại được lấy lại tên Thống Nhất, còn tên Lênin thì chuyển về cho vườn hoa Chi Lăng ở đường Điện Biên Phủ.

Lướt qua lịch sử một chút vậy để thấy Công viên Thống Nhất tự nó là một công trình văn hóa tinh thần lớn và thực sự nó đã là một địa điểm văn hóa lớn của nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước mỗi khi về thủ đô. Hơn nửa thế kỷ qua, nhiều thế hệ người Hà Nội đã lớn lên trong không khí cảnh quan môi trường của công viên này. Mấy tiếng “Công viên Thống Nhất” đã ghi đậm dấu ấn kỷ niệm trong ký ức nhiều người sống ở Hà Nội, đến với Hà Nội. Hiện nay, khi mà không gian đô thị ngày càng chật chội, bức bối thì khoảng trời nước cây xanh rộng rãi của Công viên Thống Nhất càng trở nên quý giá và thiết thân đối với người dân thủ đô. Việc cần làm là chỉnh trang công viên cho thêm đẹp, thêm xanh, loại bỏ những hàng quán bu bám xung quanh nó làm nhếch nhác cảnh quan, dẹp trừ những hành vi càn quấy tiêu cực trong nó, để Công viên Thống Nhât thật sự là nơi chốn thư giãn, nghỉ ngơi, vui chơi, hoạt động văn hóa của mọi người dân. Dịp đại lễ ngàn năm thành phố quyết định chi gần 65 tỉ đồng để chỉnh trang 10,5 ha công viên là theo hướng đó và cần tiếp tục làm như vậy nữa. Hãy giữ gìn và tôn tạo nó thay vì cắt đất, thu hẹp không gian của nó. Nhìn ra nước ngoài, thử tưởng tượng nếu như vườn Luxemburg (Paris) hay vườn Thượng Uyển (Tokyo) cũng bị lấy đất làm bãi đậu xe thì sẽ ra sao với thủ đô Pháp và Nhật Bản.

Quyết định của UBND TP Hà Nội nói dự án sẽ “đáp ứng nhu cầu để ô tô của nhân dân trong khu vực; đảm bảo trật tự an toàn giao thông, góp phần giải quyết tình trạng ùn tắc, đỗ xe lấn chiếm lòng đường vỉa hè; hoàn thiện mạng lưới giao thông tĩnh trên địa bàn thành phố”. Tôi hoài nghi điều này khi mà thành phố không có một quy hoạch tổng thể về đô thị trong đó xây dựng và giao thông là hai vấn đề căn bản phải được nhìn xa trông rộng để có hướng giải quyết lâu dài, bền vững. Thời gian qua việc nạo vét lòng hồ, kè bờ hồ trong công viên là được. 

Hãy giữ cho Công viên Thống Nhất được thống nhất, đừng bị chia năm xẻ bảy cho các toan tính dự án khác nhau làm thiệt hại cho dân. Luật Thủ đô đã được Quốc hội thông qua không biết có những điều khoản về quản lý không gian đô thị không, hay luật đã ra mà những sự tùy tiện, lạm dụng vẫn còn.



-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

LÀM BÁO Ở VIỆT NAM THẬT NGUY HIỂM !

Điều tra tham nhũng, công việc đầy rủi ro của phóng viên VN 

Thanh Phương

Nhà báo Hoàng Khương bị toà kết án 4 năm tù (DR)
Nhà báo Hoàng Khương bị toà kết án 4 năm tù (DR)

Vụ nhà báo Hoàng Khương bị tuyên án 4 năm tù vì tội đưa hối lộ dĩ nhiên đã gây nhiều phản ứng bất bình trong giới báo chí cũng như trong công luận Việt Nam nói chung. Vụ này cũng cho thấy điều tra về hành vi tham nhũng là một công việc đầy rủi ro của phóng viên ở Việt Nam, một phần do chưa có những quy định luật lệ rõ ràng về phạm vi tác nghiệp báo chí.

Trong phiên xử kéo dài hai ngày vừa qua tại Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã có rất nhiều đồng nghiệp của Hoàng Khương ở báo Tuổi Trẻ cũng như một số đồng nghiệp từ các báo khác đến, để vừa đưa tin, vừa ủng hộ tinh thần cho một nhà báo bị vướng vào vòng lao lý chỉ vì phanh phui các vụ tiêu cực trong công an. 

Theo tường thuật của tờ Tuổi Trẻ, hôm qua, sau khi Hoàng Khương kết thúc lời nói sau cùng trước khi tòa tuyên án, đồng nghiệp, bạn bè, người thân của anh ở phía ngoài phòng xử án, theo dõi qua màn hình, đã đồng loạt đứng dậy vỗ tay. Đây là một hình thức gián tiếp bày tỏ sự bất bình của họ về vụ xử này. 

Qua cách tường thuật phiên xử, ban biên tập báo Tuổi Trẻ cũng đã gián tiếp tỏ thái độ không đồng tình với tòa, khi nhấn mạnh đến những lập luận của luật sư và của bị cáo, rằng Hoàng Khương chỉ sai sót về tác nghiệp, chứ không có động cơ cá nhân và như vậy không đáng bị buộc tội đưa hối lộ.

Trong bài báo đăng trên Tuổi Trẻ Online hôm nay, ban biên tập tờ báo này một lần nữa khẳng định đây chỉ là hoạt động tác nghiệp báo chí của Hoàng Khương và tuyên bố « Tuổi Trẻ vẫn luôn bên cạnh Hoàng Khương, chung vui với những bài báo đầy nhiệt huyết của anh và chia sẻ với những rủi ro nghề nghiệp của anh ». 

Rõ ràng vụ Hoàng Khương cho thấy là trong việc điều tra về tham nhũng ở Việt Nam, phóng viên rất khó biết được biết đâu là ranh giới giữa hợp pháp và bất hợp pháp, do vẫn chưa có những quy định rõ ràng về quy trình tác nghiệp báo chí. Vì quá nhiệt tình, say sưa với việc điều tra, nhiều khi nhà báo phải « nhập vai », thực hiện những hành vi bất hợp pháp, để có thể tiếp xúc với các đối tượng bị điều tra và qua đó thu thập chứng cứ. Cũng như có phóng viên đã đóng vai khách làng chơi để tìm hiểu về các ổ mại dâm hay giả làm dân nghiện để phanh phui các đường dây buôn bán ma túy. 

Nhưng đối với tòa, hành vi của nhà báo Hoàng Khương trực tiếp đưa tiền hối lộ cho cảnh sát giao thông Huỳnh Minh Đức để nhận lại xe vi phạm giao thông không phải là tác nghiệp báo chí, mà là vi phạm luật hình sự, cho nên phải xét xử theo luật. 

Thật sự, nếu xét thuần tuý về lý, thì đúng là khó mà phản bác lập luận cứng nhắc này của tòa, nhất là vì bản thân nhà báo Hoàng Khương đã không báo cáo cho ban biên tập báo Tuổi Trẻ về việc trực tiếp đưa tiền hối lộ trong quá trình điều tra viết bài. 

Nhưng xét về tình, thì rõ ràng nhà báo Hoàng Khương không đáng bị xử nặng như thế, nhất là vì chính tòa đã công nhận rằng Hoàng Khương đã có công giúp cơ quan điều tra phát hiện các vụ tiêu cực của cảnh sát giao thông Bình Thạnh. Vụ xử Hoàng Khương 4 năm tù chắc chắn sẽ làm ngán ngại bất cứ phóng viên nào muốn điều tra về tham nhũng ở Việt Nam. Ấy là chưa kể vụ này khiến người có cảm tưởng là chính quyền một lần nữa muốn dằn mặt ban biên tập báo Tuổi Trẻ, một tờ báo đã biết bao lần nằm trong tầm ngắm của chính quyền. 

Vấn đề là liệu một khi có những quy định rõ ràng về tác nghiệp báo chí khi điều tra tham nhũng, thì phóng viên có sẽ được an toàn hơn hay không ? Đây lại là chuyện khác, bởi vì ở Việt Nam, đụng vào tham nhũng cũng giống như rút dây động rừng, nhà báo phải biết đến đâu là nên dừng, bằng không sẽ lại trở thành những Nguyễn Việt Chiến, những Hoàng Khương khác.


Làm báo ở Việt Nam thật 'nguy hiểm'

BBC - Nhân chuyện phóng viên Hoàng Khương bị tuyên án bốn năm tù, nhà phê bình, nhà báo Phạm Xuân Nguyên nói với BBC Việt Ngữ về những nguy hiểm khi làm phóng viên ở Việt Nam.

Theo ông, “các phóng viên, nhà báo làm về mảng đó [tham nhũng] luôn luôn là mảng nguy hiểm.” “Vì càng dấn sâu vào sự tham nhũng đó, vì quyền lợi của họ, họ sẽ không từ một thủ đoạn nào.

“Mà nhà báo muốn tác nghiệp một các khách quan, tiếp cận được sự việc, phanh phui ra để pháp luật xử lý, để xã hội biết được, thì đôi khi họ cũng phải đổi bằng tính mạng.”

Ông cũng lấy ví dụ về trường hợp hai nhà báo của VOV bị đánh khi đang thi hành nhiệm vụ dù đã trình thẻ nhà báo.

Bình luận về vụ phóng viên Hoàng Khương, ông nói: “Ở đây có hối lộ hay không hay là tác nghiệp”, và ông cũng cho bày tỏ ý kiến nghiêng về phía phóng viên Hoàng Khương “không làm gì khuất tất” mà chỉ làm việc theo yêu cầu của ban biên tập báo Tuổi Trẻ.

Ông Phạm Xuân Nguyên nhấn mạnh, "ở Việt Nam, khi mà pháp luật chưa được tôn trọng tối đa, chưa được thực thi triệt để, thì các nhà báo luôn luôn phải đối chọi với thách thức".

Mời quý vị nghe cuộc phỏng vấn với ông Phạm Xuân Nguyên trong phần âm thanh đi kèm.



-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Phạm Xuân Nguyên: NGUYÊN NGỌC 80 TUỔI VẪN BƯỚC TRÊN ĐƯỜNG XA

Nhà văn Nguyên Ngọc 80 tuổi vẫn bước trên đường xa  

TT - Ngày 5-9 Nguyên Ngọc đã bước sang tuổi 80 của đời người. Vậy mà trông ông vẫn trẻ trung, linh hoạt, vẫn xuân, nhìn ông, nghe ông ít ai nghĩ đó là một người đã cao tuổi...

Bí thư Thành ủy Hội An Nguyễn Sự chúc mừng nhà văn Nguyên Ngọc - Ảnh: Hoàng Duy

Chữ “xuân” ở đây không hề khuôn sáo, bởi vì trong mắt những người thân thiết của ông, ông như không có tuổi, ông như trẻ mãi không già. Cả cuộc đời ông có thể gói gọn trong một chữ ĐI, hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

1
Nguyên Ngọc đi nhiều trên thực địa. Bàn chân ông đã in dấu khắp đất nước, không kể Tây nguyên là chốn thân thuộc như quê hương thứ hai, ông đã đi từ địa đầu Lũng Cú đến đất mũi Cà Mau, đã dọc ngang trên rừng dưới biển. Ông đã đi rộng trong văn hóa, đọc nhiều, dịch nhiều, hăm hở mang kiến thức của nhân loại đến mọi người, nhất là những nghiên cứu dân tộc học, và miệt mài ứng dụng những điều đã đọc, đã biết vào những vấn đề cấp thiết của cuộc sống hiện tại.

Ông đã đi sát đời sống của nhân dân, của những người dân bình thường, nhất là người dân Tây nguyên, để hiểu rõ, hiểu sâu những nỗi khốn khổ và bức xúc của họ, và tìm cách nói cho họ những mối quan tâm lo lắng không chỉ về cuộc sống thường ngày mà còn về chuyện bản sắc, tinh thần, tâm linh.

Ông đã đi sâu trong tư duy, trong cách nghĩ từ những vấn đề trọng đại, lớn lao của đất nước đến những lo âu thiết thực của người dân phải đối mặt với bao khó khăn vất vả đời thường.

Người đi là người có sức khỏe, không chỉ khỏe cơ thể mà cái chính là khỏe tinh thần, một đầu óc luôn không ngớt đặt câu hỏi về “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nguyên Ngọc là Người Đi, đặt trong hệ thống Người Làm, Người Chơi. Cho đến cả dịp sinh nhật tuổi 80 của ông vẫn là đi.

2
Đi lên Pleiku (Gia Lai), trở về mảnh đất đã nuôi dưỡng ông thành một con người của Tây nguyên, một nhà văn của Tây nguyên. Ông đã xúc động trào nước mắt, nghẹn ngào không nói nên lời, trong tình cảm ấm áp thành thực của đồng bào đồng chí Gia Lai, Kon Tum đón mừng ông như đón một người con của núi rừng, một người dân của buôn làng. Ông càng xúc động hơn nữa khi thế hệ trẻ hôm nay là các cháu học sinh, sinh viên đến để được nhìn thấy ông, trò chuyện cùng ông, xin ông chữ ký vào tác phẩm Đất nước đứng lên. 

Đặc biệt, có hai chị em tên Nguyên và Ngọc do bố yêu quý nhà văn nên lấy tên ông đặt tên con mình đã lên chào ông và đưa sách cho ông ký tặng. Rồi hai chị em Pơ và Panh, những người con gái Ba Na từng đóng vai trong phim Đất nước đứng lên, đã từ Kon Tum cùng bố mình về Pleiku chúc thọ Nguyên Ngọc... Sáng 4-9 tại Thư viện tỉnh Gia Lai, nhà văn Nguyên Ngọc đã thật sự vui sướng và hạnh phúc nhất. Ông đã khóc khi được trở về sống giữa lòng dân, được dân yêu quý mừng thọ...

Từ Pleiku đến Hội An đúng ngày sinh (5-9), nhà văn lại được sống trong bầu không khí xúc động, đầm ấm. Hội An là nơi ông cất tiếng chào đời và là nơi cuối đời ông về lại lập nên một trường đại học để giúp một vùng quê hương xây nền tảng tri thức bền lâu.

Nguyên Ngọc sẽ lại đón tuổi 80 của mình ở Hà Nội, trong gia đình tạp chí Tia Sáng. Tạp chí này đã dành hẳn một số cho ông với những bài viết của các đồng nghiệp. Họ không chỉ nói về ông mà còn cùng ông nói về những vấn đề của cuộc sống hôm nay. Cũng trong dịp này, cuốn sách Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa đã ra mắt. Như lời giáo sư Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức, nói trong lời cùng bạn đọc: “Vậy thì Nguyên Ngọc còn phải sống và “chiến đấu” dài dài cùng với chúng ta, không phải chỉ là để “Đi mãi... để còn thấy con tạo xoay vần đến đâu” mà còn để chứng kiến cuộc sống vẫn cứ lừng lững đi tới”.

Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa, đúng vậy. Ông là người đi đường không biết mỏi. “Đã bát tuần rồi Nguyên Ngọc ơi” - lời cảm thán của giáo sư Phạm Duy Hiển đã như nói thay mọi người lòng khâm phục trước một Người Đi quên tuổi tác, tháng năm. Đó là Nguyên Ngọc của chúng tôi, và của chúng ta.

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Hội An mừng nhà văn Nguyên Ngọc 80 tuổi 

Chiều 5-9, đúng ngày nhà văn Nguyên Ngọc tròn 80 tuổi, tại Hội An - nơi nhà văn đang đảm nhiệm chức vụ chủ tịch hội đồng quản trị Trường đại học Phan Châu Trinh, Thành ủy, UBND TP Hội An (Quảng Nam), ban giám hiệu Trường ĐH Phan Châu Trinh và bạn bè, đồng nghiệp, học trò... tổ chức mừng sinh nhật ông. Nhiều đồng nghiệp, thân hữu ở xa cũng kịp về phố cổ chia vui cùng ông như GS Chu Hảo, GS Phạm Duy Hiển, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng, nhà thơ Bùi Minh Quốc... Nhiều bạn bè ở xa không đến được cũng gửi nhiều lẵng hoa chúc mừng ông.

Buổi mừng sinh nhật đã biến thành buổi gặp mặt ấm áp tình người, tình đồng chí, đồng nghiệp, tình thầy trò. Tất cả đều dành cho ông những tình cảm sâu sắc, chúc ông nhiều sức khỏe để tiếp tục dấn thân cho lớp trẻ, cho đất nước. Bí thư Thành ủy Hội An Nguyễn Sự chúc mừng và khẳng định: Đất Quảng nói chung, Hội An nói riêng tự hào về nhà văn Nguyên Ngọc. Một con người đầy trí tuệ với một cái tâm sáng mà bất cứ khi nào gặp ông cũng gây cho người đối diện nhiều điều thích thú về những điều luôn mới ở ông. GS Chu Hảo nói ông rất vui được là bạn của nhà văn Nguyên Ngọc - một nhà văn lão luyện, một dịch giả tài hoa, một nhà hoạt động dấn thân trong đời sống giáo dục, đời sống văn hóa. Nguyên Ngọc dấn thân quyết liệt như đặc trưng của người Quảng Nam nhưng cũng hết sức hồn nhiên như ông vốn có.

Chúc thọ mừng thọ nhưng không ai nói đến chuyện tuổi tác, sức khỏe, mọi người chỉ nói về một cuộc hành trình mà Nguyên Ngọc đã đi từ rất sớm và vẫn còn bước đi tiếp, cứ như tuổi 80 không là một gánh nặng thời gian.

HOÀNG DUY
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

“ĐỘC LẬP, TỰ DO, HẠNH PHÚC”
 Phạm Xuân Nguyên

Đó là dòng tiêu đề gồm ba từ sáu chữ luôn xuất hiện cùng quốc hiệu Việt Nam trong 67 bảy năm qua, từ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau ngày 2/9/1945 đến Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay. Sáu chữ đơn giản nhưng đó là “ham muốn tột bậc” của người khai sinh ra chính thể cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á, là cái đích Người đặt ra cho những người đồng chí hướng của mình phải phấn đấu hy sinh đưa lại cho dân tộc mình, cho quốc dân đồng bào mình. Ba từ bình dị mà thiêng liêng đã được Người nung nấu từ lòng yêu nước luôn cháy bỏng trong lòng. Có lẽ Người đã nghiền ngẫm nhiều từ câu khẩu hiệu nổi tiếng của cuộc Đại cách mạng Pháp “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” (Liberté, Égalité, Fraternité). Trong hoàn cảnh Việt Nam “bình đẳng” trước hết phải là “độc lập”. Thực dân Pháp khi sang đô hộ nước ta đã dựa vào cái tư tưởng chủng tộc văn minh, tiến hóa, thể hiện trong câu nói “Có đồng đẳng mới bình đẳng”. Dưới  mắt chúng, giống dân da vàng là thấp kém về chủng tộc, về văn hóa, không thể nào sánh vai ngang hàng được với giống dân da trắng văn minh, tiến bộ. Người thanh niên Nguyễn Ái Quốc cũng như bao người Việt Nam yêu nước khác không bao giờ chấp nhận sự áp đặt lịch sử phi tự nhiên đó. Độc lập dân tộc sẽ đưa lại bình đẳng cho quốc gia và con người. Cuộc cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chứng minh cho mục đích đó. Khi Hồ Chí Minh sang Pháp tháng 6/1946 Người đã ở vị thế chủ tịch của một nước Việt Nam mới độc lập, thoát khỏi ách thống trị của nước Pháp và buộc nước Pháp phải đón tiếp ở tư thế thượng khách. Bình đẳng luôn phải trong tư cách độc lập, càng ở tầm vóc quốc gia càng phải vậy.

Độc lập đi liền với tự do. Độc lập dân tộc đi liền với tự do của người dân. Chính Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh tư tưởng nếu nước độc lập mà người dân không được tự do thì cái độc lập đó cũng không để làm gì. Tự do là một tài sản quý giá và vĩnh hằng của con người, có thể coi đó cũng là một quyền tự nhiên của con người. Chính trong Tuyên ngôn độc lập của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng của các nhà lập quốc Hoa Kỳ để từ những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do, suy rộng ra quyền của một dân tộc. Cũng trên tinh thần đó, tôi nghĩ, vị chủ tịch của nước Việt Nam mới đã mở rộng tư tưởng “bác ái” thành “hạnh phúc”. Bác ái là tình thương, lòng yêu mến con người rộng khắp, bao trùm. Hạnh phúc là tình thương được cụ thể hóa thành “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Hạnh phúc là tình thương cho mọi con người được chan hòa bình đẳng trong một cộng đồng ấm no, hòa bình. Hạnh phúc là khi con người được thỏa mãn những nhu cầu và yêu cầu chính đáng của mình. Hạnh phúc là khi người dân được sống đầy đủ các quyền công dân của mình trong một đất nước độc lập, dưới một nhà nước bảo đảm cho họ quyền tự do dân chủ, nhất là tự do tư tưởng. Năm 1956 đến nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, trường Đại học Nhân Dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ ràng điều này: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.”

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Mỗi năm đến ngày cách mạng tháng Tám và ngày Quốc khánh, tôi thường ngẫm về ba từ sáu chữ này. Gắn với tên nước và tên gọi chế độ từ thuở ra đời, ba từ đó theo tôi là toàn bộ di sản chính trị và toàn bộ lòng yêu nước của một con người mang tên Hồ Chí Minh để lại cho đất nước và nhân dân ta. Trong những ngày này năm nay, độc lập càng đòi hỏi được bảo vệ và củng cố, tự do càng được yêu cầu bảo đảm, hạnh phúc càng được khát khao đạt tới.  Ba từ nói thì dễ, đọc thì nhanh, nhưng làm thì khó khăn, lâu dài, đó là một chuyện đơn giản khó làm.
        Hà Nội 31.8.2012
(Bài đăng báo Tuổi Trẻ, 1/9/2012, đây là bản chính của tác giả)

Nguồn: Quê Choa.




-->đọc tiếp...