Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn SM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

THÔI CHẾT! QUẢNG NINH CHO TÀU THUÊ ĐẤT ĐẾN 120 NĂM !

Quảng Ninh quá mạo hiểm với đề xuất cho thuê đất 120 năm!

Ngay sau khi đề nghị với Trung ương để phát triển Móng Cái, Vân Đồn thành đặc khu kinh tế, tỉnh Quảng Ninh đã tiếp tục đề xuất đặc cách cho phép các doanh nghiệm đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ được phép thuê quyền sử dụng đất lên tới 120 năm. 

Thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Theo Bí thư Thành ủy Quảng Ninh Phạm Minh Chính, các doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ có thể thuê quyền sử dụng đất tới 120 năm khi trả tiền một lần. Trong một số dự án kinh doanh đô thị hiện đại, thời gian sử dụng đất có thể lên đến 99 năm, ngoài ra, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê quyền sử dụng đất trong 70 năm được phép thế chấp để vay vốn đầu tư. Một số đối tượng người nước ngoài còn được đề xuất có quyền mua và sở hữu nhà ở dưới nhiều hình thức khác nhau. Ông Chính cho biết, trước hết tỉnh Quảng Ninh sẽ đề nghị được áp dụng những chính sách này thí điểm ở Vân Đồn. Đi kèm với chính sách ưu đãi về đất đai ở Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh còn đề xuất các chính sách hỗ trợ đặc biệt về thuế như miễn 15 năm thuế nhập doanh nghiệp với dự án công nghệ cao; 20 năm với dự án dịch vụ; giảm 70% thuế thu nhập cá nhân trong 15 năm cho bất kể ai làm việc ở đây; miễn 100% thuế đối với các khoản thưởng hằng năm với lao động có trình độ cao…
 
Có thể thấy, so với những chính sách về miễn giảm thuế hiện nay thì những đề xuất của Quảng Ninh thể hiện một sự ưu ái chưa từng có trong lịch sử mời gọi đầu tư của các tỉnh. Ông Bí thư Thành ủy cũng khẳng định rõ ràng, mục tiêu chính là để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, giảm thiểu sự can thiệp của chính quyền vào thị trường. Được biết, các đề xuất của Quảng Ninh đang nhận được sự đông thuận từ các Bộ, ngành.
 
Những đề xuất về hai đặc khu kinh tế của Quảng Ninh ở Móng Cái và Vân Đồn cộng với hàng loạt các chính sách ưu đãi tối đa về đất đai và thuế được đưa ra song song với chuyến thăm và làm việc tại Quảng Đông, Trung Quốc của bà Phó Bí thư Thường trực Đỗ Thị Hoàng với mục đích giới thiệu môi trường đầu tư và kinh doanh của tỉnh cho thấy, Quảng Ninh đang hướng về các nhà đầu tư Trung Quốc. Điều này khiến nhiều người lo ngại, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc đang thể hiện một thái độ thiếu thiện chí trên Biển Đông nhằm chiếm đoạt các vùng lãnh hải hợp pháp của Việt nam. Không chỉ có vậy, thương lái Trung Quốc luôn để lại tai tiếng qua các hoạt động thương mại mang tính phá hoại đối với hàng nông lâm hải sản ở khắp các tỉnh thành của nước ta. Còn các nhà thầu xây dựng Trung Quốc cũng quá “nổi tiếng” với kiểu làm ăn bát nháo, bỏ của chạy lấy người. Liệu có thể tin tưởng được những nhà đầu tư kiểu như vậy khi vào Móng Cái hoặc Vân Đồn sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội của Việt Nam?
 
Với vị trí giáp ranh với Trung Quốc của Vân Đồn và Móng Cái, đề xuất mở toang cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài – mà cận kề nhất là người Trung Quốc tới làm ăn của Quảng Ninh khiến nhiều người lo lắng.  Với những nơi tiền tiêu trọng yếu này, việc rước người nước ngoài vào “trấn giữ” 120 năm quả thật quá mạo hiểm và chưa từng có trong lịch sử bảo vệ biên giới, lãnh thổ của nước ta.
Trường Giang 
Nguồn: SM.
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

THÀNH ỦY HÀ NỘI SẼ GIẢI TRÌNH RA SAO VỀ VẤN ĐỀ NÀY?

Những bộ phim chào mừng 1000 năm Thăng Long: 
Muốn “chào” cũng không ai “mừng”

Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đã đi qua được gần 3 năm, thế nhưng một số bộ phim được sản xuất để chào mừng dịp lễ này đến nay vẫn chưa được ra mắt khán giả. Thậm chí, bộ phim “Thái sư Trần Thủ Độ” được phát miễn phí mà các đài truyền hình còn chưa muốn nhận. Số phận một bộ phim ngốn đến 57 tỷ đồng tiền ngân sách thành phố cho 30 tập không khác nào những công trình tiền tỷ sinh ra đề “chào” nhưng cũng không ai thấy “mừng” cho sự hiện diện tốn kém của chúng.


Dịp đại lễ được lên kế  hoạch cả 10 năm trước đó, hàng nghìn tỷ đồng bỏ ra sang sửa cho bộ mặt thành phố, nhưng rồi chỉ 3 năm sau, giờ đã loang lổ, sập xệ. Thiết tưởng kế hoạch sản xuất phim chào mừng đại lễ cũng phải chuẩn bị xong đâu vào đấy rồi, nhưng đúng dịp đại lễ thì 3 bộ phim dành “cúng cụ” đều gặp rắc rối cả.

“Lý Công Uẩn” đầu tư 100 tỷ  đồng, nhưng vì mải chạy theo sự “hoành tráng” nên quên béng mất cội nguồn dân tộc, mọi thứ đều bị Tàu hóa đến khó sửa nên đành xếp 100 tỷ đồng vào xó, coi như anh em diễn viên đạo diễn, người làm phim… cũng có “chút kinh phí” ăn mừng đại lễ. Còn “Huyền Sử Thiên Đô” đầu tư 60 tỷ đồng kinh phí, lên sóng được 42 tập thì lỗ nên cũng phải sớm “thăng thiên”. Giờ đến “Thái sư Trần Thủ  Độ” dù được tận 3 giải Cánh diều vàng 2012 nhưng vì “phim làm để “cúng cụ” mà “ngày giỗ qua lâu rồi mới dâng đồ cúng tế, chả phải là “sái sẩm” lắm sao” – theo như báo Lao động bình luận. Vì thế, bà Phó Chủ tịch TP.Hà Nội – Nguyễn Thị Bích Ngọc cũng phải ngậm ngùi rằng: Vì phim làm từ ngân sách nên thành phố phải tìm mọi cách để phim đến được với khán giả. Thậm chí, Hà Nội đã tính đến chuyện gửi tặng từng tỉnh, thành phố trong cả nước để phát sóng, “biếu không” đài THVN, nhưng đến giờ, sau khi phát hành vào tháng 8/2012, gần 1 năm sau phim vẫn chưa ra mắt khán giả.
 
Phim Lý Công Uẩn được tờ Tân Hoa xã của Trung Quốc đánh giá cao

Có lẽ do đây là bộ phim theo đơn đặt hàng, cũng phải có dịp thì phát lên sóng mới có ý nghĩa, hơn nữa, lịch phát sóng  đã được các đài lên kế hoạch “cẩn thận” nên bộ phim dài 30 tập, có kinh phí đầu tư 57 tỷ đồng vẫn còn truân chuyên lắm.
 
Với 3 bộ phim kinh phí hàng chục tỷ đồng có kết cục “buồn”, dường như  các nhà làm phim thì “kiệt sức” vì  những dự án quá lớn, nên cũng chẳng mấy quan tâm đến chuyện nó có ra mắt khán giả hay không. Hơn nữa, tiền ngân sách chứ có phải “của đau con xót” đâu mà chạy đôn chạy đáo cho nó được phát sóng thu tiền quảng cáo. Được giải thưởng cũng là vinh danh hết sức rồi, hơi đâu mà quan tâm xem khán giả có được xem, có thích hay không. Mà chưa kể, bị giới phê bình đào bới chán vì nhìn thấy “món hời” ngân sách chi không tiếc tay, giờ phát sóng khán giả chê bai chỉ thêm mệt.
 
 
Vậy là, có phát sóng những bộ  phim này nữa hay không cũng chẳng ai quan tâm, không ai phải chịu trách nhiệm, tiền “chùa” mà. Chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thì cũng qua rồi, giờ có muốn “chào” ra mắt khán giả cũng chẳng ai “mừng”, âu cũng coi như đây là những cơn “bão rớt” của phim ngân sách. Chỉ có “ông chủ đầu tư” mang tên “toàn dân” cho những bộ phim kia là xót, bởi tối tối vẫn phải ngồi “giải trí” trước những hạt sạn to đùng, cố nuốt cho trôi ngủ gà ngủ gật trước màn hình TV để lấy sức sáng mai đi làm, dành tiền đóng thuế tiếp.
 


Nguồn: SM
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

KHẨN CẤP: TRUNG CỘNG ĐÃ NỔ SÚNG TRÊN BIỂN ĐÔNG

Tàu Trung Quốc đã bắn cháy tàu cá Việt Nam tại Hoàng Sa 
24/03/2013 - 09:17

Theo Tiền Phong đưa tin, tàu Trung Quốc đã chính thức nổ súng vào tàu cá Việt Nam, kéo dài chuỗi hành động từ uy hiếp và đến nay đã đe dọa tính mạng ngư dân. Không chỉ vậy, chúng đã cắm cờ, xây cột mốc trên các đảo không người tại Hoàng Sa. 
 Một góc cabin cháy của tàu QNg 96382. Ảnh: Tiền Phong

Cập bến An Hải, Lý Sơn ngày 22/3, ông Phải và 9 thuyền viên vẫn còn bàng hoàng trên chiếc tàu cá bị bắn tả tơi, đồ đạc cháy nham nhở. Ông Phải kể lại, khoảng 10h sáng ngày 20/3, trong khi chuẩn bị kết thúc phiên đánh bắt tại khu vực đảo Lin Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tàu QNg 96382 của thuyền trưởng Bùi Văn Phải đã bị tàu Trung Quốc hùng hổ truy đuổi.

Không có rạn san hô để làm chướng ngại vật, tàu của ông buộc phải chạy thẳng. Sau 30 phút rượt đuổi, lính Trung Quốc nổ súng vào tàu của ông. Lửa bắt vào nóc cabin phủ nhựa cháy ầm ầm, bên trong cabin vẫn còn 4 bình ga, không dập tắt sẽ nổ. Bất chấp nguy hiểm (có thể bị Trung Quốc bắn), ông Thạch, một ngư dân lớn tuổi, đã lao lên nóc lấy nước chữa cháy. Lúc này, tàu Trung Quốc quay đầu đi mất.

Ông Phải cho biết, chi phí sửa tàu khoảng hơn chục triệu đồng, nhưng chi phí thiệt hại vì tổn phí chuyến biển lên đến hàng trăm triệu đồng. Đây không phải lần đầu tiên tàu QNg 96382 đối mặt với sự côn đồ của tàu Trung Quốc. Trước đó, trong khi đánh bắt tại đảo Đá Lồi, ông cũng đã từng bị 2 tàu mã số 262, 263 (có thể là tàu Hải giám) chặn đuổi.
.
 Ảnh: Người đưa tin

Như vậy, chỉ riêng trong tháng 3, tại Hoàng Sa, đã có 3 tàu cá của ngư dân Lý Sơn đụng độ với tàu Hải giám, tàu tuần tra Trung Quốc, mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Thậm chí, cuối năm 2012, tàu chiến của Trung Quốc cũng đã xuất hiện uy hiếp ngư dân. Nghiêm trọng trên cấp độ quốc gia, theo thuyền trưởng Bùi Văn Trung (tàu QNg 50949) - người cũng bị Trung Quốc đập phá tài sản ngư cụ, cướp hải sản ngày 17/3 - cho biết từ đầu năm đến nay, những hòn đảo, cồn cát ở Hoàng Sa dù không có người ở nhưng Trung Quốc đã xây cột mốc và cắm cờ Trung Quốc.
.
Ngày 19/3, với động thái yếu ớt, Ủy ban Biên giới Việt Nam đã cử đại diện nào đó cất tiếng phản đối với giai điệu phản đối quen thuộc, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hành vi sai trái. Các lực lượng có chức năng giám sát biển, bảo vệ ngư dân vẫn chưa cho thấy là một chỗ dựa vững chắc cho ngư dân Việt Nam. Trong khi đó, tại New York ngày 15/3, trong chuyên đề hội thảo “Biển Đông - Quả bom hẹn giờ”, các học giả quốc tế đều chia sẻ nỗi cảm thông với ngư dân Việt Nam đang bơ vơ đối mặt trước một Trung Quốc hung hăng khi đánh bắt trong vùng biển Hoàng Sa - một khu vực tranh chấp song phương và dường như chỉ tồn tại thứ chủ quyền lấn lướt của Trung Quốc.
Theo ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới CP, mặc dù Việt Nam đã có có khá đầy đủ các lực lượng chấp pháp trên các vùng biển của mình như Cảnh sát Biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Công an, Hải quan, tuy nhiên, các lực lượng này phối hợp với nhau để tròn một bổn phận là giám sát biển, bảo vệ chủ quyền như thế nào vẫn là một câu hỏi lớn. Những lực lượng chấp pháp này đã ở đâu khi ngư dân bị những nhóm “hải tặc” trá hình của Trung Quốc đe dọa?
Sơn Minh 
Nguồn: Sống Mới.

Không hiểu Đảng và Nhà nước lo thế nào mà ra nông nỗi này! 
Bạn vàng của Đảng đây ư?
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

HỘI THẢO BIỂN ĐÔNG: VIỆT NAM THỂ HIỆN YẾU ỚT

Hội thảo Biển Đông: Việt Nam thể hiện yếu ớt

Hội thảo quốc tế về tranh chấp Biển Đông diễn ra từ 13-15/3 do Asia Society và Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore) đồng tổ chức ở New York, Mỹ đã thu hút các học giả quốc tế từ Mỹ, Singapore, Philippines và Việt Nam. Riêng Trung Quốc đã cử một trung tướng đến tham dự và đưa ra những phát ngôn mập mờ về một thứ lợi ích cốt lõi đầy đe dọa tại Biển Đông.



Chủ đề trong Hội thảo Biển Đông đã tập trung vào các nhân tố nòng cốt đưa ra giải pháp hòa bình tại Á-Thái Bình Dương. Điều này đồng nghĩa với việc tranh chấp tại khu vực này đã được đưa ra mổ xẻ theo các chủ đề chính như nguồn gốc của tranh chấp ở Biển Đông; quan hệ Mỹ-Trung ở Biển Đông; vai trò của luật pháp và quản trị quốc tế; quan điểm của ASEAN về Biển Đông và hệ quả đối với hòa bình và an ninh khu vực và các bài học, đề xuất chính sách.

Ngay bài phát biểu khai mạc hội thảo, Đại sứ tại Singapore ông J. Stapleton Roy đã đưa ra tình huống nan giải của Mỹ khi rơi vào thế: vừa giữ trung lập tại Biển Đông nhưng cũng không thể không can thiệp vào những vấn đề của Philippines đang phải đối mặt với Trung Quốc tại Trường Sa và vùng biển phụ cận châu Á – Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, vị đại sứ cũng nhắc đến vấn đề cấp thiết của Quy tắc ứng xử Biển Đông COC cũng như những trở ngại đế từ thái độ khiêu khích “tiêu cực” của chính quyền Bắc Kinh.
 
Trong khi đó, cựu Thứ trưởng ngoại giao Mỹ, phụ trách khu vực Đông Á Thái Bình Dương ông Christopher Hill đã đưa ra một biểu tượng nguy hiểm mà chính quyền Bắc Kinh mắc phải đó là trộn lẫn vấn đề tranh chấp lãnh hải với ngủ nghĩa dân tộc, trong đó biểu hiện rõ nhất là cuộc biểu tình chống Nhật trong tháng năm 2012.
 
Trong diễn giải chi tiết về tình trạng tranh chấp tại Biển Đông, ông Henry Bensurto đến từ Bộ Ngoại giao Philippines đã nhấn mạnh đến mối quan hệ lịch sử ngàn năm với Trung Quốc là một vốn liếng quan hệ nền tảng, tuy nhiên, chỉ trong 100 năm, tình thế đã xấu đi. Trong đó, việc cô lập từng nước vào thế tranh chấp song phương đang khiến tình trạng tồi tệ hơn. “Nếu như hơn 2 thập kỷ trước, giữa Trung Quốc và Việt Nam có tranh chấp, chúng tôi im lặng, vì đó là vấn đề song phương, thì bây giờ, đó lại là vấn đề mà chúng tôi đang phải đối mặt” - ông Henry nói. Về COC, ông Henry cũng đã nhấn mạnh đến nội dung và tính pháp lý mới là nhân tố quyết định chứ không phải chỉ là một bản thỏa thuận được lập ra như một giải pháp tình thế.
 
Vấn đề Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế cũng được ông Hoàng Tinh - Giáo sư trường ĐH Chính sách công Lý Quang Diệu nhấn mạnh như một sự kiện cho thấy Trung Quốc sẽ không thể lảng tránh, bởi đây đã là một vấn đề quốc tế.
 
Trong khi đó, đại diện của Trung Quốc, Trung tướng thuộc Học Viện quốc phòng Trung Quốc ông Chu Thành Hổ đã có 1  bài phát biểu gây tranh cãi nhất trong ngày đầu tiên diễn ra hội thảo và… biến mất trong các hội nghị thảo luận chi tiết 2 ngày sau đó. Vẫn với giọng điệu mập mờ, ông Chu vẫn kêu gọi hợp tác Mỹ - Trung, cùng tôn trọng lợi ích cốt lõi của hai bên. Ông này cũng hùng hồn tuyên bố rằng Trung Quốc không hề muốn gây hấn hay tạo bất ổn trên Biển Đông, có chăng chỉ là bảo vệ lợi ích cốt lõi của nước này. Cho đến nay, lợi ích cốt lõi của Trung Quốc tại Biển Đông vẫn chưa được làm rõ trước cộng đồng quốc tế bằng các luận cứ pháp lý và xuất hiện dưới hình dạng một chiếc lưỡi bò bao trùm lên các khu vực trọng yếu của vùng biển này.
 
Về phía Việt Nam, trình bày quan điểm của mình tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Thanh Hà,Vụ trưởng Vụ Luật pháp và điều ước quốc tế thuộc Bộ Ngoại cho biết tình huống “khó xử” giữa Việt Nam và Trung Quốc tai Hoàng Sa và nhấn mạnh COC - một văn bản làm nền tảng cho các giải pháp xử lý tranh chấp tại Trường Sa giữa ASEAN và Trung Quốc cũng đang gặp khó bởi thái độ “đã sẵn sàng” nhưng “chờ thời điểm chín muồi” mà Bắc Kinh đưa ra.
 
Hầu hết câu hỏi dành cho ban cử tọa đều nhắc đến sự phi lý của “đường lưỡi bò” của Trung Quốc và đại biểu Philippines đã đưa ra được những luận cứ chắc chắn, thuyết phục về COC trong vấn đề tranh chấp Biển Đông. Riêng một câu hỏi Việt Nam liệu có đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế như Philippines đã làm không, bà Hà cho biết đây không phải chỉ là một con đường duy nhất mà còn có nhiều cách khác. Cho đến nay, biện pháp Ngoại giao của Việt Nam trước hành động leo thang của Trung Quốc vẫn là các phản đối ngoại giao đơn lẻ và chưa có hoạt động nào gây sự chú ý của công luận quốc tế như những gì Philippines đã đạt được.

Vân Du 
Nguồn: SM.
 
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

TS. NGUYỄN THÀNH SƠN: THÍ ĐIỂM BAUXITE ĐÃ THÀNH THÍ MẠNG

Thư ngỏ gửi Bộ trưởng Công thương: 
Thí điểm bauxite đã thành thí mạng
Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn viết thư ngỏ gửi Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng
 về vấn đề bauxite. “Hà Nội, ngày 11/3/2013.
Kính gửi anh Vũ Huy Hoàng - Bộ trưởng Công Thương,
Tôi là Nguyễn Thành Sơn, may mắn đã biết và đôi khi có làm việc với anh từ năm 1977 (khi tôi còn làm ở Vụ Kế hoạch - Bộ Điện Than), chắc anh vẫn nhớ.
Tối qua, tôi đã lắng nghe anh trả lời phỏng vấn của VTV1 về bauxite. Tôi xin phép được trao đổi với anh một số ý sau:
Trước hết anh nói: “Trữ lượng bauxite của Việt Nam khoảng 10-11 tỷ tấn” là sai mất rồi. Con số 10-11 tỷ tấn chỉ là tiềm năng về bauxite, dứt khoát không phải trữ lượng. Theo chuẩn đánh giá của Mỹ, trữ lượng bauxite của Việt Nam chỉ bằng 1/5 con số đó thôi. Việt Nam không phải là “một trong số ít nước được đánh giá có trữ lượng bauxite lớn trên thế giới” đâu anh ạ. Đó chỉ là đánh giá của những người không hiểu thế nào là “trữ lượng” thôi.
Về việc phải nhập khẩu nhôm: Là Bộ trưởng Công thương, anh thừa biết ngành luyện kim của Việt Nam như thế nào? Kim loại nào cũng phải nhập. Dễ làm như gang thép mà mấy chục năm nay rồi có cạnh tranh nổi đâu, càng làm càng kém hiệu quả. Giá điện ở Việt Nam anh quá thuộc rồi. Với nền kinh tế Việt Nam, “mơ” công nghiệp nhôm cũng giống như “mơ” về giá điện 600 đồng/KWh. Anh nói, hằng năm ta phải chi hơn 1 tỷ USD nhập nửa triệu tấn nhôm. Tôi sẵn sàng cá với anh, trên Tây Nguyên, nếu Vinacomin tự làm ra được nửa triệu tấn nhôm (như loại đang phải nhập) sẽ tốn hơn 2,5 tỷ USD kia. Việc nhập nhôm không phải lý do chính đáng để phải triển khai hai dự án bauxite như anh nói đâu.
Về chủ trương: Mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước đều hướng đến mang lại lợi ích tối đa cho dân tộc, cho nền kinh tế. Dù Đảng và Nhà nước đã có chủ trương về bauxite-nhôm, nhưng khi triển khai một cách “quyết liệt” như Vinacomin và Bộ Công thương đã làm mà không thấy hiệu quả và lợi ích, thì Bộ và Vinacomin phải có trách nhiệm báo cáo lại với Đảng và Nhà nước chứ? Tôi thấy, trong quá trình triển khai chủ trương về bauxite-nhôm, Bộ và Vinacomin đã mắc nhiều sai lầm đáng tiếc nên dẫn đến tình trạng hiện nay. Nếu anh thu xếp được thời gian, tôi sẽ trình bày riêng với anh về chủ đề này.
Về dự án thí điểm: Anh đã nói đúng, “ở giai đoạn hiện nay, chúng ta mới đầu tư thí điểm hai dự án khai thác bauxite và chế biến thành alumin tại Tân Rai (Lâm Ðồng) và Nhân Cơ (Ðắk Nông)”. Chắc Vinacomin chưa kịp báo cáo với anh, cái gọi là “thí điểm hai dự án” của “quả đấm thép” Vinacomin đã bổ sung vào nợ công của Việt Nam hơn 1,2 tỷ USD rồi đấy. Nếu cứ ‘quyết liệt’ làm nốt Nhân Cơ thì nợ công sẽ tăng thêm gần 2 tỷ kia. Đến tình trạng như hiện nay, đối với Bộ Công thương, có thể coi đó là hai dự án “thí điểm”, nhưng đối với Vinacomin đó là hai dự án “thí mạng” rồi anh Hoàng ạ. Để trả nợ cho hai dự án “thí điểm” này, gần 140.000 lao động của Vinacomin (trong đó có tôi) sẽ phải làm việc cật lực 20 năm may ra mới “xong” (tôi chỉ còn phải làm hơn 1 năm nữa thôi).
Bên trong nhà máy khai thác bauxite Tân Rai.
Về nguyên nhân chậm tiến độ: Là người của Vinacomin, tôi thấy nguyên nhân chủ yếu của việc chậm tiến độ hai dự án là do chủ đầu tư quá nóng vội, “quyết liệt” làm cho bằng được, còn nhà thầu thì hứa hão. Là cấp trên của Vinacomin, Bộ Công thương không nên trách chủ đầu tư “chưa thực hiện thật tốt công tác thông tin tuyên truyền, giải thích”. Tôi biết Vinacomin rất tích cực trong việc tuyên truyền giải thích. Chỉ có điều, những thông tin mà dư luận quan tâm thì Vinacomin “lờ” đi, không “tuyên truyền”, còn những vấn đề được Vinacomin “giải thích” thì dư luận đã đoán được trước như cảng Kê Gà rồi.
Thiệt hại hàng trăm triệu USD do chậm tiến độ thì đã rõ, tôi không thấy anh nhắc đến. Nhưng, lợi ích của việc chậm tiến độ như anh nói là “chúng ta phải chấp nhận kéo dài nhưng đổi lại yên tâm hơn về mức độ an toàn công trình” thì tôi không tin. Mức độ an toàn của bùn đỏ trước hết do công nghệ thải bùn “khô” hay “ướt” quyết định, chứ không phụ thuộc vào mấy lớp vải địa kỹ thuật của nhà thầu dùng. Tôi thấy Bộ Công thương sau khi đi khảo sát ở Hungary về vẫn phê duyệt công nghệ thải bùn “ướt” là một sai lầm cố ý. Người Hungary có khuyên chúng ta cứ làm “ướt” không? Anh nói “dư luận xã hội chưa đồng thuận với việc triển khai dự án, nên giai đoạn đầu của quá trình thi công có một số hạng mục phải tạm giãn tiến độ chờ xem xét”. Tôi thấy, qui trách nhiệm chậm tiến độ cho dư luận xã hội là không nên. Nếu Bộ “xem xét” mọi việc đều đúng thì chẳng có dư luận nào “chưa đồng thuận” cả. Còn nếu dư luận xã hội sai, việc gì Bộ phải “xem xét” (anh cứ hỏi anh Lê Dương Quang - bạn tôi).
Về chất lượng công trình: Tôi thấy dự án Tân Rai mới chỉ chạy 30-40% công suất thiết kế mà anh đã khẳng định “sản xuất thử thành công sản phẩm alumin đầu tiên với chất lượng được đánh giá cơ bản đạt yêu cầu”.
Về phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án: Anh nói “cần phải dựa trên những tính toán dài hạn” là rất đúng. Để thực hiện lời của anh, thế giới từ những năm 1980 đã phát minh ra một số cái gọi là NPV, B, C, IRR... Nếu có ai đó, lấy giá bán alumin tại thời điểm hôm nay (liên quan đến B) so sánh với chi phí (liên quan đến C) tại thời điểm ngày mai thì họ đã sai. Anh nên cho Vinacomin công khai xem chi phí làm ra 1 tấn alumin ở Tân Rai như thế nào để dạy cho người ta cách tính.
Về hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án: Anh nói (cũng như nhiều người giống anh đã nói): “Ðối với doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh là mục tiêu chủ yếu, nhưng đối với xã hội điều lớn hơn mà tất cả chúng ta mong đợi là hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội đối với phát triển vùng, phát triển ngành và phát triển nền kinh tế”. Anh cứ hỏi anh Vũ Đức Đam thì biết, nếu ngành than ở Quảng Ninh thua lỗ, tình hình Quảng Ninh sẽ như thế nào? Bản thân bauxite Tân Rai hay Nhân Cơ không có lãi thì lấy gì để “lan tỏa” cho Lâm Đồng hay Đắk Nông? Đối với hai dự án bauxite này, các “tham mưu” đang vận động anh xin Chính phủ giảm tiền đền bù, giảm phí môi trường, giảm thuế xuất khẩu... thì tôi không hiểu cái gọi là “hiệu quả tổng hợp về kinh tế-xã hội” là cái gì? Anh cho rằng “hãy để dự án vận hành một thời gian rồi chúng ta sẽ có cơ sở xem xét và đánh giá hiệu quả của dự án. Ðó là cách tiếp cận khách quan và phù hợp” là “vòng vo tam quốc” cho vui thôi. Tôi không rõ, trước khi các anh ký trình Thủ tướng xin được triển khai “quyết liệt” hai dự án thí điểm thì các anh đã “tiếp cận khách quan và phù hợp” đến như thế nào trong mục “đánh giá hiệu quả của dự án”?
Về việc dừng cảng Kê Gà: Tôi thấy người đặt câu hỏi rất đúng và trúng, còn anh trả lời cũng rất hay và khéo... Nhân đây, tôi xin nhắc đến cái gọi là “quy hoạch bauxite” của Bộ Công thương. Năm ngoái, khi anh Khanh “rà soát”, “hiệu chỉnh” xong, tôi đã gửi các anh (và cả anh Hoàng Trung Hải nữa) nhận xét về cái quy hoạch hiệu chỉnh đó. Với phương pháp luận và tư duy quy hoạch như vậy, cảng Kê Gà không phải là dự án duy nhất sẽ bị Thủ tướng “tuýt còi” đâu.
Về hậu quả của hai dự án: Nghe anh nhắc đến bùn đỏ tôi cũng mừng. Nhưng, tôi không rõ “nhiều bài học về môi trường, không chỉ trong nước mà cả trên thế giới” được anh nhắc đến nó như thế nào? Tôi biết chắc chắn, bùn đỏ nếu được đổ thải ra ngoài trên độ cao 800-900m trên mực nước biển và ở đầu nguồn nước như ở Tân Rai và Nhân Cơ, sẽ chỉ an toàn khi được thải “khô” như cả thế giới đang làm.
Về xử lý bùn đỏ: Tối qua tôi thấy gương mặt anh vẫn hơi buồn khi nhắc đến thành công của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam “đang hoàn thiện đề tài ở quy mô thử nghiệm, để chuyển sang quy mô công nghiệp việc nghiên cứu xử lý bùn đỏ để thu hồi xút, sản xuất sắt xốp, xỉ”... Tôi cũng mạn phép nhắc đến “tính hiệu quả kinh tế” của việc xử lý bùn đỏ. Việc thu hồi xút chẳng ai dại gì làm như Viện hàn lâm của Việt Nam cả. Trong sách giáo khoa của Liên Xô, họ dạy là xút phải cố gắng thu hồi tối đa trong nhà máy trước khi thải ra ngoài cùng bùn đỏ. Việc sản xuất “sắt xốp, xỉ” từ bùn đỏ từ Tây Nguyên đã “thành công” cũng là tin tham khảo thôi anh ạ, ai cũng biết rồi... Quặng sắt Thạch Khê có hàm lượng Fe2O3 còn cao hơn 2-3 lần so với bùn đỏ, nằm ngay sát bờ biển (thuận lợi đủ thứ), không hiểu 10 năm nữa có ra được sắt “xốp” không?
Vài lời tâm sự, chắc đã làm anh mất nhiều thời gian.
Tôi gửi thư ngỏ vì cách đây chưa lâu, tôi có gửi tới anh (qua đường bưu điện) phương án “Đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh của Vinacomin” do tôi “sáng tác” nhưng không thấy được anh hồi âm.
Kính chúc anh sức khỏe và thành công.
Kính thư,
TS Nguyễn Thành Sơn”
-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

KHẨN: TRUNG QUỐC ĐIỀU 21 TÀU CHIẾN VÀ 3000 QUÂN XÂM PHẠM BIỂN ĐÔNG

Trung Quốc điều 21 tàu, 3.000 người xâm phạm Biển Đông

Tân Hoa xã ngày 10/3 đưa tin Trung Quốc đã điều một lượng lớn tàu ngư chính vào “tuần tra” Biển Đông. Đây có thể coi là kế hoạch xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trên quy mô lớn, ngày càng thể hiện rõ ý đồ lấn chiếm công khai của Bắc Kinh. 
.
Tàu ngư chính của Trung Quốc. Ảnh: Internet

Theo đó, chính quyền Bắc Kinh đã chính thức khởi động chương trình “tuần tra bảo vệ ngư dân Trung Quốc” trong năm 2013. Hiện 2 tàu ngư chính 310 và 301 đã có mặt và hoạt động trái phép trên vùng biển của Việt Nam. Ông Lưu Quế Mậu – một quan chức phụ trách chương trình này còn lớn tiếng tuyên bố đây chỉ là giai đoạn đầu, tiếp theo, Bắc Kinh sẽ điều tới 21 tàu cùng khoảng 3000 người vào khu vực Trường Sa.

Cũng trong ngày 10/3, Trung Quốc cũng ngang nhiên điều 3 tàu hải giám 83, 262 và 263 chở theo trực thăng vào “tuần tra” 10 đảo và bãi đá tại Hoàng Sa. Đợt “tuần tra” này sẽ kéo dài 9 ngày. Theo Tân Hoa xã, các “nhân viên” Trung Quốc đã đổ bộ lên đảo Cây và đảo Bắc.

Trong khi đó, ông Tiêu Kiệt – người được Trung Quốc chỉ định là Thị trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy của thành phố phi pháp Tam Sa đã khẳng định công trình đóng tàu du lịch đến quần đảo Hoàng Sa đã hoàn tất bên lề kỳ họp quốc hội Trung Quốc đang diễn ra. Theo Tân Hoa xã, một con tàu du lịch từ đảo Hải Nam có trọng tải 47.000 tấn, dài 223 m, cao 31 m, có vận tốc khoảng 39 km/giờ, chở được 1.965 người sẽ sớm thực hiện những chuyến chở khách vào Hoàng Sa.

Có thể thấy, Trung Quốc đang tiếp tục chiến lược xâm lấn dưới vỏ bọc của các hoạt động dân sự, nhưng đã ngang nhiên hơn nhiều và quy mô cũng đã được mở rộng, với sự chỉ đạo xuyên suốt từ các cấp cao nhất. Trước dã tâm được thực hiện một cách quyết liệt ấy, nguy cơ bị xâm lấn và mất dần lãnh thổ của các quốc gia khác có chủ quyền trên Biển Đông, trong đó có Việt Nam, hiển hiện hơn bao giờ hết.
.
Ngày 7/3, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Mọi hành động tại khu vực này mà không được Việt Nam đồng ý là vi phạm chủ quyền và chúng tôi nhất quyết phản đối.

Chí Đăng 
Nguồn: SM

TỄU: Rất lo và rất buồn. Tàu Trung cộng vào ra, gây sự, xâm nhập trái phép chỉ thấy tin tức lấy từ báo chí Trung cộng và dẫn lời quan chức quân sự Trung cộng. 
Không thấy tin được phát ra từ TTX VN hoặc các cơ quan, sỹ quan quân đội Nhân dân Việt Nam. 

-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

NGHỆ NHÂN HÀ THỊ CẦU ĐÃ TỪ BỎ TRẦN GIAN LUÂN LẠC VÀ ĐAU THƯƠNG

Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu qua đời

TNO - Trưa nay 3.3, nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu đã qua đời, thọ 85 tuổi.

Bà Cầu tên thật là Hà Thị Năm (Cầu là tên người con trai đầu của bà), sinh năm 1928 ở huyện Ý Yên (Nam Định). Từ bé bà đã mồ côi cha và theo mẹ lang bạt hát xẩm rong kiếm sống rồi định cư tại xã Yên Phong, H.Yên Mô (Ninh Bình).

Trong nghệ thuật hát xẩm, bà Hà Thị Cầu được đánh giá là nghệ nhân duy nhất còn lưu giữ được nhiều làn điệu cổ của nghề. Bà cũng là người có thể tự đặt lời mới mang hơi thở của thời đại cho các làn điệu xẩm truyền thống.
Theo đuổi cái nghề gần suốt một đời người, đến năm 1998, bà nhận được bằng khen của Đài Tiếng nói Việt Nam và giải đặc biệt "Nghệ nhân hát chèo tỉnh Ninh Bình" trong Liên hoan trích đoạn tuồng chèo hay toàn quốc.

Năm 2004, bà được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian và đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.

Năm 2008, bà Hà Thị Cầu đã nhận được giải thưởng Đào Tấn, giải thưởng cho những đóng góp trong việc gìn giữ vốn quý nghệ thuật dân tộc.

Lễ viếng nghệ nhân Hà Thị Cầu bắt đầu vào sáng 4.3, sau đó bà sẽ được đưa đi an táng tại nghĩa trang xã Yên Phong vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 5.3.
Ngọc Minh
Nguồn: Thanh Niên
Trích báo Tuổi Tr:
"Năm nọ, trong một buổi biểu diễn lớn ở Hà Nội, một nghệ sĩ đã hứa trước toàn thể khán giả rằng sẽ nuôi bà Cầu đến khi nào bà... về thế giới bên kia. Trong năm đầu tiên, mỗi tháng nghệ sĩ ấy gửi về cho bà Cầu 500.000 đồng, đến những năm tiếp theo thì bặt tăm không có tin tức gì nữa. “Tội nghiệp, bu cứ bắt tôi gọi điện cho người ta, tôi gọi thấy đổ chuông mà không ai bắt máy. Lấy số lạ gọi vào người ta bắt máy nhưng nghe mình xưng tên thì họ cúp máy chẳng nói gì. Tôi biết lòng người phải có lúc này lúc kia, nhưng chỉ tội bu tin lời hứa, cứ bắt mình gọi hỏi thăm mãi” - chị Mận ngậm ngùi.
Một lần khác, có đoàn nghệ thuật đi ôtô về rước bà Cầu lên Hà Nội chơi. Họ hứa sẽ đài thọ tiền đi lại, nuôi bà ăn ở, với điều kiện bà sẽ dạy hết cho người ta những bài hát xẩm bà thuộc. Bà Cầu lấy làm vui lắm, vì ở quê bà muốn dạy hát cho con cháu nhưng chẳng đứa nào chịu học. Lên Hà Nội, bà dạy hát liên tục trong 10 ngày. Nhưng khi người ta học được gần hết các ca khúc của bà, họ trả bà 1 triệu đồng tiền công. Tiền xe cộ, tiền ăn uống bà phải tự túc. Người ta bảo mẹ con bà Cầu bị lừa. Chị Mận buồn lắm, bảo “Bu sức yếu, lần sau đừng đi nữa, khổ thân”. Bà Cầu chỉ im lặng.
Nhưng lần sau có người mời đi Hà Nội hát, bà Cầu lại nằng nặc đòi đi. Sau vài đêm diễn ở Hà Nội, các nghệ sĩ giúi vào tay vợ chồng chị Mận 1 triệu đồng. Họ nói nhỏ: “Đây chỉ là một phần tiền công hát của cụ thôi, phần còn lại một thời gian nữa khi sắp xếp được sẽ gửi cho cụ sau”. Nhưng tới nay hơn một năm trôi qua, số tiền ấy vẫn không được gửi về.
Mấy năm nay báo chí rầm rộ đưa tin về cô bé Lê Thị Thu Sợi là truyền nhân của bà Cầu. Báo chí đăng tấm hình Sợi và bà Cầu ngồi chung với nhau trên một manh chiếu xẩm. Những người yêu xẩm ai cũng vui mừng khi biết bà Cầu đã có học trò, có thể truyền lại cái hồn của từng bài xẩm. Thu Sợi đang là thành viên của Đoàn Chèo Ninh Bình. Ngồi trước chúng tôi, Sợi bảo: “Em chỉ qua bà Cầu chơi chứ không học nhiều từ bà. Còn tấm hình có trên mạng là do một nhà báo bảo em và bà ngồi chung để chụp. Chị Mận, anh Lới và nhiều người dân ở thôn Quảng Phúc đều bảo trước đây Sợi có qua học hát ở nhà bà Cầu cả tháng trời".
Hà Thị Cầu - chút hồn Việt còn lại nay đã tắt
03/03/2013 - 17:50

Báu vật cuối cùng trong kho tàng âm nhạc dân gian Việt – nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu đã lìa cõi, tại Ninh Bình.
Bà Hà Thị Cầu, tên thật Hà Thị Năm sinh tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong một gia đình 3 đời hát xẩm. Từ 8 tuổi, cô bé Năm đã bê thau đồng lê la khắp chốn chợ quê hành nghề hát xẩm kiếm sống. Định cư tại Yên Mô, Ninh Bình, bà trở thành người vợ thứ 18 của ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu (biệt danh Chánh Trương Mậu).

Xẩm là loại hình dân ca có từ thờ nhà Trần, dã sử tương truyền đó là tiếng hát than vận tranh giành vương quyền bất thành của Trần Quốc Đĩnh (con vua Trần Thánh Tông). Thái tử Đĩnh bị chọc mù mắt, vứt trong rừng sâu, nhờ tiếng đàn (do Bụt – một biểu tượng Phật giáo nguyên thủy truyền dạy) mà cứu được mạng sống và tìm được đường trở về chốn cung đình.

Với các vần thơ lục bát thêm tiếng láy tiếng đệm, khúc Xẩm không chỉ là tiếng than thân trách phận mà còn là tiếng hát giữ lại những gương anh hùng trong sử sách, châm biếm thói hư tật xấu của người đời, của quan tham.

Tham giàu lấy chú biện tuần
Tuy rằng bóng bẩy nợ nần chan chan
Thà rằng lấy chú xẩm xoan
Công nợ không có hát tràn cung mây.
Tối trời bắt xẩm trông sao
Xẩm thề có thấy ông nào, xẩm đui.

Hà Thị Cầu đã vương vào nghiệp cầm ca, mà là thứ ca của tầng đáy xã hội kiếm chút tiền dư nơi bến đò, cuối chợ, trên xe hỏa… Kháng chiến chống Pháp, khúc ca Xẩm trở thành công cụ tuyên truyền vận động nhân dân bám đất chống giặc ngoại xâm. Năm 1977, Hà Thị Cầu với bài Theo Đảng trọn đời do bà sáng tác đã giành được nhiều giải thưởng văn nghệ quần chúng. Tiếc rằng, khi phường nhạc Xẩm mai một, không ai nối tiếp cái nghiệp xướng ca bị cả xã hội mặc định là chỉ dành cho người cùng đường, mạt vận mới theo.

Trời thương phận mỏng, Hà Thị Cầu như con chim đơn côi kêu Cuốc Cuốc không biết mệt mỏi gần một thế kỷ, kêu đến khi kiệt cùng trong xương tủy, khi không cất lên được tiếng nữa thì lại trở về với dúi cây bụi đất chốn làng quê.

Năm 2011, khi Xẩm vẫn trong diện đề cử là di sản văn hóa vật thể của UNESCO thì Hà Thị Cầu đã yếu lắm. Cụ Cầu nghèo khổ, chứng kiến đất nước đi qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng cuộc đời vẫn như đường chỉ thẳng đến nút cuối vẫn là nghèo khổ. 12 giờ rưỡi trưa nay (3/1), anh Nơi, con rể cụ báo tin cho báo chí, cụ đã lìa trần.

Thế là một kiếp cơ cực đã buông. Cụ Cầu dặn, nếu một ngày nằm xuống, thì treo 2 cây đàn nhị trên bàn thờ. Báu vật nhân gian đã nhả hết tơ. Ai còn chút tình với Xẩm, đến chia tay Hà Thị Cầu vào ngày mai. Cụ sẽ nghỉ tại nghĩa trang Đầm Thuần (xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình).

Minh Quốc 
Nguồn: SM.
Thương nhớ Nghệ nhân Hà Thị Cầu, cùng lắng nghe tâm sự và giọng hát của bà:

Nghệ nhân Hà Thị Cầu kể chuyện đời, chuyện nghiệp:



Bài 1: Xẩm thập ân


Bài 2: Dạt nước cánh bèo

 
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

THẤY PHILIPPINES GẤP RÚT, NGHĨ ĐẾN VIỆT NAM KHÔNG KHỎI GIẬT MÌNH

Giật mình

Ngay sau khi Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, tất cả các báo lớn tại Việt Nam tràn ngập thông tin. Riêng một bài xã luận ngắn trên Dân Trí đăng vào 7 giờ sáng ngày 28/1 đã thu hút hơn 100 ý kiến bình luận quan tâm đến vụ kiện. Cũng trong sáng nay, Thanh Niên có bài xã luận thảng thốt phản ánh tình trạng hổng kiến thức lịch sử về Hoàng Sa khi những sự kiện mới cách đây chưa đến 40 năm mà đã bị phai nhòa trong nhận thức của độc giả.
 
Cột mốc chủ quyền thời Pháp trên đảo Hoàng Sa
Cái tít Đòn đích đáng vào “đường lưỡi bò” của Dân Trí trong tiểu mục Blog với những lời ca ngợi về sự sắc sảo, quyết đoán của Bộ Ngoại giao Philippines dường đã thu hút người đọc bình luận tăng đột xuất. Qua khảo sát nhanh, có thể thấy 2/3  trong 114 bình luận của độc giả đều tỏ sự ngưỡng mộ trước sự đoàn kết của Philippines và 1/3 còn lại là câu hỏi hoặc bình luận có hàm ý: Thế còn Việt Nam thì sao? Tại sao chúng ta không ủng hộ hay học tập theo Philippines?!
 
Trong khi đó, Thanh Niên lại tập trung vào thực trạng trong nước với bài Để không giật mình khi công bố thống kê của tòa soạn về phản hồi của người đọc tâm sự rằng, chỉ sau khi đọc bài báo kỷ niệm trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 thì họ mới biết, quần đảo này đã bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm. Thậm chí “có bạn sinh viên cho biết mãi đến khi vào đại học thì mới biết được điều này.” Có lẽ chỉ mấy năm gần đây, báo chí, truyền thông mới chuyển biến tích cực khi phổ cập thông tin chủ quyền biển đảo nhiều hơn. Các cuộc triển lãm ảnh, các cuốn sách chuyên sâu cũng được in dồn dập trong năm 2012. Tuy nhiên, theo Thanh Niên phản ánh, có một lỗ hổng đáng ngạc nhiên khi các website cá nhân tích cực quảng bá cho chủ quyền đất nước, còn các website chính phủ thì đìu hiu. Tên miền hoangsa, truongsa có đuôi gov.vn dành cho các cổng thông tin chính thức cho các huyện đảo này lại không tồn tại. Hay như, một số website nghiên cứu biển Đông của cơ quan nhà nước lại không có mục “tự giới thiệu”. Danh không chính thì sao ngôn thuận, chưa kể, 2 thập kỷ qua đã cho thấy một lỗ hổng kiến thức chủ quyền biển đảo tạo nên cả một thế hệ “mù thông tin” rồi dẫn đến bàng quan, lơ là tình hình đất nước.

Có thể thấy, quyết định kiện Trung Quốc của chính quyền Manila đã khiến truyền thông Philippines thức tỉnh. Một số học giả đã lên tiếng cảnh báo các cơ quan thông tấn ưu tiên thông tin về chủ quyền biển đảo thay vì đưa các tin sốc sex vào khung giờ vàng. Đây được coi là cơ hội có một không hai để tổng thống Aquino thu hút sức mạnh và tinh lực của cả đất nước không chỉ để bảo vệ chủ quyền mà còn có thể chuyển hóa thành hoạt động kinh doanh, sản xuất và giải quyết các mâu thuẫn tồn tại lòng đất nước.
 
Nếu truyền thông ngủ mê trong thông tin giải trí, không trở thành tiếng nói trung thực về lịch sử và thực trạng chủ quyền đất nước thì chỉ một vài hoạt động riêng rẽ của một Việt kiều sưu tập bản đồ, một vài triển lãm trong thành phố, một bản đồ trong nhà ga hay một thắng lợi nho nhỏ của học giả đấu tranh trước đường lưỡi bò phi pháp cũng nhanh chóng rơi vào quên lãng. Các sự kiện lịch sử phải được lưu giữ để bảo toàn sự thật, được tri nhận, chia sẻ từ trong cộng đồng và kích phát bởi chính phủ. Thấy Philippines đang làm gấp rút mà nghĩ đến Việt Nam, không khỏi … giật mình.
 
Sơn Minh 
Nguồn: SM
 
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

ĐỨC GIÁO HOÀNG KÊU GỌI DÙNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ THU HÚT TÍN ĐỒ

Đức Giáo Hoàng kêu gọi dùng mạng xã hội để thu hút tín đồ
25/01/2013 - 18:47

Ngày 24/1, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã kêu gọi người Công giáo sử dụng mạng xã hội như Twitter và Facebook để thu hút tín đồ. 

Trong thông điệp đưa ra trong ngày Truyền thông Thế giới 24/1/2013, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI cho rằng: Mạng xã hội chính là cánh cửa của sự thật và đức tin, không gian mới cho việc chia sẻ tin mừng và hy vọng. Thông điệp được truyền đạt bằng cả 8 thứ tiếng.

Thậm chí, trong lá thư công bố trên trang web của Vatican, Đức Giáo Hoàng 85 tuổi này còn cho rằng: “Nếu những tin tức tốt lành không được truyền tải thông qua thế giới kỹ thuật số, thì nhiều người có thể sẽ không biết đến chúng. Khi được sử dụng đúng cách, mạng xã hội sẽ thúc đẩy các cuộc đối thoại và tranh luận trên tinh thần tôn trọng, góp phần củng cố mối liên kết giữa các nhóm người có đức tin khác nhau”.

Đức Giáo Hoàng còn ca ngợi những kết nối trực tuyến mà theo ngài chúng có thể được phát triển thành mối quan hệ thực sự. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI khẳng định: “Mạng xã hội là thế giới ảo, nhưng đang trở thành một phần không thể thiếu trong xã hội hiện đại”. 

Tháng 12/2012, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã chính thức gia nhập mạng xã hội Twitter từ iPad, đồng thời gửi đến các giáo dân thông điệp đầu tiên bằng 8 thứ tiếng. Từ đó, Tòa thánh Vatican đã trở thành thành viên “tích cực” của truyền thông xã hội. Twitter của Đức Giáo Hoàng cũng thu hút khoảng 2,5 triệu người đăng ký theo dõi.

Thông điệp của Đức Thánh Cha xuất hiện đúng thời điểm ra mắt The Pop App. Chương trình này cho phép theo dõi thông tin về Đức Giáo Hoàng và Vatican mà các tín đồ có thể tải về điện thoại.

Alice
Theo Telegraph 
Nguồn: SM
 
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NỘI DUNG "DÂN CHỦ" TRONG HÀNH TRÌNH HIẾN PHÁP

Nội dung “dân chủ” trong hành trình Hiến pháp Việt Nam có nhiều biến đổi
.
Biểu đồ phản ánh sự thăng trầm của từ “dân chủ” trong các bản Hiến pháp Việt Nam.

Bằng phương pháp khảo sát ngôn ngữ mạch lạc, trong sáng, tác giả Trần Xuân Hoài đã làm rõ “vật liệu” cơ bản được xây dựng trong hiến pháp thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều bắt đầu là những khái niệm đã được thừa nhận mặc nhiên trong xã hội như: nhà nước do dân làm chủ, con người được tự do, được bình đẳng về quyền lợi, được mưu cầu hạnh phúc… Các giá trị cốt lõi này đã tạo nên sự bền vững của hiến pháp như các tiên đề Euclid giúp cho các quốc gia không tốn tiền “cải cách” giáo trình môn hình học cơ sở trong suốt hơn 2.000 năm qua.

Mặc dù đây chỉ là một thống kê ngôn ngữ đơn giản, nhưng có thể thấy nội hàm “dân chủ” trong Hiến pháp của Việt Nam trong suốt 70 năm qua đã bị xê dịch đáng kể khi được “đính kèm” với khái niệm Quốc gia – Nhà nước. Cụ thể như, nếu như trong điều 1 Hiến pháp 1946 “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa” thì khi sang điều 2 Hiến pháp 1980, nhà nước CHXHCN Việt Nam lại chuyển thành nhà nước chuyên chính vô sản. Trong đó, theo tra khảo từ nguyên Latin của tác giả, thì hiếm có quốc gia nào dùng từ “chuyên chính”(dictatorship) trong hiến pháp khi nó lấy gốc nghĩa “độc tài” (dictator [tiếng Anh]  - dictatura [Latin]) là bao nhiêu. Do thủ thuật dùng từ đồng nghĩa khéo léo nên sự phản cảm của từ “chuyên chính” bị mờ đi trong xã hội Việt Nam.

Chỉ đến khi chuyển sang Hiến pháp năm 1992, từ “chuyên chính” đã biến mất và được thay bằng,  “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” một mệnh đề thoạt nghe như là của Hiến pháp Mỹ. 

Nhưng nếu suy xét kỹ, tác giả của mệnh đề này là Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đã chọn từ rất chắc chắn khi trao trọng trách cho “chính quyền” (goverment) dưới sự kiểm soát của dân, hoạt động vì dân và do dân làm chủ chứ không dùng từ nhà nước – quốc gia (nation - state). Bởi tiên đề “nhà nước là của nhân dân” cũng đã được nghiễm nhiên thừa nhận như 2+2 = 4 vậy. Do một sự nhầm lẫn nào đó trong chính giới đã tạo nên thói quen ngôn ngữ trong dân gian khiến nghĩa vụ “do dân, vì dân” của chính quyền đã được gán sang cho khái niệm siêu hình là nhà nước, một đơn vị ngôn từ đồng nghĩa số đông quần chúng. Theo logic này, nhà nước do dân vì dân cũng không khác gì, nhân dân tự làm, tự chăm sóc, tự chịu trách nhiệm với nhau .

Có lẽ, nhận thấy sơ suất này nên năm 2001, Hiến pháp đã định danh lại với nhiều thông tin hơn, nhưng từ “dân chủ” lại vắng bóng: “…Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân.”

Xâu chuỗi lại, có thể thấy sự thăng trầm của từ “dân chủ” trong định danh quốc gia như sau: Dân chủ cộng hòa (1946) --> Dân chủ nhân dân (1960) --> Chuyên chính vô sản (1980) --> định danh vô nghĩa (1992) --> Pháp quyền XHCN (2001).

Đây là một khảo sát có giá trị khi lý giải phần nào cho biểu đồ hình sin về biểu hiện “dân chủ” trong hiến pháp Việt Nam, cũng như tác động của nó vào xã hội ngày nay.

Mạnh Kiên
Theo Tia Sáng
-->đọc tiếp...