Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

PHÁO KHÔNG TIẾNG NỔ THÌ ĐỐT LÀM ĐÉO GÌ !

VNE đưa tin:
Tết 2014 có thể được đốt pháo không tiếng nổ

Pháo hỏa thuật giải trí - sản phẩm tạo ra hiệu ứng ánh sáng, âm thanh nhưng không gây ra tiếng nổ đang được cơ quan chức năng xem xét cho phép người dân mua về đốt trong dịp Tết Nguyên đán 2014.

> Xác pháo đỏ đường ở Hải Dương / Thủ tướng phê bình các tỉnh đốt pháo dịp Tết

Thiếu tướng Trần Văn Vệ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội (Tổng cục 7 - Bộ Công an), cho biết pháo không có tiếng nổ (pháo hỏa thuật giải trí) là loại pháo do Nhà máy Z121 (Tổng cục Công nghiệp - Bộ Quốc phòng) sản xuất và phân phối.

Tại buổi họp với lãnh đạo Tổng cục 7 và nhiều cơ quan chức năng mới đây, đại tá Nguyễn Khắc Hội, Giám đốc Nhà máy Z121, cho biết việc sản xuất pháo hoa và các phụ kiện nổ tại Việt Nam đã được nhà máy thực hiện từ nhiều năm nay và "độc quyền" trong lĩnh vực này. 

Pháo hỏa thuật giải trí thực chất là sản phẩm tạo ra hiệu ứng ánh sáng, âm thanh nhưng không gây ra tiếng nổ. Các loại hóa chất được dùng để chế tạo loại pháo không gây độc hại, không gây cháy nổ và ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Hiện, Nhà máy Z121 sản xuất khoảng 10 loại pháo này, qua thử nghiệm đều đạt hiệu quả cao.

 Xác pháo trải đỏ trên nhiều tuyến đường ở Hải Dương sáng mùng 1 Tết Quý Tỵ. 
Ảnh: Báo Hải Dương.
Thiếu tướng Trần Văn Vệ cho biết, Nghị định 36 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng pháo không cấm sử dụng loại pháo này. Sau khi thử nghiệm, lãnh đạo Tổng cục 7 thấy rằng đây là loại pháo thân thiện với môi trường và có thể đưa ra thị trường. Một số nước cũng sản xuất loại pháo này và gọi là pháo hoa đồ chơi.

"Họ học tập công nghệ sản xuất của Nhật Bản, qua thử nghiệm nhiều lần đều cho kết quả tốt và an toàn, không gây ra tiếng nổ, ảnh hưởng tới môi trường. Chúng tôi đã thử dùng tay chạm vào những tia lửa nhưng chẳng bị làm sao", ông Vệ nói.





Theo ông Phùng Hà, Cục trưởng Cục Hóa chất (Bộ Công Thương), đã gọi là pháo thì phải có tiếng nổ. Tuy nhiên, sản phẩm của Nhà máy Z121 không gây ra tiếng nổ nên có thể sử dụng từ khác mà không có chữ "pháo" để tránh "nhạy cảm". Ông Hà cho rằng sản phẩm này được chuyển giao công nghệ từ Nhật Bản nên hội đồng khoa học các bộ, ngành có thể sử dụng chính các tiêu chuẩn của Nhật Bản làm cơ sở đánh giá, thẩm định trước khi cấp phép bán ra thị trường.

Còn thiếu tướng Trần Văn Vệ cho biết, Nhà máy Z121 cần đăng ký chất lượng sản phẩm, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật, bảo vệ môi trường và được các bộ, ngành liên quan như Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua. 

"Khi đó, chúng tôi sẽ sửa đổi Thông tư 08 (hướng dẫn thực hiện Nghị định 36) để sớm đưa sản phẩm vào cuộc sống, nhanh thì có thể ngay trong dịp Tết Nguyên đán 2014", ông Vệ nói thêm.

Tiến sĩ Trịnh Hòa Bình, Giám đốc Trung tâm Điều tra dư luận xã hội (Viện Xã hội học) cho rằng, pháo đã gắn liền với nhiều sinh hoạt cộng đồng, truyền thống của người Việt. Dù đã cấm nhưng nó vẫn được nhiều người nhắc tới mỗi dịp Tết với câu ca: "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh".

"Cấm đốt pháo xuất phát từ việc mất trật tự, an toàn xã hội. Nhưng bây giờ dân trí đã khá hơn nên việc kiểm soát đốt pháo cũng tốt hơn thì việc chấp thuận cho pháo trở lại với sinh hoạt cộng đồng mỗi dịp lễ, Tết là điều đáng phải xem xét", ông Bình bày tỏ.


Thống kê của Tổng cục 7 cho thấy, những năm qua tình trạng mua bán pháo lậu (pháo nổ), chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc, ngày càng diễn biến phức tạp. Thay vì cuối năm mới vận chuyển hàng vào sâu trong nội địa, các đầu nậu pháo lậu đã rục rịch ém hàng ngay trong năm, chờ tới Tết mới bung ra bán. Mặc dù mỗi năm, lực lượng chức năng trên cả nước xử lý trên 200 vụ việc liên quan đến pháo, thu giữ cả trăm tấn pháo lậu các loại nhưng tình hình vẫn chưa lắng dịu.
Trước đó, Thủ tướng đã phê bình và yêu cầu chủ tịch UBND 3 tỉnh Hải Dương, Lào Cai, Hà Giang kiểm điểm, rút kinh nghiệm và có hình thức xử lý nghiêm đối với các đơn vị, cá nhân buông lỏng quản lý, để xảy ra tình trạng đốt pháo nổ trái phép nhiều trong dịp Tết Nguyên đán 2013.

Theo Người Lao động

Tễu: Tiên sư thằng NGU! Triết lý của PHÁO là phải NỔ, phải BANH XÁC ra mà hiến dâng cho Đời tiếng NỔ và khói pháo, và cả màu xác giấy hồng điều nữa! Pháo vốn là để xua tà ma bằng tiếng NỔ và màu ĐỎ.

Chứ Pháo mà không có tiếng Nổ thì đốt làm đéo gì! 
Định kinh doanh độc quyền thì nói trắng ra đi!
Hay là đã ngoắc với Tàu rồi, để hợp pháp hóa pháo lậu đây? 

Ý kiến của cư dân mạng đây:
Tạ Quang Hiệp Vì bất lực không cấm được pháo lậu đây, hề hề. Thằng nào cũng ăn ngập mồm thì cấm thế đếch nào được.
Trương Ba Không Ôi, ĐCM chúng mày, nói chó kg ngửi được!
Ngoc Phuong Trinh Pháo ko tiếng nổ thì thà đánh rắm còn hơn.
Nhat Tuan ĐM thằng ngu nào đề xuất chuyện này ????
Tử Long tết cứ ăn nhiều hột mít và khoai lang vào, rồi xếp hàng ngoài đường, đúng giao thừa sẽ có một dàn đồng ca
Mai Ngọc ăn nhiều hột mít vào rồi rủ nhau đến nhà quan chúc tết =))
Lang Vu ChiTết đến đi chơi tết lên cửa khẩu và sang bên kia tổ quốc là đốt pháo thoải mái trong trật tự
Linh Phan Ừ đốt làm đéo gì mà không nổ
Haiqua Muckinh Giống ... cho phép mại dâm mà hổng cho rên!?!
Quoc Le Nhớ Trạng Quỳnh cấm lính của chúa, "đại nhưng không được tiểu tiện nếu không sẽ bi cắt", khi lính theo lệnh chúa đến "đại tiện" nhà Trạng. Cheers.
Hoài Mẫn Trần Không sớm thì muộn tập tục đốt pháo ba ngày tết cũng sẽ về với dân VN.
Muối Biển Áp dụng bài của Trạng Quỳnh đây mà, thằng nào ỉa không đái tao cho, thằng nào vừa ỉa vừa đái tao xẻo chim.
Bạn Du Sắp tới Tổng cục 7, Bộ công an cho phép người dân được đốt pháo nhưng không được phát ra tiếng nổ. Quyết định này chẳng khác gì việc cho phép người ta được cực khoái nhưng cấm không được rên, và cho phép ai cũng được oánh rắm nhưng cấm không được phát ra mùi thối.

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013

TRANH LÀNG SÌNH - NÉT ĐẸP CỦA VĂN HOÁ DÂN GIAN XỨ HUẾ

Trang Thanh Hiền  

Trong số những làng tranh dân gian còn tồn tại đến ngày hôm nay, thì Làng Sình được xem là một trong những làng mà nghề làm tranh vẫn gắn liền với sinh hoạt tín ngưỡng của dân gian hiện nay.

Làng Sình hay còn gọi là làng Lại Ân thuộc xã Phú Mậu - huyện Phú Vang, cách thành phố Huế khoảng 9km về phía Đông. Nằm trên điểm hợp lưu giữa con sông Bồ với sông Hương rất thuận tiện cho việc giao thương, làng Sình không chỉ nổi danh với nghề làm tranh, mà còn là một làng cổ nổi tiếng với chùa Sùng Hoá từng được ghi trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An vào thế kỷ XVI. Hàng năm vào ngày 10 tháng giêng, làng còn nổi tiếng với có lễ hội vật, có nghề làm hương, làm hạt bỏng để cúng. Có lẽ do những truyền thống này mà nghề in tranh mộc bản ở Sình, ngay từ khi ra đời đã không thuần túy là dòng tranh phục vụ cho các thú chơi tao nhã, mà chủ yếu là nhu cầu tín ngưỡng, dùng để thờ để hóa trong các lễ cầu an, giải hạn.

Với địa thế giao thương thuận tiện, tranh Sình dường như đã chiếm lĩnh thị trường khắp các tỉnh miền Trung từ Huế đến Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng đến tận Quảng Ngãi. Tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là ở Huế, thậm chí chúng còn xuất hiện trong cung cấm trong các lễ cúng tế cầu tự dân gian do các bà tổ chức một cách kín đáo bên cạnh các nghi lễ chính thống cung đình. Xuất hiện, tồn tại, thăng trầm trong mấy trăm năm qua tranh làng Sình đã cộng nhập những dấu ấn lịch sử và những giá trị văn hoá nhân văn của cộng đồng làng xã.

Khác với dòng tranh Đông Hồ có chủ đề quán xuyến hầu hết mọi mặt của đời sống và tinh thần của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ với lối biểu đạt trào lộng và dí dỏm, tranh Sình dường như chỉ tập trung vào hai công năng: thờ và cúng. 

Về đề tài tranh Sình chia làm ba thể loại chính: tranh nhân vật, tranh súc vật và tranh đồ vật. Tranh nhân vật thường là tranh thế mạng hoặc các tranh trang ông, trang bà, trang bếp (tranh bổn mạng) là những vị thần bổn mạng bảo trợ cho gia chủ loại này thường dán trên tường cuối năm mới đốt, còn tất cả tranh khác đều đốt hóa cùng với vàng bạc hàng mã khi cúng xong. Tranh súc vật là những bức in hình 12 con giáp cúng cho tuổi của mỗi gia chủ hoặc tranh các loài gia súc trâu, bò, heo, ngựa treo trong các chuồng trại nuôi gia súc để cầu cho vật nuôi tránh được dịch bệnh, hay mong cho nghề nghiệp được hưng vượng, tranh các linh thú như voi, cọp thì dùng dâng cúng nơi các miếu cầu mong cho chúng không giáng họa cho người. Tranh đồ vật là tranh in hình các loại áo quần, khí dụng như cung tên hoặc các loại tế phẩm như áo ông, áo bà, áo binh có in hoa văn trang trí.

Về kỹ thuật và chất liệu, tranh Sình cũng giống như đa phần các dòng tranh dân gian xưa, như Đông Hồ, Hàng trống với lối in tranh mộc bản. Bao gồm các công đoạn khá cầu kỳ: khắc bản gỗ, in tranh trên giấy điệp, rồi tô màu. Mỗi công đoạn này lại được hợp thành từ rất nhiều nguồn khác nhau. Như để có giấy để in tranh người ta phải đi cất giấy, ở các vùng khác đến, hoặc từ Bắc vào. Nguyên liệu để quét hồ điệp cũng phải đi khai thác ở các vùng đầm phá nước lợ ở ven biển như đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, trải dọc theo bờ biển Thừa Thiên Huế, sau đó đem về giã, rồi hồ quét. Làng Sình ngày xưa còn được gọi là làng làm giấy bồi hồ điệp, không chỉ dùng cho nghề in tranh mà còn làm cả những công việc khác. Màu in thì đa phần dùng những nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, sau đó quá một quá trình xử lý rất nghiêm ngặt để làm sao khi màu được tô lên tranh không bị phai.

Việc lấy những nguyên liệu màu sắc này cũng có nét giống với tranh Đông Hồ, nhưng cũng bao hàm cả những sản vật địa phương, hoặc kinh nghiệm dân gian để có được những sắc thái khác nhau. Nếu những sắc của tranh Đông Hồ thường chỉ có vài màu cơ bản, bằng cách chồng màu của các loại ván in khác nhau khiến cho màu của tranh khá phong phú. Thì tranh làng Sình, lại giống với tranh Hàng Trống là chỉ in một bản khắc nét đen, sau đó màu được tô vào các chi tiết. Cách tô màu này thường là tô mảng phẳng, và tô một lần, chứ ít khi được tô chồng màu. Nó cũng không tô theo kiểu lấy đậm nhạt bằng việc hòa thêm nước cho các màu để tạo bóng nổi như ở tranh Hàng Trống. Chính đặc điểm này, khiến cho màu của tranh làng Sình, phải pha chế nhiều sắc hơn.

 

Như màu vàng, nếu tranh Đông Hồ chỉ có vàng hoa hòe, thì tranh Sình còn có thêm vàng từ là cây Đung. Hai thứ màu này trộn lẫn với nhau tạo được một sắc vàng đằm hơn và cũng bền hơn. Màu đỏ thì làm từ vỏ cây dương liễu và lá bàng, hoặc gỗ cây trâm chẻ nhỏ, nấu với nước cho đến khi cô lại đặc sánh. Màu lục là hỗn hợp của hai loại nước được sắc từ lá bông ngọt và lá mối. Màu tím được chế từ hạt mồng tơi giã nhỏ, vắt thành nước phèn pha với phèn chua để giữ màu. Màu chàm làm từ lá cây tràm ngâm vôi cho rữa nát, đánh cho tơi và nổi bọt, rồi vớt lấy bọt đó lọc kỹ, cho nước vào và cô đặc lại. Màu xám làm từ lá gai phơi khô, giã nhỏ và sắc lại. Màu đen là hỗn hợp giữa lá bàng quết với tro rơm rạ đã được ủ kín. 
.
Đặc biệt hơn nữa là các bút chổi dùng để tô vẽ của tranh làng Sình cũng là một trong những sản vật điạ phương. Bút tôi màu thường được làm từ rễ gốc rứa, cắt vào một thời điểm nhất định trong năm, sau đó đem phơi và khoanh đầu lột vỏ để chừa phần ruột trong vừa đủ xơ, mềm để có thể ngấm mực phết màu như bút lông. Các loại bút rễ gốc rứa này cũng có rất nhiều các kích thước khác nhau để đáp ứng việc tô các loại nét khác nhau với các thể loại tranh khác nhau.

Với tranh làng Sình xưa kia, cho dù là đồ hóa mã, nhưng cái nét tinh tế vẫn được bộc lộ một cách rõ ràng. Đặc biệt như bộ tranh Bát âm một trong số hiếm thể loại tranh có thể dùng để treo chơi trong dòng tranh này đòi hỏi sự tinh tế trong khắc ván cũng như tô màu. Ta có thể thấy trên các trang phục của các cô tố nữ có sự cầu kỳ từng chi tiết, như huê cài áo, huê giắt đầu, cho đến các văn đồng tiền, chữ thọ đến các đôi hài của các cô, đến các nhạc cụ của các cô cầm trên tay. Nét khắc của bộ tranh này khá mảnh, nhiều chi tiết nên bản khắc thường không sâu. Tuy nhiên trên một số ván khắc khá thì việc chú đến các mảng đặc và mảng rỗng cũng khá rõ ràng. Điều này tạo nên sự khác biệt rất lớn giữa tranh làng Sình với tranh Đông Hồ hay Hàng Trống, và đậm dấu văn hóa Huế. Như trong tranh thế mạng: đàn ông thì mặc áo dài, khăn đóng, cầm quạt, hoặc cầm bút, đàn bà thì mặc áo the, khăn xếp cầm quạt hoặc cầm bông hoa. Nếu ở tranh Đông Hồ hay Hàng Trống, các ván khắc thường ít khi dùng các mảng lớn bởi khi in sẽ không đều mực, mà tạo nên các nét mực đọng, mà họ thường hoạch định các ván nhỏ hơn để tạo các mảng lớn. Nhưng ở tranh làng Sình, những chiếc áo the của các cậu ấm thường là mảng đặc điểm xuyết các văn đồng tiền để tránh các nhược điểm trên. Đồng thời với những ván in như vậy đòi hỏi người in tranh phải có một tay nghề khá cao để có thể tạo nên màu nhung huyền cho chiếc áo the.

Những chiếc áo the này, và trang phục của những cô tô nữ cho thấy cái nét thẩm mỹ của vùng đất kinh kỳ. Những trang phục của các ông hoàng bà chúa trong cung đình đã được đơn giản hóa, hình tượng hóa để trở thành các trang ông, trang bà... Kể cả cách tô màu rực rỡ, điểm xuyết giữa những mảng, sự xen kẽ của màu ngũ sắc trên các chi tiết khác nhau đã phản ánh rất rõ nét cái gu thẩm mỹ của người Huế. Nếu so sánh các kiểu dạng trang phục của tranh trang bà với dòng tranh thờ Đạo Mẫu phía Bắc, ta cũng có thể nhặt ra được các nét tương đồng trong bố cục. Tuy nhiên về tinh thần chúng đã hoàn toàn khác nhau. Sự cầu kỳ của lối trang sức vòng xuyến và các diềm thêu ren của vân kiên phủ vai các bà hoàng này là đặc trưng cho hai lối trang phục của hai miền. Kể cả các hồi văn và chữ triện cũng được chú trọng hơn. Cái khăn xếp đội đầu của bà hoàng lẫn con hầu cũng rất cầu kỳ, chứ không phải lối khăn vấn như ở tranh Thánh mẫu miền Bắc. Cho dù trên các ván khắc mới hiện nay của tranh làng Sình, do trình độ tay nghề, cũng như do sự mai một của làng nghề các chi tiết cầu kỳ này dường như đã bị giản lược đi rất nhiều. Người ta có thể chỉ còn nhìn thấy tính đại khái trong việc tạo ra các chi tiết, nhưng trên các mảng trống đó cái dư âm của lối thẩm mỹ nơi đất thần kinh dường như vẫn phảng phất, mặc dầu đã không còn được chăm chút một cách thích đáng.

Hơn nữa, nếu trên tranh Đông Hồ, Hàng trống, người ta còn thấy những ảnh hưởng rất rõ nét của văn hóa Trung Hoa trên một số mảng đề tài, hay một số kiểu dạng tranh, thì trên tranh Làng Sình nhân tố này có lẽ đã trở nên thuần túy hơn. Tính cầu kỳ và ảnh hưởng từ nghệ thuật trang phục cung đình là rõ rệt, nhưng hoàn toàn giải Hoa. Đặc biệt trên các tranh súc vật hay đồ vật thì lại mang hoàn toàn lối thẩm mỹ cũng như các nhìn dân gian. Sự ngô nghê trong các tạo hình, chỉ để người ta có thể nhận ra đó là con vật gì, chứ không có sự cách điệu hay tạo ra các tiêu chuẩn tạo hình. ở các ván khắc các con vật này lối biểu hình coi trọng mảng đặc và mảng rỗng như được thể hiện ra trên các tranh nhân vật.

Ngày nay, trong đời sống tâm linh của người dân xứ Huế, tranh Sình vẫn có mặt như một phần không thể thiếu, nhưng cái cốt cách, hồn vía xa xưa của một thời thịnh vượng dường như đã không còn nữa. Những bộ ván cổ thất lạc cùng thời gian, mục nát cùng những mùa lũ hàng năm. Thêm vào đó sự xuất hiện rất nhiều thứ tranh tượng lòe loẹt của các đồ cúng đồ thờ cao cấp Trung hoa, khiến dòng tranh ngày thêm mai một. Thêm vào đó tính chất nhất thời của các bức tranh làm ra chỉ để hóa mã chứ không phải để treo như lối chơi tranh Tết của Đông Hồ, Hàng Trống, nên càng ngày tính chất đại khái và rẻ tiền của các nguyên vật liệu làm tranh càng được ưa chuộng hơn. Điều đó làm tranh làng Sình đã không còn giữ được cái phong vị vốn có một thời. Đây cũng là một điều đáng tiếc. Và do vậy vấn đề bảo tồn tranh làng Sình như một nét đẹp lâu đời của vùng đất kinh kỳ này rất đáng được sự quan tâm đầu tư của các cấp chính quyền.

T.T.H

-->đọc tiếp...

CÙNG ĐỌC CHỮ TRONG TRANH TẾT DÂN GIAN ĐÔNG HỒ

Chữ trong tranh Đông Hồ 
Phùng Hồng Kổn

Theo lý thuyết, ngôn ngữ của hội hoạ là đường nét và màu sắc, tuy nhiên, hội hoạ hiện đại - nhất là tranh trừu tượng, nhiều khi không có đường nét nào, không có hình thù gì, thậm trí màu sắc cũng chỉ là tối thiểu. Ây là chưa kể tới nghệ thuật sắp đặt (installation), nghệ thuật trình diến (performance) đang thịnh hành ngày nay.

Hội hoạ cổ phương đông thì trái lại, ngoài đường nét, màu sắc, còn có cả chữ - hơn thế nữa còn có loại “tranh” chỉ có chữ, gọi là “tự hoạ”, lối vẽ tranh này gọi là “thư pháp”. Chữ giúp người xem hiểu ý đồ của tác giả hơn, chữ bổ sung thêm thông tin cho bức tranh, chữ là những lời bình luận về bức tranh, những lời chúc tụng cho chủ nhân bức tranh v.v... Chữ trong tranh có thể là thơ, là câu đối, tục ngữ, phương ngôn, hay có thể chỉ là một câu nói thường ngày - nhưng ý nghĩa lại rất rộng, rất sâu.

Làng Đông Hồ (xưa còn gọi là làng Mái) thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh có nghề làm tranh từ lâu đời. Khác hẳn với tranh dân gian ở nơi khác, tranh cổ Đông Hồ được in trên giấy Dó đã quét điệp. Đầu tiên các nghệ nhân “ra mẫu” tức là sáng tác mẫu. Tiếp đó mẫu được dán vào tấm gỗ thị rồi “cắt ván”( khắc ván). Một ván nét (contour) và bốn, năm ván màu tùy từng tranh. Sau đó là công việc của cả nhà: Quét điệp lên giấy Dó, phơi khô, in lần lượt các màu, cuối cùng là in ván nét màu đen. Tất cả các màu đều được chế từ chất liệu dân dã như lá tre, lá chàm, hoa hòe…(Đến thời kì nước ta bị thực dân Pháp đô hộ thì ở Đông Hồ xuất hiện loại tranh in nét rồi tô màu bằng phẩm ngoại). “Ra mẫu” là khâu then chốt trong việc làm tranh. Mỗi thời cả làng chỉ có vài nghệ nhân có thể ra mẫu. Những nghệ nhân này không chỉ có khả năng vẽ mà còn là những nhà nho có học hành cẩn thận. Chính vì vậy trên tranh Đông Hồ thường có thơ, câu đối, chữ. Và bản thân tranh cũng thường có đôi gọi là “đôi tranh” (như kiểu đôi câu đối).

Thưởng ngoạn tranh Đông Hồ với phần họa, bạn đã thấy hồn mình được trở về với cây đa giếng nước, với mái tranh tỏa khói lam khi chiều buông… Phần chữ trong tranh sẽ giúp bạn thức dây những cảm xúc mới thú vị.

Chữ trong tranh Đông Hồ chủ yếu là chữ Hán và chữ Nôm.Từ những năm đầu của thế kỉ XX một số nghệ nhân mới đưa chữ quốc ngữ vào tranh. Chữ Nôm là thứ chữ khó đọc. Những bản khắc truyền từ đời này sang đời khác, phần dễ bị tổn thương nhất (bị mòn, bị sứt mẻ) là phần chữ. Đọc được hết chữ trên tranh Đông Hồ là việc không dễ dàng. Nhờ được hầu chuyện các lão nghệ nhân, tôi xin chia sẻ cùng các bạn yêu tranh Đông Hồ những điều lí thú từ những dòng chữ trên tranh và cả những bài thơ xung quanh các bức tranh. Tranh Đông Hồ thì hầu như đều có chữ, vì khuôn khổ của bài báo nên tôi chỉ xin trích ra một số bức tranh tiêu biểu. Để tiện cho bạn đọc theo dõi tôi tạm phân thành hai mảng: Tranh về tín ngưỡng (Có một số tác giả gọi loại tranh này là “Tranh chúc phúc”) và Tranh về cuộc sống đời thường. Sự phân loại ở đây chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi tranh mô tả cuộc sống đời thường nhưng nhiều khi cũng được tác giả gửi gắm nhiều ý nghĩa. 

Tranh về tín ngưỡng: 

Tranh tiến tài, tiến lộc: Trên mỗi tranh là một vị thần, một tay nâng bức quấn thư - tưọng trưng cho việc học hành, tay kia nâng biểu tượng thần quyền. tranh tiến tài có chữ “tài hằng nguyên chí” (của như nước nguồn), tranh tiến lộc có chữ “lộc vị cao thăng” (lộc ngày càng tăng). Đó chính là mong ước của người nông dân thuở trước, họ dán hai bức tranh này ở hai cửa buồng (kiểu nhà năm gian hoặc ba gian hai trái thời xưa) với hy vọng thần tài phù trợ. 

Tranh thổ công, táo quân: Phía trên, một bên là hai ông bà thổ công với chữ: “thổ công vị, thổ công hằng trợ, trạch chủ bình an”, bên kia là ba ông bà táo quân với chữ “táo quân vị, nhật hưởng vinh hoa, niên tăng phú quý”. Phía dưới là cảnh thanh bình, no ấm của nhà nông. 

Tranh ông tơ, bà nguyệt : Các cụ kể lại, ngày xưa nhà nào có con 10 tuổi mà chưa dựng vợ, gả chồng thì tết đến chơi đôi tranh này. Trên tranh có ông tơ cưỡi rồng, bà nguyệt cưỡi phượng đang xe tơ kết tóc cho đôi trai gái. Bên cạnh có đôi câu đối: “ông tơ xe chỉ thắm; bà nguyệt kết giải đào”. 

Tranh về cuộc sống đời thường: 

Gà đại cát nghinh xuân (1) (đón xuân tốt lành): hai con gà đối xứng nhau, hình thể, lông cánh, lông đuôi mang tính ước lệ hơn là tả thực. Chữ đại cát được tác giả đưa vào tranh đã đúc kết mong ước từ ngàn năm và cũng là mong ước hàng ngày của mọi người nông dân. người nông dân trồng lúa nước chỉ mong mưa thuận gió hoà; chăn nuôi thì chỉ mong các con vật hay ăn chóng lớn, cuộc đời chỉ mong khoẻ mạnh, con đàn cháu đống v.v... tất cả đều là những ước mơ giản dị - điều lành lớn. Đôi tranh này có bố cục khác hẳn tất cả các tranh còn lại. trong những tranh khác, chữ - tuy cũng là một phần trong bố cục của tranh, những chỉ chiếm một phần nhỏ, còn ở đây chữ và các hoa văn trang trí chiếm nửa bức tranh - tác giả đã nhấn mạnh ước vọng của người nông dân - đồng thời đó cũng là lời chúc tụng trong dịp xuân mới. 

Gà dạ xướng, nhật minh : một chú gà trống đứng co một chân (kim kê độc lập - tư thế giống gà đại cát), mào, cánh, đuôi, lông mã được cách điệu rất đẹp. Trên tranh có chữ “dạ xướng ngũ canh hoà” (đêm gáy năm canh đều đặn). Vế kia của tranh, vẫn chú gà đó quay trở lại, và dòng chữ “nhật minh tam tác thuỵ” (ngày mang tới ba điều lành). Theo quan niệm xưa, tiếng gà gáy xua tan tà ma, quỷ quái, mang tới may mắn. (tranh này cùng với tranh gà Đại cát thường được sử dụng làm “vi nhét” của sách báo). 

Kê cúc (gà trống bên cây cúc): chú gà trống hùng dũng, một chân gân guốc xoạc ra, chân kia bám vào tảng đá, vươn mình lên như sắp gáy- mà cũng như sắp bước vào một trận quyết chiến. nói theo cách của hội hoạ hiện đại, bức tranh này sử dụng bảng màu “tương túc” (tương phản và bổ túc). hai màu tương phản: đỏ - xanh (tuy đỏ đã ngả nâu) và màu trung gian: vàng. những chiếc lông cánh, lông đuôi của con gà: xanh - vàng - đỏ, rồi xanh - đỏ - vàng, có chỗ lại: xanh - đỏ - xanh cùng những mảng vàng lớn - khiến cho thị giác người xem bị cuốn hút mạnh mẽ, chỉ có ba màu mà ta cảm thấy màu sắc như trùng trùng điệp - ấn tượng rất mạnh. Theo các nghệ nhân cao tuổi, hình ảnh gà trống oai phong, hùng dũng tượng trưng năm đức tính của người đàn ông: văn, võ, dũng nhân, tín.

- Cái mào đỏ tựa như chiếc mũ cánh chuồn - tượng trưng cho văn.
- Chân gà có cựa sắc nhọn như kiếm, dùng để chọi - tượng trưng cho vũ.
- Thấy địch thủ, gà trống dũng cảm xông vào, chiến đấu đến cùng - biểu thị của dũng.
- Kiếm được mồi cùng gọi nhau ăn - biểu thị của nhân.
- Hàng ngày gà gáy sang canh không bao giờ sai, nó đánh thức mọi người dạy đúng giờ - biểu thị của tín.

Trên tranh không có chữ gì nhưng một bài thơ vịnh chú gà này của nghệ nhân Hiền Năng (1912-1993, người sáng tác nhiều mẫu tranh về lịch sử) lại được truyền tụng. Bài thơ có tám câu mà đã sử dụng tới bốn câu phương ngôn về gà: 

Gà trống 

Xưa vốn cùng chung một mẹ mà
Khôn ngoan đối đáp với người ta
Gáy lên bạn hỡi xem trời sáng
Báo để người nghe tỉnh giấc ra
Rõ vẻ giống tông đầu mỏ thế
Lẽ đâu ăn quẩn cối xay nhà
Mặc ai vờ vịt trông ra quốc
Thực giống Hồ đây chẳng phải pha. 

Gà thư hùng : Các cụ kể lại, năm ấy (khoảng 1915) cụ chánh Hoàn gả con gái cho anh phán Vinh, cụ Đám Giác (tên thật là Nguyễn Thể Thức 1880-1943) đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới, gà thư hùng: một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con. trên tranh có dòng chữ nôm “lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông”- một lời chúc thật sâu sắc! (con nhà tông không giống lông cũng giống cánh). Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc - tạo nên sự nũng nịu. gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên - tạo nên tư thế chủ gia đình, che trở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc , đầm ấm trong một gia đình.

Con trâu - “là đầu cơ nghiệp của nhà nông”, cũng được các nghệ nhân Đông Hồ dành nhiều tâm huyết. Tranh cưỡi trâu thổi sáo có chữ: “Hà diệp cái thanh thanh” (lọng lá sen xanh xanh). Một tầu lá sen dựng đứng như chiếc ô - ý tưởng thật thú vị. Xưa có câu “đàn gẩy tai trâu” - rõ ràng là không đúng với trường hợp này. Con trâu nghển cổ thưởng thức tiếng sáo, tư thế, dáng vẻ của nó khiến ta cũng nghe thấy tiếng sáo réo rắt, thấy bầu trời trong xanh lồng lộng, thấy cuộc sống thanh bình... Tranh cưỡi trâu thả diều có chữ: “Vũ thu phong nhất tướng” (một hình ảnh gió thu múa). Một cậu bé nằm trên lưng trâu thả diều ... rất thi vị. Nhưng,... sao có thể nằm ngửa trên lưng trâu? và diều là một chiếc nón?

Thực tế khó có thể nằm trên lưng trâu mà dong cái diều bằng nón mê như vậy. Thế mà ngắm tranh ta vẫn thấy khoái? Em-ma-nu-en-căng (1724-1804) nhà triết học lỗi lạc người đức cho rằng: “chỉ nên coi cái đẹp chân chính những gì mang lại cho ta khoái cảm, làm cho ta thích thú, tình cảm khi đó là tình cảm thẩm mỹ. sự thoả mãn vì cái đẹp nảy sinh không hề có sự tham gia của lý tính và bởi vậy không thể luận chứng nó về mặt lô gíc được”. Và ta hãy đọc một câu phương ngôn về trẻ chăn trâu: 

“Đầu đội nón mê như lọng che,
tay cầm cành tre như roi ngựa.” 

Con trâu ở đây lại có cách chia sẻ niềm vui với chủ nhân của nó một cách khác - nó “múa”! Các hoạ sỹ hiện đại, những người không thích tuân thủ các quy tắc của hội hoạ cổ điển, những người không vẽ “cái nhìn thấy bằng mắt”, kể cả những hoạ sỹ “sắp đặt” (instalation) - có lẽ trong giấc mơ cũng chẳng thấy mình nằm trên lưng trâu, chiếc nón biến thành chiếc diều bồng bềnh trong không gian! trí tưởng tượng của ông cha mình thật kỳ diệu. Đôi tranh này đã thể hiện “ba trong một”: thơ - nhạc - hoạ. Bức tranh thả diều còn có hai dị bản khác, một bức có chữ “vũ thu phong nhất dực” (gió thu múa, một cánh) bức kia có chữ “nhất tương phúc lộc điền” (một hạnh phúc của nhà nông) - cũng thú vị không kém. Cũng về con trâu, còn có bức em bé chăn trâu với chữ “như quải giác” (gác lên sừng), bức tranh ca ngợi tính hiếu học của tẻ em nông thôn.

Có tác giả còn đưa được ước vọng lớn của cả nhân loại lên tranh, đó là bức vẽ hai con công đang múa , một bên có chữ “thiên hạ thái bình”, bên kia là “quốc gia thịnh trị”. 

Đề tài em bé và các con vật có rất nhiều tranh. Đôi tranh em bé ôm gà, ôm ngan : nhìn khuôn mặt bầu bĩnh, rạng rỡ của các em bé và con gà, con ngan béo mập - người xem đã hình dung ra cảnh đươc mùa, thóc đầy bồ, gà đầy sân của nhà nông. mong tăng thêm hạnh phúc cho họ, tác giả đề chữ: vinh hoa, phú quý. bé trai ôm con gà, bên cạnh là những bông cúc (kê - cúc) - ước nguyện một tương lai vinh hiển sẽ đến; bé gái ôm vịt, bên những bông hoa sen (liên - áp) - tượng trưng sự trong trắng, thanh cao. Tranh em bé cầm quả phật thủ, quả đào có chữ “chiêu tài tấn bảo, tích ngọc đôi kim”; em bé ôm cóc, ôm rùa , có chữ “nhân nghĩa, lễ trí ”. Cũng về các em bé, đôi tranh sau đây có lẽ còn ít bạn đọc biết tới: Một bé gái không mặc quần áo, ôm quả bưởi, ngồi trong chiếc thúng - rất kín đáo!. Một bé trai mặc yếm, ngồi trên tàu lá - hở hang quá. Còn đây là đôi câu đối trên tranh: “chị cả vẫn vốn giầu - anh chiêu dòng thế đại”. Bạn hãy đọc kiểu trạng quỳnh đi! ... Đôi tranh này có dị bản khác, ghi dòng chữ: “trai tài ôm cóc tía, gái sắc bế cầu xanh”. (Tranh này in nét rồi tô màu phẩm , ra đời vào thời kì nước ta thuộc Pháp).

Một đôi tranh thuộc dạng kinh điển của đông hồ có đề tài về cuộc sống thường nhật, đó là tranh Hứng dừa và Đánh ghen. Chàng ở trên cây, đưa xuống hai trái dừa; nàng đứng dưới, nâng váy lên hứng (thử hình dung hai quả dừa thật mà rơi vào cái váy kia thì điều gì sẽ xảy ra?). Trên tranh có câu thơ nôm: 

Khen ai khéo dựng nên dừa
Đấy trèo ,đây hứng cho vừa một đôi. 

Đây hẳn là lời người vợ, “đấy trèo”, “đây hứng” – một gia đình thật hạnh phúc. Theo triết lý âm dương, trong âm có dương, trong dương có âm, trong may có rủi, trong rủi có may, trong hoạ có phúc, trong phúc có hoạ ...Ta hãy xem vế kia. Tranh hứng dừa êm đềm bao nhiêu thì tranh đánh ghen sôi động bấy nhiêu. Bà vợ cả đã nóng máu, “lành làm gáo, vỡ làm môi”, quyết định cắt tóc dì hai. Bà hai thật trơ chẽn, trong tình trạng trần trụi, nép vào chồng nhưng lại dơ nắm tóc ra thách thức. Ông chồng can ngăn: 

Thôi thôi vuốt giận làm lành
Chi điều sinh sự nhục mình, nhục ta. 

Miệng nói thế nhưng ông này tay vẫn đang nắn “oản bụt”. (trạng quỳnh cũng xin thua các nghệ nhân Đông Hồ!) tuy nhiên, lời can ngăn của ông chồng cũng khéo, ta có thể hy vọng ngày mai, bà cả, bà hai cùng nâng váy hứng dừa.

Về sau, vẫn đề tài này, cụ Đám Giác vẽ đôi tranh mới: Tranh hứng dừa có tới hai đôi vợ chồng! dòng chữ “trong như ngọc, trắng như ngà” có lẽ ám chỉ ... dừa? Trong tranh đánh ghen mới, ông chồng để râu ria nom hơi già nhưng lại có vẻ rất “phong độ”. Trên tranh có dòng chữ “nhân lão như tâm bất lão” (người già nhưng lòng không già) – bên Nôm bên Tự, thật hóm hỉnh. Các cụ kể lại, lúc xem cụ Đám Giác vẽ bức tranh này mấy cụ khoái lắm, có cụ bảo “Cụ cho cái váy nó cao cao lên tí nữa”!

Ngày xưa hai đôi tranh này được chơi nhiều nhất, bên dưới tờ tranh có người còn viết thêm những câu thơ: Lời người vợ hai: 

Măng non nấu với gà đồng
Thử chơi một trận xem chồng về ai 

Lời đứa con vợ cả: 

Mẹ về tắm mát nghỉ ngơi
Ham thanh chuộng lạ mặc thầy tôi với dì.

Theo lời các cụ, những lúc “trà dư tửu hậu”, ngắm tranh Hứng dừa, Đánh ghen, các cụ thường đọc ca dao, thơ về đề tài này, những buổi như thế tiếng cười luôn oà đầy nhà. Xin chép lại vài bài, bạn đọc đồng cảm thì ta cùng “nhâm nhi” 

Thân em làm lẽ chẳng hề
Có như chính thức mà lê giữa giường
Tối tối chị giữ mất buồng
Cho em manh chiếu nằm xuông chuồng bò 
Mong chồng chồng chẳng xuống cho
Đến khi chồng xuống gà o-o gáy dồn
Cha mẹ con gà kia sao mày vội gáy dồn
Mày làm cho tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con. 

hay: 

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Năm thì mười hoạ chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Ví biết sự tình ra thế thế
Thì trước âu đành ở vậy xong. 
Hồ Xuân Hương.

Một điều thú vị, không như trong ca dao hay trong thơ hồ xuân hương, người vợ lẽ luôn bị lép vế, trong tranh đông hồ người vợ lẽ đang chiếm thế “thượng phong”!
.


Bức tranh Đám cưới chuột rất nổi tiếng, trên tranh không có thơ nhưng bài thơ sau của Nghệ nhân Nguyễn Thể Thức lại được truyền tụng: 

Khôn khổn khồn khôn đã có đuôi
Đỗ cao cưới vợ tiếng rầm trời
Chú mèo vừa mớ nghiêng đầu ngó 
Lễ cá sai quân đệ tới nơi. 

Nghệ nhân Nguyễn Thể Thức còn có đôi tranh, bức thứ nhất đề: “cử chỉ hữu cương thường”, một ông lão nói với chàng trai: 

Tre già dẻo đã có thì
Còn phần tràng trực để tuỳ người sau
.



bức kia là “kim ngân hoá luật lệ” và câu thơ: 

Lệ luật thì giáp là trên
Kim ngân hoá ất vượt lên ai bì 
(Hai bức này được in nét rồi tô màu bằng phẩm)

Ngày nay trẻ em được biết chuyện trê cóc qua phim hoạt hình, còn ngày xưa bọn trẻ được nghe ông bà kể lại, đồng thời được chơi Tranh trê cóc. Ở một bức, cóc đệ đơn lên thái phủ (cá chép), xung quanh trê (lý dịch) có một bầy cá, tôm, cua, ốc - xem ra có vẻ ủng hộ trê, chống lại cóc. Cóc không nản chí, tuyên bố (chữ trên tranh):
.



Giỏ ai quai nấy giành giành 
Giương vây thích ngạnh tranh hành chẳng xong. 

Trên bức kia, trạng sư, thông ngôn, hội đồng (chữ trên tranh) đều họ nhà ếch nhái cả. Trạng sư phán quyết: 

Đánh thầy gửi trả hội đồng
Đứt đuôi nòng nọc thời công viên thành. 

Bầy cá, tôm trong tranh rất sinh động là nguồn cảm hứng cho nghệ nhân Niền Năng sáng tác bài thơ sau, mỗi câu có vài loài cá: 

Vượt vũ môn 
Tôm tép xem ra cũng hội đồng
Xôn xao cân cấn với đòng đong
Trôi chày đỏ mắt nằm trông nước
Trê sộp đen lưng núp dưới dòng
Rô nọ chờ mưa lên đỉnh núi
Mè kia đợi nước vượt ra sông
Bể khơi những muốn vươn mình trắm
Cửa vũ vùng lên chép hoá rồng. 

Cùng thời với nghệ nhân Nguyễn Thể Thức còn có nghệ nhân Vương Ngọc Long (1887-1944). Cụ dạy chữ nho nên thường được gọi là cụ đồ Long. Cách làng Đông Hồ chừng 1 km có một đồn Tây (hiện nay mấy cái lô cốt vẫn còn). Lính Tây thường từ đây đi lùng sục vào các làng nhũng nhiễu dân chúng. Thế nhưng những dịp tết Tây chúng lại tổ chức hội hè có cả các trò chơi cổ truyền của ta như Múa lân, Rước rồng, và cả những trò chơi mới như Leo cột mỡ, Liếm chảo...Cụ đồ Long đã sáng tác các bức: “Cóc Tây múa kì lân”, “Chuột Tầu rước rồng vàng”. Cụ đồ Long là một trong những tác giả đầu tiên đưa chữ quốc ngữ lên tranh Đông Hồ. Cóc và chuột là những con vật trong tranh cổ Thầy đồ cóc và Đám cưới chuột nay được gán cho Tây, Tầu! (đôi tranh này cũng được in nét, tô màu).
.



Cũng thời kì này, cụ Long còn sáng tác hai bức “Văn minh tiến bộ toa tăng xương- phong tục cải lương moa tăng phú” nghĩa là: Thời đại văn minh tiến bộ anh hãy cẩn thận; Phong tục thay đổi, tôi cóc cần”. Tiếng tây bồi, viết bằng chữ nôm - thật thú vị.

Vẽ tranh chưa bày tỏ hết được cảm xúc của mình thì làm thơ. Xem tranh, cảm xúc dâng tràn - cũng làm thơ. Nhà thơ Hoàng Cầm (quê ở làng Lạc Thổ, cùng xã với làng Đông Hồ) viết 

“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Hồn dân tộc sáng bừng trên giấy Điệp” 

Còn những người nông dân quê mùa thì truyền khẩu: 

Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát có nghề làm tranh”.

PHK
(1) Hiện nay ở làng Đông Hồ không có bức tranh “Nghinh xuân”. Căn cứ vào các tư liệu sưu tầm được tôi phục chế lại bức tranh này và bức “Nhật minh tam tác thụy” (PHK)

*Bài viết do tác giả gửi riêng NXD-BLog. Xin chân thành cảm ơn tác giả!

-->đọc tiếp...

THÚ CHƠI TRANH TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT

Thú chơi tranh Tết của người Việt

Trang Thanh Hiền

 

Tranh Tết từ lâu đã trở thành một tập quán, một thú chơi của người dân Việt Nam. Và không chỉ kẻ có tiền mới chơi tranh, người ít tiền cũng có thể chơi tranh. Nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Tranh Tết là một phần hồn Việt trong lành, nhân hậu và đồng thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị tâm linh sâu sắc. Những màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt.

Những ngày trước tết, người Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) mang tranh đi bán khắp nơi, người khắp nơi về đây cất tranh. Tranh Hàng Trống cũng rậm rịch trước đó vài tháng, in in, vẽ vẽ và trưng bày với một số lượng lớn các mẫu hàng hơn thường ngày cho dù lượng khách của thể loại tranh này kén hơn.

Người ta cho rằng tập quán chơi tranh lâu đời này xuất phát điểm từ thời Lý (1010 -1225) và nhà Trần (1225 - 1400), nhưng thực tế lại không có một bằng chứng xác thực nào cả. Chỉ biết rằng nghề làm tranh với sự tinh tế đa dạng cũng như sự khác biệt giữa đề tài và kỹ thuật in của hai dòng tranh này từ lâu đã trở nên nổi tiếng.

Tranh Đông Hồ thường được tạo ra bằng cách in chồng các ván màu lên nhau, sau đó bản nét được in cuối cùng để tạo nên thần thái của tác phẩm. Trong khi đó ngược hoàn toàn toàn qui trình này, tranh Hàng Trống là thể loại tranh được in một lần bản nét, để làm xương sống cho tác phẩm sau đó người nghệ nhân phải gia công bằng việc tô phẩm màu lên, và bằng cái tài tài khéo léo của mình để tạo ra đậm nhạt, sáng tối. Do đó, tuy cùng một bản in như nhau nhưng tuỳ cảm hứng của người tô mà các tác phẩm tranh Hàng trống vẫn có sự khác biệt nhau rõ rệt.


Với các đặc trưng này thì kích cỡ các thể loại tranh của hai dòng tranh này cũng hoàn toàn khác nhau. Kiểu in nhiều bản màu của tranh Đông Hồ chỉ cho phép in trên giấy khổ nhỏ, thì mới có thể in nhanh và chính xác các chi tiết. Trong khi đó đối với tranh Hàng Trống kiểu in một lần rồi tô màu, lại cho phép các nghệ nhân làm tranh có thể sáng tác ra các mẫu tranh có khổ lớn và đi sâu hơn vào các chi tiết tỷ mỷ.

Điều này còn liên quan trực tiếp đến thú chơi tranh của người người xưa và nhu cầu trang trí nhà cửa sao cho hài hoà. Đối với nông thôn, các gia đình nghèo, nhà tranh vách đất, thì việc mua một tờ tranh nhỏ với giá phải chăng là điều hoàn toàn có thể. Khổ tranh bằng lá mít cũng rất thích hợp để có thể dán bất cứ đâu trong nhà mang lại một không khí vui tươi rộn rã.

Còn đối với người thị thành, việc treo tranh, chơi tranh không đơn giản là chơi cho có không khí Tết, mà bức tranh còn đồng thời là vật trang trí để kiến tạo nên được một không gian sang trọng và quí phái, và chứng tỏ được cái lễ giáo gia phong của gia đình.
.

Đề tài trong tranh Đông Hồ và Hàng Trống cũng vô cùng phong phú và đa dạng. Nhưng đã là tranh treo tết thì bao giờ cũng mang một nội dung là cầu chúc cho những gì tốt đẹp. Những bức tranh chính là những câu chúc cho gia chủ một năm phát tài phát lộc.

Như Tiến Tài, Tiến Lộc, là những bức tranh luôn được người dán ở cổng như muốn mời gọi thần tài đến nhà. Hay bộ tranh Phúc - Thọ với câu chúc “Phúc như đông hải” và “Thọ tỷ Nam sơn”, là những chữ được viết lấy hình sau đó trong các chữ lại được minh hoạ cho nội dung câu chúc.

Đây cũng là cách thức chơi thư họa đồng nguyên của người Việt. Nhiều bức chữ phúc được khắc vẽ một cách rất cầu kỳ có tới 24 hình ảnh về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, hay trong chữ Thọ có vẽ tới 28 chòm sao; phần lớn thuộc về dòng tranh Hàng Trống, bởi thẩm mỹ của giới thị dân bao giời cũng trọng cái tinh tế, tỷ mỷ và cầu kỳ. Các bức tranh này bào giờ cũng được gia chủ treo ngay ở gian giữa và đăng đối sang hai bên.

Ngoài ra trong dòng tranh Hàng Trống còn có một số những tranh đơn cũng được treo vào dịp tết như “Cá chép trông trăng” hay “múa rồng”. Một cái thì nói lên triết lý âm dương của người phương Đông về âm dương giao hoà, một cái là lời cầu chúc cho một năm phồn thịnh, đem không khí xuân sắc tưng bừng đến nhà.

Hai bức tranh này cũng xuất hiện trong dòng tranh Đông Hồ, nhưng mang nhiều chất mộc mạc giản dị hơn. Một số những đề tài khác lại nói lên những mong muốn sâu xa của người dân về một cuộc sống đầy đủ ấm no hạnh phúc. Như trong tranh Đông Hồ là “Gà đàn”, “Lợn đàn” –tượng trưng cho khát vọng sung túc cả năm. Hay tranh trẻ con như “vinh hoa”, “phú quí” là những cậu bé mũn mĩn ôm gà, ôm vịt tượng trưng cho điềm phúc.

Đầu năm mới cũng là dịp người ta quét tước nhà cửa, sửa soạn lại ban thờ, do vậy các tranh mang đề tài tín ngưỡng cũng được bày bán khá nhiều trong dịp tết như tranh ông Công, ông Táo. Trong các đền phủ thì là các tranh như Tam toà Thánh Mẫu, hay tứ phủ, tranh vẽ về các ông Hoàng... Hay các tranh ngũ quả cũng được nhiều người treo để thay thế cho những bức tranh của năm ngoái.

Một số năm gần đây, việc chơi tranh Tết dân gian có xu hướng quay trở lại. Việc đóng khung tre cho những bức tranh dân gian Đông Hồ là một cách thức mới để họ có thể tìm được sự hoà hợp giữa cái truyền thống và khung cảnh của một phòng khách hiện đại. Còn các tranh Hàng Trống với dạng trục cuốn lại tạo nên sự sang và quí phái vốn có.

Ngày nay, tìm mua được một bức tranh Hàng Trống để chơi Tết cũng không phải là dễ. Cả dòng tranh này chỉ còn một nghệ nhân duy nhất là ông Lê Đình Nghiêm.

Tuy rằng thú chơi tranh của người Việt ngày nay cũng không còn thuần nhất như thuở xa xưa. Các tranh in sẵn của Trung Quốc tràn ngập trên thị trường, khiến các thể loại tranh dân gian có phần bị lép vế. Đã có sự thay thế vị trí của các bức Tiến Tài, Tiến Lộc, Vinh Hoa, Phú quí bằng những tranh em bé ôm những thỏi vàng được dán trước cổng nhà hay cửa hiệu, hay tranh cá, tranh rồng chế tác bằng vi tính được treo và dán ở khắp nơi.

Tuy nhiên, trông các bức vẽ được in hàng loạt ấy có vẻ hào nhoáng nhưng hẳn nhiên không đem lại mỹ cảm. Do đó, đối với người sành chơi, thì tranh dân gian Việt Nam vẫn là những tác phẩm đẹp giản dị mà tinh tế. Cái chân giá trị, cái tinh cái quí sẽ vẫn luôn được bảo tồn như thể truyền thống luôn chảy trong huyết quản của mỗi con người Việt Nam.

Trang Thanh Hiền
Ảnh: Nguyên Vũ
-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

MƯA XUÂN - tạp văn của Nguyễn Xuân Diện

MƯA XUÂN
tạp văn của Nguyễn Xuân Diện

Xuân đã đem mưa về giăng khắp Hà thành. Một năm bốn mùa luân chuyển, mỗi một mùa dường như có một cái gì đó nổi trội lên, mà qua đó người ta cảm nhận được bước đi của thời gian.Với hạ là nắng, thu là gió heo may, đông là sương giá, riêng với xuân, đó là mưa. Mưa xuân. 

Không biết mùa xuân nào trong thuở hồng hoang xa xăm, là mùa xuân đầu tiên trời gieo mưa xuống, để rồi thành thông lệ có lẽ đến muôn đời. Cũng không ai biết ai là người đầu tiên nhìn ra được, cảm nhận được cái ý vị của mưa xuân. Và ai mà biết được là có bao nhiêu bài thơ viết về mưa xuân.

Mưa xuân không dầm dề nát đất thối cỏ như mưa thu, cũng không ồn ào, náo động như mưa rào tháng hạ. Mưa xuân êm êm giăng mắc bất ngờ. Mưa xuân như không rơi mà bay, bay lay phay như là bụi vậy.

Thường thì mưa xuân vào lúc hạ tuần tháng chạp. Cứ ấy trời còn rét. Mưa vào đúng cái lúc người ta rộn ràng sắm tết. Mưa xuân đã đi vào trong tiềm thức của người ta và để lại dấu ấn đậm nét. Bạn cứ tưởng tượng mà xem, sẽ ra sao nếu từ ngày hai mươi tháng chạp đến chiều tất niên không có mưa lấy một chút nào. Dường khi là khi đi sắm tết, có vài bụi mưa buông xuống thì mới ra không khí tết, mới ra khung cảnh đi sắm tết. Xuân về, chưa thấy mưa thì nhớ và thèm mưa lắm. Đi sắm tết mà trời cứ nắng và khô hanh quá sẽ làm giảm đi không khí chợ búa. Trời thương nhân gian, trời buông mưa vào chính lúc ấy. Mưa xuân kéo bụi đường về với mặt đất. Đi sắm tết mấy chiều hai mươi tám, hai mươi chín, rồi chiều tất niên có ai không rẽ vào hàng hoa, chợ hoa. Người Hà Nội mình vốn lịch lãm trong ăn uống đã đành, nhưng trong cách chơi thì mới thể hiện rõ nhất sự lịch lãm, thế cho nên ngày tết, nhất nhất nhà ai cũng có hoa tươi. Chợ hoa Hà Nội, xuân về, tết đến có mưa xuân xuống thì mới thực là chợ hoa ngày tết. Chợ hoa tết có mưa hoa sẽ tươi lâu, dễ giữ gìn, người bán đỡ thất thiệt, người mua cũng phấn chấn. Mưa xuân tươi cây xuân. Mưa xuân tươi hoa xuân. Đi chợ hoa về, tay cầm cành bích đào hoa thắm đỏ giữa mưa xuân phố phường, trông tết lắm.
.
Ai cũng yêu mưa xuân. Nhưng thi nhân yêu mưa xuân hơn ai. Thi nhân mong mưa xuân. Mưa xuân bay và rồi ngưng đọng trong trang thơ họ. Đỗ Thiếu Lăng trông xuân mong mưa rồi để lại một câu thơ tuyệt bút: “Hoa trọng Cẩm Quan thành” (thành Cẩm Quan, hoa trĩu nặng vì mưa xuân). Xuân về nhớ Nguyễn Bính - Nguyễn Bính đã hơn một lần chen chân vào hội chèo ở một làng Đông làng Đoài rồi để lại bài thơ về một cuộc tình lỡ muộn, để buồn cho bao năm. Thiên tình sử ấy được viết trên nền trời xuân mưa bay phấp phới. Xuân về, về thăm quê, đi qua một bến nước, bỗng nhớ Chiều xuân xưa mưa đổ bụi, của người nữ sĩ sông Thương. 

Mưa xuân nên thơ. Mưa xuân như mơ. Mưa xuân bay lay phay. Mưa không thành tiếng, đậu vào cây lá nhẹ nhàng như chân con bướm xuân đậu lên hoa. Gió đưa mưa đi miên man. Gió đưa mưa đi lang thang như gót chân người lãng tử. Mưa vô biên. Mưa miên man. Mưa êm êm. Mưa cũng đang tết với người Hà Nội mình đây.

Hà Nội, Xuân 92
Bài đăng trên số TẾT năm 1992.
-->đọc tiếp...