Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thăng Long. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thăng Long. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Hoàng thành Thăng Long - KHAI QUẬT 10 NĂM CHƯA TỔNG KIỂM KÊ VÀ BÀN GIAO

Khai quật khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long
10 năm chưa tổng kiểm kê, bàn giao hiện vật
08:50 | 29/08/2013
Khai quật khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu, thuộc khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã thu được bao nhiêu di vật, thuộc những chủng loại nào? Câu hỏi này, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội, đơn vị được giao quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản này cũng không trả lời được, vì từ khi khai quật cuối năm 2002 đến nay chưa tiến hành tổng kiểm kê và bàn giao hồ sơ, hiện vật.


Ảnh: An Thành Đạt

Quyết định đầu tiên về khai quật khảo cổ tại khu vực 18 Hoàng Diệu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ký ngày 26.11.2002, cho phép Viện Khảo cổ học, thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay là Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), khai quật thăm dò khu vực xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình mới, trên diện tích 2.000m2, trong thời gian từ ngày 25.11.2002 - 31.2.2003. Tiếp đó, từ năm 2003 - 2008 còn có 4 quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, nay là Bộ VH, TT và DL, về việc khai quật khảo cổ tại khu vực này. Tất cả các quyết định đều nêu rõ: những hiện vật thu thập được trong quá trình khai quật thăm dò giao cho Sở VH - TT Hà Nội (nay là Sở VH, TT và DL Hà Nội) gìn giữ, bảo quản; sau khi kết thúc đợt khai quật, chậm nhất là 3 tháng, Viện Khảo cổ phải có báo cáo sơ bộ và sau 1 năm phải có báo cáo khoa học gửi về Cục Bảo tồn bảo tàng (nay là Cục Di sản văn hóa). 

Tuy nhiên đến nay, toàn bộ hồ sơ, kết quả nghiên cứu hiện vật tại khu A - B và khu C - D với diện tích 13.000m2 vẫn chưa được Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam bàn giao cho thành phố Hà Nội, nên không ai nắm được số lượng cũng như chủng loại di vật đã khai quật. Năm 2010, để tổ chức triển lãm chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - đơn vị được thành lập với chức năng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - phải ký mượn hiện vật của Viện Khảo cổ để trưng bày. Sau Đại lễ, đến nay, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam mới chỉ bàn giao 215 di vật của khu di sản. 

Chưa tổng kiểm kê và bàn giao hiện vật sẽ gây khó khăn trong việc quản lý, nghiên cứu, trưng bày, bảo tồn và phát huy giá trị của Di sản thế giới này, đưa di sản đến với công chúng; cũng như không thể thực hiện quy hoạch tổng mặt bằng khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu. Lý do chưa thể tiến hành tổng kiểm kê và bàn giao hồ sơ, hiện vật, theo công văn Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam gửi UBND thành phố Hà Nội ngày 7.11.2012, là vì đang thực hiện dự án chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học khu di tích, nhằm từng bước hoàn thiện công trình nghiên cứu tổng thể để khẳng định tính toàn vẹn về khảo cổ học; “công tác này chỉ thực hiện được sau khi đã hoàn thành công việc chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học”, dự kiến đến năm... 2025. Cũng theo công văn này, các loại hình di vật khảo cổ học khai quật được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long ước tính khoảng vài triệu di vật. Tất cả đang được bảo quản trong hệ thống 7 nhà kho ở khu C - D, có diện tích khoảng 3.825m2 và hệ thống nhà chỉnh lý, khu văn phòng làm việc của các nhà khoa học đang thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu tại khu di tích.

Năm 2013 là thời điểm 3 năm khu di sản Trung tâm Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, theo quy định của Ủy ban Di sản thế giới, ICOMOS sẽ kiểm tra, đánh giá công tác thực hiện cam kết của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. Nếu những cam kết không được thực hiện đầy đủ, đặc biệt là việc bàn giao mặt bằng khu di tích 18 Hoàng Diệu cùng toàn bộ tài liệu, hiện vật về TP Hà Nội quản lý, thì khu di sản sẽ bị cảnh cáo và có nguy cơ đưa ra khỏi danh sách Di sản thế giới.

Trước tình hình này, ngày 11.7.2013 vừa qua, UBND thành phố Hà Nội đã có văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với UBND thành phố tổng kiểm kê di tích, di vật và bàn giao toàn bộ tài liệu, hiện vật, mặt bằng tại khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu cho Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội trong năm 2013. Việc làm này cũng sẽ giúp thực hiện quy hoạch tổng mặt bằng khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu phù hợp với tiến độ hoàn thành xây dựng Nhà Quốc hội vào tháng 10.2014. Trước đó, Bộ VH, TT và DL, Hội đồng tư vấn khoa học nghiên cứu bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội đều đã có văn bản kiến nghị tổng kiểm kê di tích, di vật và bàn giao toàn bộ tài liệu, hiện vật, mặt bằng tại khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu cho Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội trong năm 2013. 

Tuy nhiên, thông báo ngày 19.8.2013, kết luận của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp về dự án Công viên lịch sử văn hóa Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, mới chỉ yêu cầu Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam bàn giao toàn bộ mặt bằng di tích khu C - D vào tháng 10.2013; “các vấn đề về hồ sơ và di vật đã khai quật tại 18 Hoàng Diệu sẽ bàn giao cho UBND thành phố Hà Nội vào giai đoạn sau” (?).
Nguyên Anh
Nguồn: Người ĐBND
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

THÀNH ỦY HÀ NỘI SẼ GIẢI TRÌNH RA SAO VỀ VẤN ĐỀ NÀY?

Những bộ phim chào mừng 1000 năm Thăng Long: 
Muốn “chào” cũng không ai “mừng”

Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đã đi qua được gần 3 năm, thế nhưng một số bộ phim được sản xuất để chào mừng dịp lễ này đến nay vẫn chưa được ra mắt khán giả. Thậm chí, bộ phim “Thái sư Trần Thủ Độ” được phát miễn phí mà các đài truyền hình còn chưa muốn nhận. Số phận một bộ phim ngốn đến 57 tỷ đồng tiền ngân sách thành phố cho 30 tập không khác nào những công trình tiền tỷ sinh ra đề “chào” nhưng cũng không ai thấy “mừng” cho sự hiện diện tốn kém của chúng.


Dịp đại lễ được lên kế  hoạch cả 10 năm trước đó, hàng nghìn tỷ đồng bỏ ra sang sửa cho bộ mặt thành phố, nhưng rồi chỉ 3 năm sau, giờ đã loang lổ, sập xệ. Thiết tưởng kế hoạch sản xuất phim chào mừng đại lễ cũng phải chuẩn bị xong đâu vào đấy rồi, nhưng đúng dịp đại lễ thì 3 bộ phim dành “cúng cụ” đều gặp rắc rối cả.

“Lý Công Uẩn” đầu tư 100 tỷ  đồng, nhưng vì mải chạy theo sự “hoành tráng” nên quên béng mất cội nguồn dân tộc, mọi thứ đều bị Tàu hóa đến khó sửa nên đành xếp 100 tỷ đồng vào xó, coi như anh em diễn viên đạo diễn, người làm phim… cũng có “chút kinh phí” ăn mừng đại lễ. Còn “Huyền Sử Thiên Đô” đầu tư 60 tỷ đồng kinh phí, lên sóng được 42 tập thì lỗ nên cũng phải sớm “thăng thiên”. Giờ đến “Thái sư Trần Thủ  Độ” dù được tận 3 giải Cánh diều vàng 2012 nhưng vì “phim làm để “cúng cụ” mà “ngày giỗ qua lâu rồi mới dâng đồ cúng tế, chả phải là “sái sẩm” lắm sao” – theo như báo Lao động bình luận. Vì thế, bà Phó Chủ tịch TP.Hà Nội – Nguyễn Thị Bích Ngọc cũng phải ngậm ngùi rằng: Vì phim làm từ ngân sách nên thành phố phải tìm mọi cách để phim đến được với khán giả. Thậm chí, Hà Nội đã tính đến chuyện gửi tặng từng tỉnh, thành phố trong cả nước để phát sóng, “biếu không” đài THVN, nhưng đến giờ, sau khi phát hành vào tháng 8/2012, gần 1 năm sau phim vẫn chưa ra mắt khán giả.
 
Phim Lý Công Uẩn được tờ Tân Hoa xã của Trung Quốc đánh giá cao

Có lẽ do đây là bộ phim theo đơn đặt hàng, cũng phải có dịp thì phát lên sóng mới có ý nghĩa, hơn nữa, lịch phát sóng  đã được các đài lên kế hoạch “cẩn thận” nên bộ phim dài 30 tập, có kinh phí đầu tư 57 tỷ đồng vẫn còn truân chuyên lắm.
 
Với 3 bộ phim kinh phí hàng chục tỷ đồng có kết cục “buồn”, dường như  các nhà làm phim thì “kiệt sức” vì  những dự án quá lớn, nên cũng chẳng mấy quan tâm đến chuyện nó có ra mắt khán giả hay không. Hơn nữa, tiền ngân sách chứ có phải “của đau con xót” đâu mà chạy đôn chạy đáo cho nó được phát sóng thu tiền quảng cáo. Được giải thưởng cũng là vinh danh hết sức rồi, hơi đâu mà quan tâm xem khán giả có được xem, có thích hay không. Mà chưa kể, bị giới phê bình đào bới chán vì nhìn thấy “món hời” ngân sách chi không tiếc tay, giờ phát sóng khán giả chê bai chỉ thêm mệt.
 
 
Vậy là, có phát sóng những bộ  phim này nữa hay không cũng chẳng ai quan tâm, không ai phải chịu trách nhiệm, tiền “chùa” mà. Chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thì cũng qua rồi, giờ có muốn “chào” ra mắt khán giả cũng chẳng ai “mừng”, âu cũng coi như đây là những cơn “bão rớt” của phim ngân sách. Chỉ có “ông chủ đầu tư” mang tên “toàn dân” cho những bộ phim kia là xót, bởi tối tối vẫn phải ngồi “giải trí” trước những hạt sạn to đùng, cố nuốt cho trôi ngủ gà ngủ gật trước màn hình TV để lấy sức sáng mai đi làm, dành tiền đóng thuế tiếp.
 


Nguồn: SM
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

CHÙA MỘT CỘT - MỘT HUYỆT MẠCH QUAN TRỌNG CỦA LONG THÀNH



Chùa Một Cột rất cần có một cuộc đại trùng tu, nhưng…
Trần Thị Kim Anh 
– viết riêng cho NXD-Blog 

Được biết ngày 30/9, UBND quận Ba Đình đã tổ chức Hội nghị xin ý kiến các nhà khoa học và các nhà quản lý về việc tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa chùa Một Cột- chùa Diên Hựu. Không thuộc diện được hỏi ý kiến, nhưng là người yêu quý lịch sử Thăng Long – Hà Nội, tôi xin cống hiến đến chư vị bài viết dưới đây. 

Điểm lại các tư liệu về chùa Diên Hựu - Một Cột: 

Tư liệu đầu tiên và cổ nhất hiện biết về chùa Diên Hựu - Một Cột chắc chắn là văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi được khắc đá năm 1121 đời vua Lý Nhân tông, 16 năm sau khi chùa được trùng tu. Văn bia cho biết, năm 1105 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân tông, chùa được trùng tu lớn. Văn bia mô tả rất kỹ kiến trúc chùa trong lần trùng tu này như sau: “Mở rộng chùa Diên Hựu ở viên lâm phía tây cấm thành, noi theo quy chế cũ trước đây, nhưng thực hiện những mưu tính mới theo ý vua, đó là đào ao sen Linh Chiểu, giữa ao vọt lên một cột đá. Trên đỉnh cột đặt hoa sen ngàn cánh, trên hoa đặt vững một tòa điện tía. Trong điện đặt tượng Quan Âm dát vàng. Bên ngoài ao có hành lang vẽ vây quanh, bên ngoài vòng hành lang là ngòi nước biếc, mỗi mặt đều bắc cầu vồng đi thông vào. Nơi cây cầu ở sân phía trước, hai bên đầu cầu có hai ngọn bảo tháp lợp ngói lưu ly”. (Hướng tây cấm chi danh viên, quảng Diên Hựu chi quang tự. Tích tòng tiền chi cựu chế, xuất thánh ý chi tân mưu. Tạc Linh Chiểu chi phương trì, nhi trì trung dũng nhất thạch cán. Cán thượng kỳ thiên diệp liên hoa, hoa thượng nhi kiều an cam điện. Điện trung tọa kim tướng chi Năng nhân. Trì chi ngoại chu nhiễu họa lang, hoàn lang chi ngoại hựu sơ bích trì, mỗi giá phi kiều dĩ thông chi. Tiền kiều chi đình tả hữu Phạn  lưu ly bảo tháp… Thác bản hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu 32724 – 32725).

Tư liệu thứ hai là bài thơ viết về chùa Diên Hựu (延祐寺) của Thiền sư Huyền Quang (1254 -1343), trong bài có hai câu tả thực như sau:

鴟 吻 倒 眠 方 鏡 冷
塔 光 雙 峙 玉 尖 寒
Si vẫn đảo miên phương kính lãnh
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn
Hình chim thần ngủ ngược trên gương nước lạnh
Bóng đôi tháp sừng sững như đôi ngón tay ngọc giá băng

Tư liệu thứ ba là Đại Việt sử ký toàn thư. Toàn thư nói về thời điểm làm chùa và giải thích cái tên chữ Hán của chùa là Diên Hựu rằng: Năm Kỷ Sửu, niên hiệu Thiên Cảm Thánh Vũ năm thứ 6 (1049). Mùa đông tháng 10, dựng chùa Diên Hựu (mãi mãi tốt lành). Trước đây vua (Lý Thái Tông) nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài sen dẫn vua lên đài. Đến khi tỉnh dậy nói lại với quần thần, có kẻ cho là điềm bất tường. Có vị thiền sư là bậc mẫn tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá giữa mặt đất, làm đài sen và tượng Quan Âm ở đỉnh cột như đã thấy trong mộng, cho các sư đi vòng quanh tụng kinh cầu cho vua được trường thọ. Cho nên đặt tên như vậy.(Sơ, đế mộng Quan Âm phật tọa liên hoa đài dẫn đế đăng đài. Cập giác, ngữ quần thần, hoặc dĩ vi bất tường. Hữu tăng thiền tuệ giả khuyên đế tạo tự, lập thậch trụ vu địa trung, cấu Quan Âm liên hoa đài vu kỳ thượng như mộng trung sở kiến, tăng đồ toàn nhiễu tụng kinh cầu diên thọ, cố danh). 

Toàn thư cũng ghi nhận các lần trùng tu chùa Diên Hựu: Lần thứ nhất vào năm Tân Tỵ niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa nguyên niên (1101), vào mùa xuân, “đổi niên hiệu, cho trùng tu chùa Diên Hựu”. Lần thứ hai, vào năm 1106, “mùa thu, tháng 9, làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu… Bấy giờ vua cho sửa chùa Diên Hựu đẹp hơn trước, đào hồ dưới đài sen gọi là hồ Linh Chiểu. Bên ngoài có hành lang vẽ, ngoài hành lang có ngòi nước biếc, bắc cầu vồng đi thông vào, trước sân chùa xây bảo tháp”. Lần thứ ba là vào đầu thời Trần, năm 1249 niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình đời vua Trần Thái tông chùa được trùng tu. Lần trùng tu này, vua hạ chiếu vẫn theo như cũ. (Kỷ Dậu xuân chính nguyệt, trùng tu Diên Hựu tự, chiếu nhưng cựu).

Một tư liệu nữa do Phạm Đình Hổ cung cấp qua Vũ Trung tùy bút (bản R.1609 Thư viện Quốc gia). Ông cho biết: “Chùa Diên Hựu ở thời Lý tục gọi là chùa Một Cột, nằm ở bên ngoài cửa Bạch Hổ của hoàng thành, về phía Đông Nam trường Thái Hòa. Trạng nguyên nhà Mạc là Trần Tất Văn trong bài ký ứng chế Diên Hựu tự ký có tả đại lược như sau: Một cây cột đá sừng sững giữa ao sen, trên dựng chênh vênh một ngôi lầu, bốn mặt có hành lang vòng quanh. Xem những lời đó có thế biết quy chế to lớn diễm lệ của nó. Từ trung hưng đến nay, ao sen hoang tàn, hành lang đổ nát, chỉ còn cây cột, trên đỉnh cột có tòa lầu nhỏ, trong thờ tượng Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, phía trước có bắc cây cầu vồng lợp mái cong. Ngôi tiền điện phía nam ao lợp bằng tranh tre. Năm Ất Sửu niên hiệu Gia Long (1805), đắp thành Thăng Long, cây cầu vồng bị triệt bỏ, cảnh chùa càng thêm hoang phế. Dân cư tương truyền, bùn đất trong ao lẫn vô số kể kim sắt…, người ta cho là nơi Cao Biền trấn yểm”.

Ngoài ra, tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ một văn bản chép nguyên văn một văn bia mang tên Nhất trụ tự bi, mang số hiệu 20917, có niên đại Cảnh Trị năm thứ 3 (1665), do Hòa thượng Tỳ khưu Lê Tất Đạt ghi. Nội dung như sau:

Nước Việt ta trước đây trong phủ Long Biên có một cái hồ vuông. Niên hiệu Hàm Thông (nguyên bản chép là Phong) nguyên niên nhà Đường (860) dựng một cột đá giữa hồ, làm lầu ngọc ở trên cột, đặt tượng Phật Quan Âm để phụng thờ. Địa khí chung đúc linh thiêng, điều cầu xin bao giờ cũng được. Đến triều Lý dựng đô ở đây, cũng nhân theo đó càng thêm tôn kính, rất là linh dị. Khi vua Lý Thánh Tông chưa có hoàng tử, thường hương khói cầu tự ở đây. Một hôm ngài mộng thấy Phật Quan Âm dắt lên trên lầu, bế một đứa trẻ đặt vào lòng ngài. Tháng đó Hoàng thái hậu liền có mang hoàng tử. Vua bèn làm thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên hữu chùa Một Cột, để mở mang việc thờ phụng, để tỏ rõ sự tôn sùng. Trải bốn triều đại tu sửa đều nhân theo đó, cùng hưởng phúc hà sa.

Tuy nhiên văn bản này không đủ độ tin cậy nên chúng tôi không sử dụng[1].

Từ các tư liệu trên chúng tôi xin được đưa ra một số ý kiến về chùa Diên Hựu – Một Cột như sau: 

1. Nguồn gốc chùa Diên Hựu - Một Cột:

Ban sơ, khi xây dựng chùa Diên Hựu, trước chùa, người ta cho dựng một cột đá lớn trên mặt đất với đỉnh cột là tượng Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen. Lối kiến trúc này cho phép liên tưởng đến cấu tạo của các kinh chàng (Thạch chàng / Cột kinh) – một loại kiến trúc Phật giáo, thường được dựng lên để kiến tạo công đức. Loại kiến trúc này bắt đầu thịnh hành vào thời Đường, lan truyền đến Triều Tiên Nhật Bản và Việt Nam. Thời Đinh - Lê ở nước ta, kinh chàng được tạo dựng khá nhiều, Nam Việt vương Đinh Liễn từng dựng 100 tòa kinh chàng vào năm Quý Dậu (973).

Kinh chàng thường có cấu trúc khi hình trụ khi hình lục giác, nhưng phần nhiều là hình bát giác, gồm ba phần đỉnh thân và đế. Trên các mặt của thân chàng có khắc kinh phật, chân đế chạm khắc hoa lá vân mây sóng nước, đỉnh chạm khắc tượng phật, bồ tát…Hiện đã phát hiện được 14 kinh chàng bát giác loại nhỏ ở kinh đô Hoa Lư Ninh Bình có khắc kinh Đà la ni, ngoài ra hiện còn một kinh chàng lớn hình bát giác cao hơn 3 m, do Đại Hành Hoàng đế Lê Hoàn dựng tại Hoa Lư, trên các mặt của kinh chàng này khắc bài chú trong Kinh Lăng Nghiêm và một số bài kệ. Hiện kinh chàng này vẫn còn tại chùa Một Cột ở Hoa Lư. Chùa Một Cột hiện nay ở Hoa Lư vốn là ngôi chùa cổ thời Tiền Lê, ngôi chùa này hiện thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích Cố đô Hoa Lư Ninh Bình. Chùa được xây dựng theo kiểu chữ “Đinh”, hướng chính Tây, kiến trúc bao gồm cột kinh, chính điện, nhà tổ, phòng khách, nhà ăn, tháp… 

Sách Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện do Vân Bồng Đỗ Tử Mân soạn vào niên hiệu Tự Đức 15 (1862) cho biết, cho đến bấy giờ (1826), “tại hai xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ ở phía tây bắc huyện Gia Viễn vẫn còn thấy rõ cấu trúc nội thành ngoại thành cùng dấu tích và tên gọi của Cáp Môn, Cầu Đông, Cầu Dền, Cầu Mống, Đình Ngang. Trường Tiền, Chùa Tháp, Chùa Một Cột. Đặc biệt sách cho biết, còn một cái cột đá vừa cao vừa to, khắc kinh phật, rêu phủ không thể đọc hết, có lẽ là di tích của chùa Một Cột”. Vậy phải chăng, khi kinh đô được dời ra La thành, ban đầu nhà Lý đã mô phỏng kiến trúc kinh đô Hoa Lư ?. Và mẫu chùa Diên Hựu ban đầu, với kinh chàng đặt trước chùa - chính là được mô phỏng theo chùa Một Cột ở kinh đô Hoa Lư?

3. Diễn biến về mặt kiến trúc của chùa Diên Hựu - Một Cột:

Chùa Diên Hựu – Một Cột là một kiến trúc Phật giáo được xây dựng trong viên lâm phía tây Hoàng thành. Viên lâm (vườn cảnh lớn) là một dạng kiến trúc cảnh quan thời cổ, được vua chúa cho kiến tạo làm nơi nghỉ ngơi giải trí. Viên lâm hoàng thành bắt đầu được tạo dựng cùng với hoàng thành nhà Lý, nằm ở phía tây hoàng thành, thuộc khu vực vườn Bách Thảo và bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay. Dựa vào cảnh quan tự nhiên nơi này, người ta đào hồ đắp núi nhân tạo, trồng cây cối hoa lá thả chim muông làm thành một khu vườn lớn riêng cho vua quan hoàng tộc nhà Lý. Dấu tích núi Sưa, các hồ nước ở khu vực Bách thảo, sông Ngọc Hà… ngày nay rất có thể là dấu vết còn lại của viên lâm hoàng thành Thăng Long. Được biết viên lâm này tồn tại qua thời Lê sơ, bởi vua Lê thánh tông từng có câu thơ tả khu vườn cảnh này sau mưa: Viên lâm vũ quá lục thành ác [Viên lâm sau mưa, lá xanh thành bức rèm]. Đến thời Lê - Trịnh, vua Lê thất thế, khu viên lâm này không người coi sóc, bị bỏ hoang phế, dân cư lấn chiếm dần. Thời kỳ này chúa Trịnh cho kiến trúc khu viên lâm khác rất nổi tiếng gọi là Kỳ viên gắn liền với kiến trúc phủ chúa, từng được Phạm Đình Hổ nhắc đến trong Vũ trung tùy bút.

Như trên đã nói thì chùa Một Cột ngày nay chỉ là một phần trong quần thể kiến trúc chùa Diên Hựu, đó nguyên là một kinh chàng được kiến tạo phía trước chùa, với cấu tạo là một cột đá bát giác dựng trên mặt đất (sân trước chùa), các mặt của cột đá đều khắc kinh Phật, đỉnh cột là đài sen và tượng Quan âm (chưa có điện thờ). 

Năm 1106, 57 năm sau, chùa được vua Lý Nhân tông cho trùng tu mở rộng, trở thành một quần thể kiến trúc lớn. Riêng kinh chàng trước sân chùa được thêm vào những nét mới. Kinh chàng được đặt giữa một hồ vuông thả sen gọi là hồ Linh Chiểu, trên đỉnh cột là tòa sen mạ vàng. Giữa tòa sen là ngôi điện sơn màu tía, sườn nóc điện có gắn hình tượng chim thần để trang trí và tỵ tà. Trong điện đặt tượng Phật mạ vàng. Vây quanh hồ sen là hành lang sơn vẽ, vòng ngoài hành lang là hào nước xanh biếc, mỗi mặt đều bắc cầu vồng để đi vào, ở sân phía trước, hai bên đầu cầu dựng hai ngọn tháp lợp ngói lưu ly.

Đến đầu thời Trần, chùa được trùng tu vào năm 1249, vẫn giữ nguyên kiến trúc của lần trùng tu năm 1106.

Đến thời Mạc, có lẽ tòa sen đã hư hỏng nên không thấy tư liệu nhắc đến tòa sen nữa, chỉ còn “Một cây cột đá sừng sững giữa ao sen, trên dựng chênh vênh một ngôi lầu, bốn mặt có hành lang vòng quanh”.

Sau thời kỳ Trung hưng của nhà Lê, cùng với sự suy tàn của viên lâm, chùa hư hỏng dần. Theo ghi chép của Phạm Đình Hổ thì Chùa Diên Hựu lợp bằng tranh tre, chùa Một Cột thì ao sen hoang tàn, hành lang đổ nát, chỉ còn cây cột, trên đỉnh cột có tòa lầu nhỏ, trong thờ tượng Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn và một cây cầu vồng lợp mái cong phía trước. 

Đến năm Ất Sửu niên hiệu Gia Long (1805), đắp thành Thăng Long, cây cầu vồng bị triệt bỏ, dấu tích kiến trúc của chùa Một Cột thời Lý gần như không còn.

Theo sách Lịch sử thủ đô Hà nội (Trần Huy Liệu chủ biên – Nxb Sử Học. 1960) thì chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 dưới thời Nguyễn, không rõ lần trùng tu này ra sao. Năm 1922 chùa lại được trùng tu. Ngày 11 tháng 9 năm 1954, trước khi rút khỏi thủ đô, người Pháp cho đặt mìn phá hủy, chùa chỉ còn cây cột với mấy cái xà gỗ. Sau khi tiếp quản Hà Nội, Chính phủ VNDCCH cho phục dựng lại chùa như hiện nay. 

4. Chùa Một Cột phải chăng là một huyệt mạch quan trọng của Long thành?

Toàn thư chép: “Mùa đông tháng 10, dựng chùa Diên Hựu (mãi mãi tốt lành). Và giải thích: Trước đây vua (Lý Thái Tông) nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài sen dẫn vua lên đài. Đến khi tỉnh dậy nói lại với quần thần, có kẻ cho là điềm bất tường. Có vị thiền sư là bậc mẫn tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá giữa mặt đất, làm đài sen và tượng quan âm ở đỉnh cột như đã thấy trong mộng, cho các sư đi vòng quanh tụng kinh để cầu trường thọ, cho nên đặt tên như vậy”. Theo đó thì chùa Diên Hựu được xây dựng để giảm nhẹ sự bất tường và tạ ơn đức Phật. Điều này cho phép hiểu rằng sự tồn tại của chùa Diên Hựu mang lại sự may mắn và an lành cho kinh đô và Quốc chủ. 

Từ xa xưa, người Thăng Long vẫn truyền tụng, khu vực phía tây hoàng thành Thăng Long từng bị Cao Biển trấn yểm. Mạch núi đất kéo từ núi Nùng (khu vực điện Kính Thiên) đến khu vực công viên Thủ Lệ ngày nay bị cắt đoạn đứt nối chính là dấu tích của sự kiện này. 

Phải chăng khi định đô ở Thăng Long, sau khi dò tìm được huyệt mạch bị trấn yểm, nhà Lý đã cho xây chùa và đặt một kinh chàng lớn ở đây để giúp hóa giải và điện an kinh đô?. Tên chùa được đặt là Diên Hựu mang ý nghĩa kéo dài mãi mãi sự tốt lành cho kinh đô. Trong lần trùng tu năm 1106, để khai thông huyệt mạch, người ta đã đào ao Linh Chiểu để kinh chàng ở vào vị trí chính giữa ao. Ao được đặt là Linh Chiểu 靈 沼  (Ao Thiêng) có lẽ để nói về sự linh thiêng của nơi này. (Điều này cũng lý giải vì sao bùn đất trong ao có lẫn rất nhiều kim sắt). Đồng thời, cùng với việc mở rộng chùa, vua Nhân tông cũng bắt đầu thực hiện nghi tiết tắm Phật rất long trọng để cầu an cho kinh đô và đất nước vào mồng một hàng tháng tại đây, nghi tiết này sau trở thành lệ thường . 

Chùa Một Cột trong thời Lê Sơ, thời Mạc và sau khi nhà Lê trung hưng tuy không còn vị trí như ở thời Lý - Trần, song vẫn được giữ gìn coi trọng, những lời lẽ ca ngợi sự thiêng liêng của chùa của văn thần nhà Lê và nhà Mạc chứng tỏ đây vẫn thực sự là chốn thiêng. 

Thời Lê mạt, chùa bị bỏ hoang tàn. Không bao lâu nhà Lê mất, Thăng Long mất vị trí là kinh đô.
Năm 1955, sau khi được phục dựng, chùa Một Cột được coi như biểu tượng của Hà Nội trong nhiều thập kỷ. Chỉ từ khi đổi mới đến nay ý nghĩa đó mới phai nhạt dần. Được biết, trong khi tiến hành xây dựng lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý kiến muốn phá bỏ chùa Diên Hựu - Một Cột…May sao điều đó đã không xảy ra! Tuy nhiên đáng tiếc chùa đã bị lấn át mất hẳn vị thế vốn có của nó. 

5. Ý kiến:

Qua những gì đã trình bày ở trên, theo chúng tôi, chùa Diên Hựu - Một Cột không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa quan trọng của kinh đô – thủ đô Thăng Long – Hà Nội mà còn là một biểu tượng tâm linh của ngàn năm Thăng Long. Do đó, việc trùng tu chùa Diên Hựu – Một Cột là vô cùng cấp thiết, và phải là một cuộc đại trùng tu để đưa chùa Diên Hựu – Một Cột trở lại nguyên diện mạo ban đầu của nó. Tuy nhiên cuộc đại trùng tu này không thể được tiến hành một cách vội vàng chộp giật như đã từng làm ở các di tích khác. Do trùng tu sửa chữa tùy tiện không cần đến ý kiến của các nhà chuyên môn, chỉ cốt nhắm tới cái lợi trước mắt, chúng ta đã mất đi hàng loạt các ngôi chùa quý giá quanh Hồ Tây như Trấn Quốc, Kim Liên, Tây Hồ, Tảo Sách, Trích Sài, Võng Thị …cùng rất nhiều di tích quý giá khác trên khắp đất nước từng góp phần tạo nên nét đặc thù cho bộ mặt văn hóa tinh thần của người Việt Nam.  Để chùa Diên Hựu – Một Cột trở lại đúng với tầm vóc của nó, hãy thận trọng trong đợt trùng tu này, cần tham khảo ý kiến đóng góp của những nhà chuyên môn thực thụ, sử dụng kinh phí thật thích đáng. Nếu chưa đủ điều kiện làm lớn, chúng ta chỉ nên sửa chữa nhỏ, chờ khi có khả năng thật sự hãy làm, đừng vội vã kẻo di họa cho hậu thế. 

T.K.A
Tiết Trùng Dương năm Tân Mão 2011

 *Bài viết do nhà nghiên cứu Trần Kim Anh viết và gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện -Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!



[1] Ý kiến về văn bản này chúng tôi sẽ trình bày ở một nghiên cứu khác.
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

THUYẾT TRÌNH: ĐÀN XÃ TẮC THĂNG LONG CÓ ĐÁNG ĐƯỢC BẢO TỒN KHÔNG?



Để tham khảo các ý kiến xung quanh chủ đề của buổi thuyết trình, xin mời xem các ý kiến:
 
- TS. Vũ Thế Khanh (Tổng giám đốc Liên hiệp UIA), http://vtc.vn/394-373692/phong-su-kham-pha/long-mach-quoc-gia-nam-o-dan-xa-tac.htm

- TS Trịnh Hòa Bình (Viện Xã hội học) Đàn Xã Tắc và cầu vượt đều là văn hóa - http://khampha.vn/khoa-hoc/dan-xa-tac-va-cau-vuot-deu-la-van-hoa-c7a78264.html
- ông Trần Đình Thành, chuyên gia Cục Di sản văn hóa- http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2013/04/bao-ton-nguyen-ven-dan-xa-tac-la-rat-kho-1/
 
- ông Phan Đăng Long, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội-
” Có thực tế là, các di tích khi khai quật xong mà để nằm dưới lòng đất thì còn an toàn hơn lộ thiên… Đàn Xã Tắc thì bây giờ đã được khoanh vùng, lấp lại và giữ nguyên vị trí đó, trồng cây và làm đường tránh hai bên… như Đàn Xã Tắc khu vực chính của Đàn có giá trị nhất là vị trí chúng ta đã quây lại và làm vườn hoa trên đó để bảo tồn nguyên trạng… Hiện nay thì chỉ là cách lấp đất phủ lên và giữ nguyên hiện trạng như vậy, không xây dưng gì trên đó nữa, còn vẫn phải đảm bảo giao thông, sinh hoạt… Việc làm cầu vượt chỉ trong phạm vi được phép, tránh hoàn toàn vị trí đã khoanh vùng.”
” Có hai vấn đề đặt ra là quan điểm bảo tồn và phát triển, phải kết hợp trong thực tế của nó, không phải vì bảo tồn di sản mà anh bất chấp tất cả. Như giờ toàn bộ dân ở xung quanh đó làm sao có thể di dời hết họ đi để bảo tồn di tích.
Thứ hai, trong cuộc sống, các di sản của quá khứ bị mất đi rồi cuộc sống mới chèn lập lên trên đó là tất yếu của phát triển, quy luật khách quan. Cái gì cũng bảo tồn hết thì không còn đất cho sự phát triển mới.”
http://baodatviet.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/201304/Cau-vuot-dan-Xa-Tac-phai-tranh-vung-di-tich-quoc-gia-2345027/
- ông Nguyễn Hoàng Long - Phó trưởng Ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội
- Có thể nói con đường vành đai 1 dứt khoát không thể không có. Một đô thị phát triển phải có đường vành đai. Tại Trung Quốc hiện có 6 con đường vành đai khép kín, nên giao thông của họ rất thoáng.
Vành đai 1 nằm trong phạm trù quy hoạch rất quan trọng, chính vì vậy thành phố đã giao cho Ban QLDATTĐ của thành phố tìm mọi cách để làm thông được vành đai 1, giải quyết các nút tắc cho giao thông đô thị.
Quan điểm của thành phố là bảo tồn tất cả giá trị văn hóa truyền thống. Nhưng nếu có phải hi sinh một chút gì đấy của cha ông để cho con cháu sau này, để tiếp tục phát triển cũng giống như di tích Hoàng Thành thì cũng phải làm.
Tuy nhiên, chúng ta lại có những giải pháp để bảo tồn, có hiện vật, có video, có hình ảnh, có tuyên truyền để thế hệ tương lai hiểu rõ về lịch sử, trân trọng quá khứ.
http://baodatviet.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/201304/Cuc-di-sanHa-Noi-phai-de-xuat-bao-ve-dan-Xa-Tac-2345699/

Ông Nguyễn Hoàng Long, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội nói: "Thành ủy, thành phố luôn lắng nghe tất cả ý kiến, góp ý của người dân, các chuyên gia. Nhưng các chuyên gia, các nhà khoa học nếu muốn góp ý thì tìm đến các cơ quan đại diện của thành phố như Sở VHTT&DL, Sở GTVT, bộ phận tiếp dân của thành phố... các nhà khoa học phải đề xuất thành phố phải làm gì, nên làm gì chứ thành phố không thể tìm đến các nhà khoa học!" http://www.baodatviet.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/201304/Ha-Noi-mac-dan-Xa-Tac-va-chuyen-cu-cai-khong-nghe-2345957/
- Ông Phan Đình Tân, phát ngôn bộ Văn Hóa-Thể thao và Du lịch
Tôi chưa nói đến vấn đề tâm linh. Nhưng thái độ của người ứng xử có văn hóa là không phủ nhận lịch sử, không nên và không bao giờ được phủ nhận khi chưa hiểu rõ về nó. Cần phải có thái độ trân trọng đối với những di sản văn hóa mà bao đời nay thế hệ cha ông đã để lại.
Bộ và Cục Di sản văn hoá đã có các văn bản thể hiện nội dung trong đó. Tuy nhiên trong văn bản ngày 27/12, là căn cứ để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội dẫn chiếu, theo đó lan can phải trùng với bó vỉa đảo giao thông là chỉ giới khu vực I của di tích.
Nghĩa là nó chỉ đến tới chỉ giới của khu vực I, khu vực lõi. Theo Luật di sản văn hoá, khu vực lõi (khu vực I) là khu vực không được xâm hại.
Cũng theo Luật Di sản văn hoá, khu vực II, III là khu vực có khả năng được điều chỉnh. Hơn nữa, xây cầu không vì động cơ của cá nhân ai, mà nó phục vụ lợi ích của quốc gia, lợi ích của thủ đô thì cũng cần phải cân nhắc phương án hài hòa.
 
Phải nói lại là: Bộ không cho phá Đàn Xã Tắc và không ai có quyền làm chuyện đó. Bộ rất tuân thủ Luật di sản văn hoá. Đây không phải là vấn đề mới, di tích Đàn Xã Tắc đã được nói đến cách đây mấy năm, được đặt lên bàn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thành ủy và Ủy ban TP HN để xem xét cân nhắc từ lâu.
 
Để đưa ra phương án này, phải được các Bộ, Ngành xem xét cân nhắc rất kỹ.
 
Theo phương án này, lan can cũng chỉ chạm đến các chỉ giới khu vực I, mặt vượt lên trên thì cũng nên cân nhắc chứ không thể nói Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phá đàn Xã Tắc, mà vẫn bảo vệ, bảo tồn đấy chứ.
 
Khu vực đó được tính từ khu vực lõi, nơi phát tích các hố đào đó ra trung tâm đàn Xã Tắc đó để xác định khu vực cần bảo vệ.
 
Thì phải dựa vào khu vực phát tích nhiều hố đào nhất (?!). Trong điều kiện chưa đủ khả năng để khai quật, nghiên cứu thì cũng chỉ có thể tính tương đối.
 
Cũng chưa chắc chắn khu vực phát tích nhiều hố đào đã là trung tâm của đàn Xã Tắc.
http://baodatviet.vn/van-hoa/goc-nhin-van-hoa/201304/Bo-Van-hoa-khong-cho-pha-dan-Xa-Tac-2345252/

Nguồn: FB Nguyễn Hồng Kiên.
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

CHÂN DUNG CHỢ VIỆT XƯA - khảo cứu của Trịnh Quang Dũng

Chân dung chợ Việt xưa 

Khảo cứu của Trịnh Quang Dũng 

 

Chợ vốn dĩ là nhu cầu tối thiết yếu của con người, với người Việt nam chợ lại cũng là một cái gì gần gũi hơn nữa, máu thịt hơn nữa…chả thế mà cả đến cái tên nôm na của chốn quốc đô cũng gọi là “Kẻ Chợ”. 

Tên Kẻ Chợ được nhiều người gọi trong dân gian, đặc biệt là các giáo sĩ, thương nhân phương Tây và trở nên rất phổ biến từ thế kỷ 17 khi mà Tonquin (Đông Kinh) thời bấy giờ trong những ngày “Phiên” trở thành một cái “chợ khổng lồ” [1:].Người phương Tây đầu tiên dùng từ Kecho phải dành cho giáo sĩ Bồ Đào Nha, ông Barros. Ông đã phiên âm tiếng Kecho (cacho) trong cuốn sách “Nói về Châu A-Da Asia” của mình và cho ấn hành vào năm 1550. Rất nhiều các từ phiên âm khác xuất hiện muộn hơn trong các văn bản, bản đồ của người phương Tây sau này như: kechu, cachu, cacho v.v…tất cả đều là phiên âm của từ Kecho. Kẻ có nghĩa là “vùng” vậy nên trong dân gian, địa danh kẻ Mơ, kẻ Cót, kẻ Noi v.v… vẫn còn tồn tại khá phổ biến cho tới tận nửa đầu thế kỷ 20. Bởi vậy cái tên Kẻ Chợ bao hàm ý nghĩa “vùng đất họp chợ”, “vùng rất nhiều chợ”. Chỉ riêng điều đó cũng cho ta thấy sự phát triển của mạng lưới chợ như “trăm hoa đua nở” ở mảnh đất đế đô Đông Kinh vào thế kỷ 17,18. 

Sự hình thành của thị trường thương mại ở Đông Kinh-Kẻ Chợ 

Từ thế kỷ 15, sau khi chiến thắng quân Minh, nước Đại Việt trở lại hồi sinh và nền kinh tế dần dần phát triển đạt tới mức độ sầm uất, tấp nập cực điểm vào thế kỷ 17,18. Trong hai thế kỷ này chế độ phong kiến trung ương tập quyền hình thành từ thời Lê Thánh Tôn (1460-1497) và được phát triển một cách sáng tạo đột biến dưới triều Lê-Trịnh (1592-1786) như một yếu tố cốt lõi cho sự hòa nhập của Đại Việt vào cuộc “bùng nổ đại mậu dịch” thời đó. Sau sự kiện Chúa Trịnh Sâm tiến vào Phú Xuân, kết thúc sứ mệnh bình Nam (1774), non nước Đại Việt đã thâu về một mối. Việc thống nhất tiền tệ, thông thương Nam Bắc lần đầu tiên được nhà nước chính thức xác lập sau khoảng 150 năm chia cắt. Một mạng lưới chợ đã được liện kết mở rộng cả vào khu vực phía trong tạo nên thương trường rộng lớn. Trong bối cảnh như vậy Đông Kinh - Kẻ Chợ đóng vai trò như một trung tâm đầu mối quan trọng hàng đầu của nền thương mại Đàng ngoài. Với việc khu trung tâm quyền lực chính trị, hành chính- Vương phủ Chúa Trịnh không đóng trong thành, Đông Kinh lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trở thành một đô thị -Kinh đô mở, không tường thành bao quanh, không biên giới hạn chế, thông thương kiểu các đô thị Châu Âu trung đại. Giáo sĩ A. De Rhode đã gây bất ngờ lớn khi ước định về dân số Đông Kinh: “Người ta thấy rất đông dân chúng đi đi lại lại rảo khắp phố phường đụng chạm nhau…thành thử mất rất nhiều thì giờ mà chỉ tiến đựơc chút ít. Rồi thêm vào nhiều phỏng đoán khác, theo dư luận chung thì dân cư ở kinh thành lên tới “một triệu người ”[1:16]. Con số đó hoàn toàn có thể tin được khi một người phương Tây khác, ông W. Dampier cũng ước đoán rằng “Kẻ Chợ có vào khoảng 20.000 nóc nhà…”. Đã có rất nhiều tư liệu lịch sử và ghi chép của các nhân chứng đương thời khẳng định Đông Kinh-Kẻ Chợ là một đô thị to lớn hàng đầu khu vực và có thể sánh với các đô thị lớn ở Châu Âu như Venise.Việc tăng dân số đột biến ở Đông Kinh-Kẻ Chợ không phải ngẫu nhiên. Một mặt do Chúa Trịnh luôn duy trì ở kinh sư một bộ máy quân sự khổng lồ thuộc loại hùng mạnh nhất đương thời”.

Chúa thường có 100 ngàn quân”[2:132] nên gia đình quan lại, binh lính, tầng lớp nô bộc, phục vụ họ đã nhanh chóng bổ sung dân số Đông Kinh mà ngày nay ta quen gọi với danh từ “dân số tăng cơ học”. Mặt khác tình hình làm ăn phát đạt ở Kinh đô biến khu 36 phố phường phát triển và mở rộng như một nam châm khổng lồ khiến làn sóng “di dân” lập nghiệp cuồn cuộn đổ về Thăng Long. Phố Hàng Bạc vốn chỉ có dân Châu Khê Hải Dương lên lập nghiệp đúc bạc, tiền, từ thế kỷ 16 thì nay lại có thêm thợ kim hoàn làng Thanh Trì kéo về vào đầu thế kỷ 18. Họ Nguyễn-Sơn Nam Hạ tới Làng Nam Đồng. Họ Nguyễn Thanh Hoá tới làng Phương Liệt. Hậu duệ Chúa Trịnh kéo tới Thái Kiều - thôn Trung Phụng định cư. Dân Hải Dương kéo về làm nghề da và đóng dày ở phường Hài Tượng. Dòng Nguyễn Đắc Cổ Định –Thanh Hóa tới Thăng Long, dòng Nguyễn Hữu Liêu từ Châu Ái ra Làng Tây Tựu Từ Liêm v.v… Một nguyên nhân khác góp phần thúc đẩy dân số Kẻ Chợ tăng vọt chính là số lượng đông đảo các cậu học trò kéo về đất kinh kỳ học tập “dùi mài kinh sử “làm khởi sắc,no nhiệt cả một khu Sĩ Hoạn ở phường Bích Câu suốt hai thế kỷ. Điển hình là câu chuyện hình thành ngõ Phát Lộc gần cửa ô Trừng Thanh. Chính từ cậu học trò người làng Phát Lộc lên học thi ban đầu rồi kéo cả làng theo tạo lập nên con ngõ này còn tồn tại tên cho tới ngày nay. Có thể nói suốt hai thế kỷ 17,18 Đông Kinh đã có một cuộc “bùng nổ dân số” chưa từng có trong lịch sử phong kiến Việt Nam.Ta có thể tưởng tượng với dân số cỡ một triệu, tương đương với dân số Hà Nội nửa sau thế kỷ 20 sẽ đòi hỏi một mạng lưới chợ to lớn biết nhường nào ở Đông Kinh. 

Mạng lưới chợ ở Đông kinh 

Mạng lưới chợ Thăng Long Đông Kinh- Kẻ Chợ được hình thành dần dần theo thời gian. Đặc thù nền kinh tế nơng nghiệp Đại Việt thế kỷ 17-18 đưa đẩy hình thành một cách tự nhin ba dạng chợ: Chợ kinh thành, chợ nông thôn và chợ chuyên doanh. Chưa có tư liệu lịch sử nào xác thực về sự tồn tại các chợ chuyên doanh ở thời Lý, Trần. Nhiều khả năng loại hình chợ chuyên doanh chưa xuất hiện vì trình độ sản xuất và sức sản xuất thời kỳ này khá thấp.Thêm nữa nhu cầu tiêu dùng xã hội chưa cao bởi số lượng cư dân Kẻ Chợ còn thưa thớt, vẻn vẹn vài vạn người trong một quan thành giới hạn chỉ 4Km2 [9]bao bọc bởi sơng Hồng ,sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch (dân số cả nước năm 1054: chỉ khoảng 2,2 triệu, 1407: 3,1 triệu).

Mạng lưới chợ thành thị ở Đông Kinh được tổ chức trên cơ sở các phường thị kiểu “buôn có bạn, bán có phường” theo từng ngành hàng riêng. Ta hãy nghe Cha Marini,nh truyền gio người Ý (1666) mô tả:” Ở lối cổng vào mỗi phường có một tấm bảng đề, hoặc một tấm biển ghi rõ loại hàng và chất lượng hàng đươc bán ở đó”[2:194]. S.Baron (1680 ) còn cho ta biết rõ Phường buôn bán ở Kẻ Chợ chính là đầu ra của các chợ và các làng vùng thôn quê”…Tất cả những phẩm vật khác nhau bán trong thành phố này đều được dành riêng cho từng phường và mỗi phường đó lại phụ thuộc vào một hay nhiều làng và dân chúng các làng xã này được đặc quyền mở các cửa hiệu ở đấy”[10:12]. Lúc bấy giờ đi chợ thật dễ dàng: Tơ, lụa đi vào trong phố Hàng Đào…đồ kim khí vào trong phố Hàng Đồng…Mũ nón vào phố Hàng Nón,rồi Hàng Khoá, Hàng Thuốc Nam, Thuốc Bắc, phố Hài Tượng vv … thật không thiếu thứ gì. Ngoài mạng lưới chợ theo ngành nghề ở khu 36 phố phường ta phải kể đến mạng lưới chợ nông sản, nhu yếu phẩm nằm ở các cửa thành ngoài, cửa hoàng thành, bến đò, cửa sông. Ít nhất có thể điểm danh trên 10 chợ lớn còn thu thuế vào năm Bảo Thái thứ hai 1727, chợ Cửa Đông lệ thuế đóng 318 quan 8 tiền, 100 tấm da trâu. Chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá lệ thuế là 310 quan 8 tiền 100 tấm da trâu. Chợ Vân Cử lệ thuế là 19 quan tiền 2 tiền quý, chợ Ông Nước lệ thuế là 46 quan 8 tiền vv…[6:36]. Còn rất nhiều chợ khác ở các cửa ô: chợ Yêu Thơ (ô Cầu đền), chợ Dừa (ô Chợ Dừa), chợ Cót (ô Cầu Giấy), chợ Bạch Mã (ô Đông hà), chợ Bác Cử, v.v… Chợ Dừa vốn là một bến trên sông Lừ, đầu mối giao thương quan trọng ở phía Nam kinh thành khiến cho cửa ô chợ Dừa luôn sầm uất náo nhiệt[4:95]. Chợ Cửa Đông tọa lạc ở khu trung tâm Kẻ Chợ là một chợ lớn và nhộn nhịp bậc nhất kinh sư. Nằm ở phía cửa Đông Hoàng thành nên nó còn một tên khác-chợ Đông Thành. Là chợ lớn nhất kinh thành nên nó nhóm họp thường xuyên hàng ngày song vẫn có ngày phiên vaò ngày 1 và ngày 5 vốn là dấu ấn từ xa xưa của cái thuở Lý Thái Tông lập chợ “… Cho mở chợ về cửa Đông, hàng quán san sát, chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã rất là huyên náo”[2:82]. Chợ này đầu thế kỷ 18 còn họp bên cầu Đông trên phố Hàng Đường sau mở rộng dịch chuyển về phía tây chiếm một diện tích rộng lớn gồm phía Bắc là dãy phố Hàng Mã, phía nam là phố Bát Đàn, phía Tây là nửa phố Hàng Cót, phía Đông là phố Thuốc Bắc. Sau khi Pháp chiếm Thăng Long,lấp sông Tô Lịch quy hoạch lại khu phố chợ này được chuyển ra chợ mới tức chợ Đồng Xuân hiện nay[11:341].

Các chợ xứ Tonkin đều họp theo phiên, theo chu kỳ để dân tứ xứ biết mà hội về họp chợ. Chu kỳ phiên chợ này được ghi nhận trong nhiều từ chính sử, tư liệu cá nhân, cho tới các ký sự của giáo sĩ phương Tây và du khách tới Đại Việt. Cha Marini (người Ý), giáo sĩ A. Rhodes (Pháp) có mặt ở nước ta ngay từ những năm đầu thế kỷ 17 cho biết “… Chợ ở Kẻ Chợ mỗi tháng có hai phiên vào hai ngày rằm và mồng một”. Tuy nhiên sau hơn 100 năm vào cuối thê kỷ 18, danh sĩ Phạm Đình Hổ tả rõ 8 phiên trong tháng “… phiên chợ là các phiên ngày 1, 6, 11, 14, 15, 21, 26, 30 “[5:83]. Thế kỷ 19, khi không còn giữ vị trí đế đô của quốc gia Kẻ Chợ bước vào thời kỳ suy thoái và ngay lập tức tần suất các ngày phiên chợ đã “giảm nhiệt” đáng kể chỉ còn 5-6 phiên mỗi tháng[2:38].

Cảnh phố xá ngày phiên chợ ở thế kỷ 17,18 thật sầm uất khiến chúng ta ngày nay cũng không khỏi ngỡ ngàng: “…Rất nhiều phố tuy đã rộng rãi, nhưng lúc đó cũng trở thành chật ních, mà người ta hy vọng là nếu có thể tiến lách qua những đám đông khoảng chừng 100 bước trong nửa giờ, thì cũng đã sung sướng lắm rồi”[10:12]. Chợ thường họp từ 6 giờ sáng đến 2 giờ chiều, có chợ kéo dài đến 5 giờ chiều. Thời gian họp chợ chốn kinh thành dài hơn chợ nông thôn, thường từ sáng sớm 5 giờ sáng cho tới 16 -17 giờ. Song ở Kẻ Chợ còn có các loại chợ họp theo những giờ đặc biệt, đó là chợ Hôm chuyên họp lúc chiều tối ở Nam Phố (phố Hàng Bè), lại có những chợ chỉ họp lúc tinh mơ như chợ Mơ vùng Hoàng Mai. Có một chợ Hôm khác ở làng Giáo phường, tổng Tả Nghiêm huyện Thọ Xương (phố Huế ) vốn là một chợ nhỏ cũng chỉ họp lúc chiều hôm. Sang đầu thế kỷ 20, chợ này lớn dần chỉ thua chợ Đông xuân và họp suốt ngày từ sáng sớm, bởi vậy mới có câu ca dao:

Chợ Đuổi họp lúc chiều tà 
Chợ Hôm họp sáng…chợ Hàng Da họp ngày!

Sau 6 giờ chiều, các ông “khán chợ”(bảo vệ) ở chợ này đóng cổng đuổi hết mọi người khỏi chợ. Vì kế sinh nhai, dân chúng bèn kéo nhau về bãi cỏ làng Thể Giao họp chợ tiếp… Và dần dần hình thành nên chợ Đuổi còn lưu tên phố cho tới ngày nay.

Các mặt hàng ở chợ là rất đa dạng đủ các loại từ thực phẩm thịt, cá, rau xanh, trái cây cho đến các đồ gia dụng thông thường nồi niêu, dao, xoong chảo …Thật thú vị khi đồ trang sức tôn vinh cái đẹp được cho biết là rất hấp dẫn thị trường. Hàng hoá ở chợ Việt Nam từ thế kỷ 17 đã được bổ sung nhiều mặt hàng của phương Tây như gương lược, kim và các đồ dùng phụ nữ khác mang lại món lời lớn. Giáo sĩ Bori (khoảng 1618) cho biết: một hộp kim giá không quá 30 duy-ca (tiền xưa của Venize) mà lãi hơn 1000”[3:107].Các lái phương Tây giới thiệu, nhắn nhau mang những thứ như hoa tai, nhẫn, xuyến đang là các mặt hàng ăn khách đến xứ Đại Việt. Vào thế kỷ 18 các loại nồi gốm truyền thống đã bị cạnh tranh dữ dội bởi nồi niêu xoong chảo bằng gang bằng đồng của phương Tây. Thuốc bắc, thuốc nam và cả thuốc tây cũng đã có mặt từ cuối thế kỷ 17 ở các chợ Đông Kinh (Lê triều cựu điển). Chính Tuyên phi Đặng Thị Huệ của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đã từng uống thuốc dưỡng thai của Tây y. Trầu cau là một mặt hàng cực kỳ thiết yếu của dân chúng Đại Việt đương thời. Nó có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm của Kẻ Chợ. Ta hãy nghe A.de Rhodes kể: “Họ có tục đem theo một túi con hay một bị con đầy, đeo ở thắt lưng…Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau rồi mỗi người lấy ở trong túi của bạn một miếng trầu để ăn…theo đúng phép xã giao…Người ta nói có tới 50 000 người bán lẻ và bán ở nhiều địa điểm trong thành phố”. 

Từ chợ nông thôn, chợ thành thị …đến chợ chuyên doanh 

Do nhu cầu xã hội tăng vọt và là trung tâm thương mại toàn Đại Việt nên các chợ đầu mối chuyên doanh đã sớm tụ họp vào thế kỷ 17 ở những nơi thuận tiện nhất. Cửa sông Tô Lịch, nơi giao tiếp với sông Hồng xuất hiện chợ chuyên doanh gạo thuộc làng Giang Nguyên (làng Nguồn Sông). Toạ lạc nơi cửa sông chợ Gạo rất thuận tiện cho các tàu thuyền lớn thu mua gạo từ các trấn khác chở về Đông Kinh xuống hàng rồi từ đây phân phối đi khắp các chợ trong vương quốc và chứng tích mong manh là cái tên phố Chợ Gạo còn mãi đến ngày nay. Thậm chí nhiều ghi chép còn lại cho thấy thương lái phương tây đã từng tham gia một cách tích cực vào nghề kinh doanh béo bở này. “…Ngày 12-6-1682 tàu Croonvogel- Hà Lan, tải cùng với hàng khác đến Đàng Ngoài 40 kiện gạo …Tháng 5-1688 tàu Gaasperdam tải đến Đàng Ngoài hơn 80 kiện gạo… được chúa Trịnh Căn để cho buôn bán được dễ dàng…..Tháng 7-1689 tàu đó lại chở đến 80 kiện gạo nữa [3:109]. Có thể đoán định rằng số lượng gạo lớn như vậy phải được phân phối chủ yếu bằng đường thuỷ qua chợ đầu mối là Chợ Gạo Giang Nguyên.

Chợ Cá ở phố Hàng Cá ở sát ngay bên sông Tô Lịch thuộc thôn Đồng Thuận tổng Hậu Túc huyện Thọ Xương. Nơi đây từng có trại “tiên ngư” (cá tươi) vốn là nơi chuyên doanh về cá của kinh thành. Hồ Tây “kho thuỷ sản” tươi sống vô tận cho chợ Cá còn nổi tiếng cho tới ngày nay bởi loại cá Chép và tôm Bạc thơm ngon . A. Rhodes từng nhận xét: “cá ở đây có bán rất nhiều và rẻ mạt, những con ngon nhất và to nhất cân nặng từ 10-12 cân anh [1:90]. Sách Thượng kinh phong vật chí cho biết: “To mà béo là cá Hồ Tây kém gì cá Lư sông Tùng, cá ngon ở hàng bính, cá chép ở sông Hà, cá mè sông Lạc”[2:90]

Chè là một mặt hàng chuyên doanh khác ở khu vực thôn Hương Mính (Chè thơm) ở phía đông bắc Hồ Hoàn Kiếm. Làng này vốn tên nôm là hàng Chè, từ năm Minh Mạng thứ 11 mới bị đổi thành tên Hán- làng Hương minh chạy từ khoảng phố Cầu Gỗ tới khu đền Bà Kiệu ngày nay. Đây là mặt hàng cao cấp của giới thượng lưu, nho sĩ, các gia đình danh gia vọng tộc chốn kinh kỳ. Thế kỷ 17-18 loại chè Mạn Hảo - đặc sản vùng trung du tây bắc Đại Việt (vùng đất này đã được nhập vào bản đồ Vân Nam theo thoả thuận Pháp Thanh cuối thế kỷ 19). Đó cũng chính là nguồn gốc danh từ “chè Mạn” còn tồn tại tới nhữmg năm cuối thế kỷ 20. Các nhà quyền quý thời này uốngtrà rất công phu, họ còn đặt hàng trước các loại chè hiệu “Chính sơn” để phô trương sự sành điệu trà nghệ của mình.

Thời phong kiến, tầng lớp nho sĩ, học trò đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội đó chính là “nguyên khí” của quốc gia. Đối với ho, giấy là mặt hàng thiết dụng tưởng còn cần hơn cả “cơm ăn nước uống”. Câu chuyện Hà Tông Huân, một danh sĩ nhà Trịnh (đỗ Bảng nhãn năm 1724) từng thưởng cho cậu học trò Phan Kính 30.000 tờ giấy viết, đến nỗi không có chỗ để ở nhà trọ phải xin thầy cho gánh dần về dùng đủ thấy lượng giấy tiêu thụ trong xã hội lớn biết nhường nào. Những nhu cầu ấy đã tạo nên cả một chợ chuyên doanh giấy bên bờ sông Tô duyên dáng vùng Dịch Vọng. Chiếc cầu “Thượng gia hạ kiều” nằm kề gần chợ thuộc địa phận làng làm giấy Thượng Yên Quyết cũng được dân chúng đặt tên là “Cầu Giấy”.

Khu phố thương mại Đông Kinh còn có một chợ chuyên doanh mặt hàng đặc biệt nữa-Chợ Yếm Lụa. Trong dân gian từng truyền tụng câu ca dao cổ:

Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi

Hình ảnh văn chương về dải yếm đào đã phần nào nói lên vai trò quan trọng của nó trong đời sống phụ nữ Việt xưa. Yếm vốn không chỉ là một bộ phận trang phục để che đôi “Bầu mơ” mà còn như một món thời trang, trang điểm tôn vinh vẻ đẹp của phái “liễu yếu đào tơ”. Thường yếm để mộc hoặc chuội trắng.Với những cô gái trẻ thích nhuộm màu hoa đào làm đỏm, các phu nhân, mệnh phụ lại dùng màu điều đỏ thắm để tỏ cái vẻ đoan trang chững chạc với đời. Đông Kinh- Kẻ Chợ đã từng có hẳn một chợ chuyên doanh y phục phụ nữ: chợ Yếm Lụa nằm ở phường Đồng Lạc (đoạn đầu phố Hàng Đào). Gần đây người ta đã tìm thấy tấm bia gắn trên tường số nhà 38 Hàng Đào nguyên là đình Đồng Lạc. Nội dung bia khẳng định đây chính là ngôi đình “… Quyến yếm lụa thị (chợ yếm lụa) có từ xa xưa là đình của phường buôn bán yếm và y phục phụ nữ, năm nay hư hỏng nặng được trùng tu”(Bia do cử nhân Phạm Đình Viên soạn năm 1856). Phường Đồng Lạc còn có Chợ Tơ cạnh Hàng Đào chỉ chuyên bán buôn tơ lụa không bán lẻ, họp phiên vào ngày 1 và ngày 6 hàng tháng[11:106]. Thế kỷ 17,18 là thời kỳ “lên hương” của sản phẩm tơ Đại Việt. Chất lương tốt, giá thành rẻ đã đưa tơ xứ Đông Kinh trở thành một trong hai mặt hàng xuất khẩu chính theo các thương thuyền Hà lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây ban Nha, Nhật ngựơc xuôi trên hải trình giao thương quốc tế đương thời. Lụa Vạn Phúc là mặt hàng chủ đạo được bán buôn ở chợ Cầu Đơ (Hà Đông) và là đầu mối cung ứng hàng hoá quan trọng cho phố Hàng Lam, Hàng Đào trong kinh thành.

Các chợ chuyên doanh còn xuất hiện theo làng nghề ở các vùng quanh kinh đô. Đó là làng Đa Ngưu chuyên buôn thuốc Bắc ở Hưng Yên từ mấy trăm năm nay. Từ thế kỷ 17, Thổ Hà đã có một nơi chuyên bán đồ gốm ở chợ Tam Bảo.Tấm bia đá khắc năm Chính hoà 14 ghi rõ: “Chợ Tam bảo xã ta mỗi tháng 12 phiên cang sành giao dịch” (KTTCN Triều Nguyễn trang 95).

Chợ chuyên mua bán trâu bò năm ngày họp một phiên ở phía nam Kinh thành. Đi kèm với chợ này là nghề mổ thịt cổ truyền đem bán tại các chợ nhỏ được ghi tạc trong tấm bia dựng năm 1669: “phá xương trâu bò thì dùng búa rìu, cắt thớ thịt thì dùng dao nhọn…”. Lò mổ ở phường Hồng Mai, vùng này còn được triều đình giành cho đặc quyền giết thui trâu bò cung ứng trong các dịp lễ tết [7:54]. Một số chợ chuyên doanh khác được ghi nhận như Chợ gà vịt ở thôn Tân Lập-Tân Khai (gần phố cửa Đông), Chợ thịt chó và chó thịt ở gần thành (phố Hàng Bồ). Thương gia Dampier người Anh (1688) còn cung cấp những thông tin lý thú khác: “……người ta thấy bán ở chợ những loại hàng như lợn, khá nhiều lợn sữa(lợn giống), trứng gà vịt đủ loại to nhỏ tươi và ướp, bã mắm và nước mắm. Ở Kẻ Chợ ta còn thấy bán cả thịt chó, thịt mèo mà người ta còn nói đến cả châu chấu nữa” [8:27].

Khác với chợ ở thành thị, chợ vùng nông thôn, vùng ven kinh đô họp theo phiên nhiều ít tuỳ tình hình kinh tế từng vùng. Đặc điểm của chợ nông thôn là loại chợ tự sản tự tiêu kiểu “cây nhà lá vườn” chợ nông thôn không có hàng quán cố định, không có người thường trực. Chợ thường họp ở bãi đất rộng, đường cái, bến đò ngang. Thực sự chợ nông thôn chủ yếu là nơi đổi chác sản phẩm tự sản của cư dân địa phương phục vụ nhu cầu sinh hoạt hơn là tính thương mại thu lợi nhuận chuyên nghiệp. Người có ổ trứng gà, quầy chuối, ổ chó vv… mang bán đổi lấy miếng thịt lợn, miếng đường phên, manh quần tấm áo tạo dựng từ một hình thức thương mại sơ cấp.

Tuy nhiên dù là chợ nông thôn hay thành thị thì chủ yếu vẫn là phụ nữ tham gia. Du khách Trung quốc Phan Đỉnh Khuê có mặt ở Đông Kinh năm 1688 đã cho biết “việc buôn bán ở Kẻ Chợ bao giờ cũng do phụ nữ đảm nhiệm”. Thậm chí Domoutier còn đếm rõ”… cứ trong 100 người đi chợ, người ta đếm được 84 người là đàn bà con gái”. Chuỗi dãy tư liệu trong các tập nhật ký của Kofler, Gion Oet đều khẳng định vai trò chủ đạo của họ, cả ở việc mối lái chạy hàng với thương gia nước ngoài và một số không ít trong họ đã trở thành vợ của thương gia nước ngoài đảm đương việc gom hàng, đặt hàng khi chồng đi vắng.

Một điều hết sức thú vị là gi cả hàng hoá ở các chợ xưa rất ổn định. Trong sách “Tình hình công thương nghiệp Việt nam thời Lê mạt” của Vương Hoàng Tuyên nêu rõ: “năm1741 giá một con bò là 5 quan tiền… 61 năm sau năm1802 giá một con bò cày cũng đựoc định là 5 quan tiền…

Năm1663, 100 thùng thóc giá 3 quan tiền…Đến năm 1741, 1 quan tiền 50 bát thóc tính ra thùng thì chừng hơn 3 quan 100 thùng thóc, giá thóc đã gần như ổn định suốt gần một thế kỷ với biết bao sự biến thiên, vật đổi sao dời.. Hai thí dụ trên cho ta thấy trong suốt hàng trăm năm các mặt hàng thiết yếu của xã hội gần như không có biến động.

Ngày nay ai cũng phiền lòng về các chợ tự phát và chợ “chồm hổm” lấn áp phố phường, cản trở giao thông…song ít ai biết rằng đó là một tập quán xa xưa của người Việt. Hình ảnh này từ các thế kỷ trước đã được cc gio sĩ phương ty ghi nhận “…người thương nhân ngồi ngay xuống đất bày hàng hoá ra trước mặt họ…tất cả ngồi thành hàng quanh khu đất trống…ở giữa để chừa ra một lối đi cho người cưỡi ngựa hoặc xe bò”, “…việc thành lập một cái chợ không tốn kém gì cả mà chỉ cần đến thời tiết tốt. Người nông dân ngồi ngay xuống đất, trên đường phố, hàng hoá để trong một vuông vải hay trong một cái làn…” [2:86].

Vãn chợ Đông Kinh Kẻ Chợ xưa cho ta thấy lại cái không khí sầm uất náo nhiệt một thời của trung tâm thương mại Đông Kinh - Kẻ Chợ thủa cực thịnh. Sẽ thật có ích, nếu chúng ta có thể tìm lại dấu ấn đời sống thương mại của dân chúng Kẻ Chợ xưa góp phần dần tái hiện lại chân dung về một đô thị Thăng long – Đông Kinh trung đại đầy ký ức vàng son, một phần gương mặt của văn hóa Việt Nam.


T.Q.Dũng 11/2008



Tài liệu tham khảo:

[1] Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài. Alexandre De Rhodes. UBĐK Cơng gio 1994.

[2] Thăng Long H Nội TK 17, 18, 19. Nguyễn Thừa Hỷ. Hội Sử học Việt Nam 1993.

[3] Thương mại Việt Nam TK 17, 18, 19. Thành Thế Vĩ. Nxb. Sử học 1961.

[4] Hà Nội nửa đầu TK XX. Tập 3. Nguyễn Văn Uẩn. Nxb. Hà Nội, 1995.

[5] Vũ trung tuỳ bút. Phạm Đình Hổ. NXB Trẻ. 1989

[6] Một số văn bản pháp luật VN TK 15-18. Viện Nhà nước và Pháp luật. NXB. KHXH 1994.

[7] Lịch triều hiến chương loại chí. Phan Huy Chú. NXB Hà Nội 1961.

[8] Voyages and Discoveries 1688. Wiliam Dampier, London 1931.

[9] Văn hóa Việt Nam qua các bưu ảnh cổ. Hội Mỹ thuật VN. NXB Mỹ thuật 2001.

[10]Description du royaume de Tonquin. S.Baron (1680). RI 1914-1915.

[11] Trăm năm chuyện Thăng Long-Hà Nội. Siêu Hải. NXB Thanh niên 2000.


*Bài viết do tác giả Trịnh Quang Dũng gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

PHÁT HIỆN DẤU TÍCH ĐIỆN KÍNH THIÊN THỜI LÊ SƠ?

Phát hiện dấu tích điện Kính Thiên thời Lê Sơ

TT - Kết quả khai quật khảo cổ học suốt tháng 10 và 11 tại điện Kính Thiên (thuộc Hoàng thành Thăng Long ở số 9 Hoàng Diệu, Hà Nội) vừa được Viện Khảo cổ học và Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội công bố sáng 6-12.

Các nhà khoa học khảo sát một hố khai quật tại thềm rồng điện Kính Thiên - Ảnh: Hà Hương
Chỉ với năm hố khai quật với tổng diện tích 100m2, các nhà khảo cổ học đã khẳng định được niên đại của thềm rồng trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Kết quả cho thấy nhiều dấu tích của điện Kính Thiên thời Lê Sơ không còn nguyên vẹn nữa (do được sửa chữa thời Lê Trung Hưng, thời Nguyễn).

Nói theo PGS.TS Tống Trung Tín (viện trưởng Viện Khảo cổ học), “lần đầu tiên chạm đến chỗ thiêng liêng nhất của kinh thành Thăng Long” nên tất cả đều rất cẩn trọng. Sau hai tháng khai quật tại năm điểm, các nhà khoa học cũng chỉ mới đào sâu xuống 1m so với mặt đất và chưa tiếp cận được lớp sinh thổ. 

Tuy diện tích nhỏ nhưng lần khai quật này được đánh giá có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu dấu tích kiến trúc và quy mô của Hoàng thành Thăng Long xưa.

Tầng văn hóa thời Lê Sơ thể hiện rõ nét ở dấu tích của đan trì (sân rồng dành cho vua quan nhà Lê) xây dựng bằng gạch vồ có niên đại kéo dài từ thời Lê Sơ đến thời Lê Trung Hưng chìm xuống 1m so với bề mặt. Loại sân nền này có quy mô rộng toàn bộ khu vực từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên. Đặc biệt quan trọng là phía dưới nền điện Kính Thiên có xuất hiện ba dấu tích móng đầm kiến trúc dài 4,2m. 

Các nhà khoa học cho rằng đấy có thể là dấu tích điện Kính Thiên thời Lê Sơ. Dấu tích thời Nguyễn với các nền gạch, móng tường, móng đầm được phát hiện ở độ sâu 60cm so với bề mặt hiện tại. Đặc biệt, đối chiếu với những bức ảnh chụp của Pháp và kết quả khảo cổ, các nhà khoa học đi đến khẳng định: dù điện Kính Thiên có niên đại từ thời Lê Sơ nhưng quy mô nền điện hiện nay lại thuộc về thời Nguyễn.

Theo đánh giá của GS Phan Huy Lê, kết quả đào thám sát các hố khai quật đã làm rõ diễn tiến của khu vực khai quật từ thế kỷ 15 cho đến nay, đặc biệt là thời kỳ Lê Sơ. Còn GS Lưu Trần Tiêu (chủ tịch Hội Di sản văn hóa VN) khẳng định kết quả khai quật cũng cho thấy bên trong khu vực Hoàng thành Thăng Long còn rất nhiều nghi vấn cần phải làm sáng tỏ để trả lại diện mạo nguyên vẹn cho một giai đoạn lịch sử dài.

Trên cơ sở báo cáo của đoàn khai quật cũng như tìm hiểu thực địa, TS Nguyễn Hồng Kiên (Viện Khảo cổ học) cho rằng khi đào sâu xuống phát hiện thêm một bậc thềm. Như vậy là có 10 bậc chứ không phải 9, và 10 không phải là con số dành cho nhà vua. Số bậc đá này cũng không tương ứng với số đếm của các trục 9, 11. Giải quyết vấn đề này, có lẽ chúng ta nên nhấc các bậc đá lên để xác định các dấu vết bậc đá còn sót lại của điện Kính Thiên thời Lê Sơ.

Với những kết quả được tìm thấy tại khu trung tâm của Hoàng thành Thăng Long, GS Phan Huy Lê và một số nhà khoa học đề nghị nên giữ lại một hố khai quật thể hiện rõ nhất diễn tiến văn hóa từ thời Lê Sơ. “Chúng ta phải giải quyết khó khăn lớn nhất là gia cố thế nào để tránh ngập nước. Nhưng nếu lấp tất cả đi sẽ rất đáng tiếc” - GS Lê nói. 

Cùng quan điểm, nhiều nhà khoa học cho rằng nếu cứ đào lên rồi lấp đi thì rất lãng phí. Bởi vì nếu khu 18 Hoàng Diệu cho khách tham quan hiểu rõ diễn tiến từ thời Đại La đến thời Trần thì khu vực điện Kính Thiên (số 9 Hoàng Diệu) lại thể hiện rất rõ thời kỳ từ Lê Sơ đến hiện tại.

Tuy nhiên, về phía cơ quan quản lý, ông Nguyễn Thế Hùng (cục trưởng Cục Di sản văn hóa) cho rằng nên “tạm thời lấp đi đến khi có hiểu biết rộng hơn và khai quật đủ thì khi đó mới lên kế hoạch bảo tồn tổng thể”.
HÀ HƯƠNG
Nguồn: Tuổi Trẻ.

Đọc thêm: 
Phát hiện nhỏ, Ý nghĩa to

Nhiều báo hôm nay đã có bài về các khai quật khảo cổ học trong Hoàng thành Thăng Long:
- Tuổi trẻ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/468217/Phat-hien-dau-tich-dien-Kinh-Thien-thoi-Le-So.html,
- Thanh Niên http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111207/dau-tich-dien-kinh-thien-thoi-le-so.aspx ...
- TT&VH http://www.thethaovanhoa.vn/133N20111207075906406T0/buoc-dau-giai-ma-kien-truc-dien-kinh-thien.htm
- ...

Mới MOI xuống khoảng 50cm đã TÒI ra thêm 1 bậc đá của thềm bậc đi lên nền cao của cái lâu nay cứ "chúng khẩu đồng từ" gọi là điện Kính Thiên, đã làm xuất lộ
THÊM 01 bậc đá.

Thế mới căng!
Xưa nay, không ít người cứ ÁP ĐẶT chuyện TÀU, (gần đây là ÁP thước Lỗ Ban) vào kiến trúc Việt.
Theo đó: quan niệm về TRỰC "Sinh-Lão-Bệnh-Tử" được đem ra để ĐẾM số Hoành mái (các thân gỗ nằm ngang đỡ mái nhà). Nhà cháu đã nhiều lần phản đối chuyện KHIÊN CƯỠNG đó.
Nếu đếm số HOành không đúng 'trực Sinh', các nhà ngâm cứu kia sẽ cộng thêm cả Xà Nóc (tức Thượng lương hay Đòn Đông/Dông) và cả Tàu đao ở rìa mái CHO ĐỦ.

Chuyện số bậc thềm lên các nền cao cũng tương tự. Đến không đủ để thành số lẻ, người ta lại LÝ LUẬN là theo SỐ LẦN NHẤC CHÂN.
Trước nay, số bậc lên thềm "cái gọi là nền điện Kính Thiên" này (dù thực tế là 10) VƯỠN ĐƯỢC ĐẾM LÀ 9 BẬC, để đúng là lối lên điện của vua, lại vừa đúng "trực Sinh'.

Cái bọn khảo cổ RÁCH VIỆC lại moi ra thêm 01 bậc nữa là 12 bậc.
Chết mịa chưa, nếu đếm ĐỦ thì rơi ĐÚNG 'Trực' TỬ.
Có ĂN GIAN là 11 thì cũng rơi vào 'trực BỆNH'

Lấp ngay, lấp ngay !

BONUS: Năm 1886, thực dân Pháp đã xây một toà nhà 2 tầng trên chính nền cao của điện Long Thiên để làm Bộ Chỉ huy Pháo binh.
http://baodientu.chinhphu.vn/Uploaded_VGP/nguyenvanhuan/20100711/DienKInhThien3.jpg

Nguồn: FB Nguyễn Hồng Kiên.

-->đọc tiếp...