-->đọc tiếp...
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Kim Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Kim Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013
Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013
MỘT KIẾN GIẢI VỀ NGUỒN GỐC NGÔI ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM
Một kiến giải về nguồn gốc ngôi đình làng Việt Nam
Trần Thị Kim Anh
Vấn đề nguồn gốc và thời điểm xuất hiện ngôi đình làng từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa để tâm tìm hiểu. Mở đầu là nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên, trong một công trình nghiên cứu công phu về thành hoàng Lý Phục Man vào năm 1938, ông đưa ra giả thuyết: Đình vốn là hành cung của vua rồi sau mới thành đình làng.
Vào năm 1998, trong tập sách ảnh Đình Việt Nam của Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự, ở mục Nguồn gốc, các tác giả cho rằng “có chứng cứ về ngôi đình từ thời Lê Sơ”, và qua một số chứng lý cùng việc so sánh ngôi đình với ngôi nhà rông, họ đi đến kết luận: “Mặc dù còn thiếu chứng cứ, ta tin rằng Đình – ngôi nhà chung của làng xã đã xuất hiện từ lâu đời, nếu không phải là thời tiền sử thì cũng là thời sơ sử của dân tộc. Tất nhiên là ở thời đó chưa được gọi là Đình - một từ vay mượn của Trung Hoa”. Ngoài ra các tác giả còn khẳng định, đình làng có hai chức năng: thờ thành hoàng làng (tôn giáo) và hội họp, giải quyết các công việc của làng xã (hành chính), tuy nhiên không phải ngay khi mới xuất hiện ngôi đình đã hội đủ cả hai chức năng đó cùng một lúc.
Gần đây nhất là nghiên cứu của Đinh Khắc Thuân (ĐKT). Trong sách Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia (2001) , ở mục Nguồn gốc ngôi đình, qua phân tích một số chứng lý, ông đi đến kết luận: Đình làng xuất hiện sớm nhất là vào thời Lê sơ thế kỷ XV, khi làng xã đã phát triển và định hình là một đơn vị hành chính độc lập, để đáp ứng nhu cầu thờ cúng thần linh và hội hè đình đám của làng xã.
Cho đến nay, cách lý giải của ĐKT được coi là có tính thuyết phục hơn cả. Tuy nhiên, trong khi thời điểm ra đời của ngôi đình làng là vào thời Lê sơ nhận được sự đồng thuận ý kiến của hầu hết giới nghiên cứu thì vấn đề nguồn gốc ngôi đình làng vẫn còn nhiều ý kiến băn khoăn. Để góp phần tiếp tục tìm hiểu nguồn gốc của ngôi đình làng, trong bài viết này chúng tôi xin được đưa thêm một kiến giải khác.
Ngôi đình làng như chúng ta đã biết, là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của làng xã trong thời trung cận đại. Đây là nơi thờ Thành hoàng làng để cầu mong được chở che, ngăn tai giáng phúc, là nơi diễn ra lễ hội Nhập tịch Tàng câu của làng, nơi kỳ lão chức sắc hội họp bàn bạc và giải quyết việc làng, nơi tất cả đinh nam trong làng cùng thực hiện lễ Hương ẩm tửu mỗi khi có việc tế tự cầu cúng. Nơi tiếp đón quan lại triều đình khi có việc công hoặc khách khứa của làng… Điều này cho thấy ngôi đình làng là một địa điểm công cộng quan trọng không thể thiếu của cộng đồng làng xã xưa kia. Tuy nhiên nó lại đặt ra một câu hỏi: nếu đình làng chỉ mới xuất hiện vào cuối thế kỷ XV thì trước đó trong các ngôi làng Việt, đã có những hoạt động như vậy hay chưa, và nếu có thì người ta thực hiện tất các công việc đó ở đâu?
Địa điểm và một số hoạt động cộng đồng làng xã trước khi ngôi đình xuất hiện.
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu chứng minh trước khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, các tín ngưỡng dân gian ngự trị trong đời sống tinh thần người Việt. Cũng như nhiều dân tộc bộ lạc khác trên thế giới, để chấn an mình trước những hiện tượng tự nhiên không thể lý giải, để được che chở, để có cuộc sống bình yên, người Việt cổ từ lâu đời đã thờ cúng các vị Nhiên thần như các thần núi sông, cây đá, đặc biệt, do là vùng đất nhiều sông nước, người dân sống bám dọc theo các triền sông nên thủy thần là vị thần được thờ phụng khắp nơi . Việc thờ cúng ban đầu diễn ra ngoài trời, ngay tại gốc cây, bờ nước, về sau khuynh hướng nhân hóa thần linh phát triển, người chết có những biểu hiện thiêng bắt đầu được thờ cúng, nhiều vị đã trở thành phúc thần bảo hộ cho cộng đồng, người ta đã dựng lên những ngôi miếu ngôi đền nhỏ để thờ. Dần dần những nơi này trở thành địa điểm sinh hoạt cộng đồng, không chỉ cầu cúng xin được chở che, đừng gây tai giáng họa mà các hoạt động khác trong cộng đồng như xử lý các vi phạm luật lệ của cộng đồng, ăn thề, xử các vụ tranh chấp nhỏ … cũng diễn ra tại đây trước sự chứng kiến của thần linh và dân làng.
Sau khi Phật giáo du nhập và phát triển, các ngôi chùa cũng là nơi diễn ra một số hoạt động cộng đồng. Kể cả thời kỳ đầu, khi ngôi chùa làng chưa phổ biến như từ thời Trung hưng về sau, thì tại những địa phương có chùa, sân chùa cũng là một địa điểm dành cho hoạt động cộng đồng, nhưng chủ yếu là lễ hội vui chơi hát xướng vào các dịp lễ tiết. Cho đến nay ở những ngôi chùa cổ vùng Kinh Bắc vẫn còn dấu vết về các hoạt động này như chùa Dâu, chùa Nành...
Vào đầu công nguyên, khi bị nhà Hán xâm lược, văn hóa Hán dần xâm nhập vào nước ta, tín ngưỡng thờ Xã thần du nhập theo chân các cư dân Hán. Các đàn thờ xã thần (xã đàn) được lập lên tại các làng xóm. Xã ban đầu chỉ là một cái nền đất đắp cao, xung quanh trồng một số loài cây làm biểu tượng cho sự no đủ . Hàng năm vào các tháng trọng xuân và trọng thu, người ta tổ chức cúng tế tại đây để báo đáp công sinh dưỡng vạn vật của đất đai. Về sau tín ngưỡng xã thần diễn biến dần, chuyển hóa thành tín ngưỡng thờ thần đất (thần thổ địa) – vị thần có quyền lực chở che coi sóc cho một địa phương, mang nhiều chức năng xã hội hơn. Dần dần miếu thờ Thổ địa được dựng lên thay thế Xã đàn. Cùng với những miếu thờ thần linh bản địa khác, miếu Thổ địa trở thành một trong những địa điểm sinh hoạt cộng đồng của làng. Vào các dịp lễ tết, dân chúng tụ tập đến trước những đền miếu này làm lễ tế thần, ca hát vui chơi. Bài từ của Tôn Quang Hiến người thời Đường với những câu: “Mộc miên hoa ánh tùng từ tiểu / Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu / Đồng cổ dữ Man ca / Nam nhân kỳ trại đa“ [Hoa gạo ánh lên bên ngôi đền nhỏ/ Chim Việt líu lo trong nắng xuân / Tiếng trống đồng hòa cùng bài hát Man / Người Nam cầu cúng nhiều] có thể là minh chứng cho các hoạt động cộng đồng và địa điểm diễn ra các hoạt động này của người Việt thời xa xưa.
Cùng với tín ngưỡng thờ thổ địa, vào thời Bắc thuộc, một số nghi lễ phương Bắc cũng được du nhập vào nước ta . Như đã nói trên, đình làng sau này là nơi diễn ra lễ Nhập tịch Tàng câu – một lễ hội thường niên quan trọng của hầu hết các làng xã Bắc bộ và Bắc trung bộ cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên trước thế kỷ XV hầu như chưa tìm được tài liệu nào ghi nhận về lễ này ngoài một chiếu chỉ ban lệnh bãi trò chơi Tàng câu và cỗ bàn khao mừng vào mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Dậu niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 8 (1117 - thời Lý) . Nội dung chiếu chỉ này cho thấy lễ Nhập tịch Tàng câu đương thời được tổ chức như một trò chơi và cùng với nó là cỗ bàn khao mừng đầu xuân.
Lễ Nhập tịch Tàng câu theo chúng tôi, nguyên là nghi thức triều đình vua tôi cùng vui uống rượu đầu xuân có từ thời Hán, về sau du nhập vào nước ta và dần được chuyển hóa vào nghi thức hội làng cùng uống rượu. Tuy nhiên, Sách khảo giáo phường thức lại giải thích về lễ này đại để như sau: Đời đời truyền kể rằng, khi Pháp môn tề tập hội họp tụng kinh Phật, bị rất nhiều quỷ thần quấy rối, không thể lập đàn tụng kinh được, do đó mới xin đức Phật lập Địa tạng đàn, nhập tịch tàng câu, cùng quỷ thần vui chơi mới tụng kinh được. Từ đó về sau tự cổ chí kim, dùng lễ này để cầu phúc cầu thần cho được dài quốc mạch, xin thần bảo hộ làng xóm đất nước nhân dân … Như vậy phải chăng lễ hội này còn có thể có nguồn gốc từ Phật giáo? (Đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu sâu sắc đầy đủ về các diễn biến của lễ hội này). Theo đó có thể thấy lễ này đã tồn tại trước khi có sự xuất hiện của ngôi đình làng, và hẳn là khi chưa có ngôi đình, nó đã được thực hiện tại sân miếu hoặc sân chùa.
Đầu thế kỷ XV, tục thờ Thành hoàng làng cũng bắt đầu phát triển. Trên thực tế, tín ngưỡng Thành hoàng đã được truyền đến nước ta vào thời Đường - Tống, tuy nhiên cho đến thế kỷ XIV, vẫn chỉ có Đô thành hoàng, chưa có Thành hoàng làng. Để tín ngưỡng Thành hoàng trở thành tục thờ Thành hoàng làng đậm màu sắc Việt thì phải tính từ thế kỷ XV sau khi nhà Minh chiếm được nước ta. Với mưu đồ nhanh chóng đồng hóa Đại Việt, nhà Minh đưa vào nhiều chế độ chính sách về văn hóa nhằm cải đổi tập tục của người Việt. Một số chính sách về thờ cúng tế tự được ban hành, trong đó mệnh lệnh lập thêm Thành hoàng ở các phủ châu huyện được thực thi, kể từ đó tín ngưỡng Thành hoàng phát triển mạnh ở nước ta và đây chính là thời kỳ Thổ địa và Phúc thần địa phương được nâng cấp thành Thành hoàng làng. Như vậy vào đầu thế kỷ XV, tín ngưỡng Thành hoàng của Trung Quốc bắt đầu được diễn biến thành tục thờ Thành hoàng làng ở Việt Nam.
Vậy là cho đến trước khi có dấu vết tồn tại của ngôi đình (cuối thế kỷ XV), lễ Nhập tịch Tàng câu, tục thờ thành hoàng và các sinh hoạt cộng đồng khác của người Việt như xử lý việc làng, bao gồm xử các tranh chấp kiện cáo nhỏ trong làng, các hành vi vi phạm lệ làng, giải quyết các vấn đề về thuế má quan dịch, và đương nhiên cả việc tập họp dân làng để nghe các lệnh lệ của triều đình… đều đã tồn tại và được thực hiện từ lâu đời tại các địa điểm công cộng của làng như các đền miếu thờ thần linh thổ địa và sân chùa, trên thực tế, nhu cầu về một địa điểm dành cho tất cả các hoạt động này không đến mức buộc phải có. Vậy điều gì thúc đẩy sự xuất hiện của ngôi đình làng?
Mô hình Thân minh đình thời thuộc Minh và Lê sơ
Vào cuối thế kỷ XV, qua ghi nhận trong bài Đại nghĩ Bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao ta được biết, lễ Nhập tịch Tàng câu vào giai đoạn này đã là một lễ hội thường niên ở đình làng:
Xuân nhật tảo khai gia cát hội
Hạ đình thông xướng Thái bình âm
Tàng câu mở tiệc năm năm
Miếu chu đối việt chăm chăm tấc thành.
Và theo nội dung bài ca cho biết, ở lễ hội này, người ta tế thần, chúc tụng, vui chơi, hát xướng, yến hưởng… Tóm lại là hầu hết các hoạt động vốn có trong cộng đồng thường được thực hiện ở đền miếu trước khi có sự xuất hiện của ngôi đình thì nay, vào cuối thế kỷ XV đã được diễn ra tại đình làng. Điều đó có nghĩa là trước thời Lê chưa thấy sự xuất hiện của ngôi đình, nhưng chỉ sau dăm chục năm, ngôi đình đã hiện diện tại hầu khắp các làng xã và mang trong nó rất nhiều chức năng xã hội quan trọng. Điều này cho phép suy luận, có thể đình làng được diễn biến từ một hiện tượng văn hóa hoặc được ra đời theo một mệnh lệnh nào đó ở thời kỳ này?
Trong quá trình nghiên cứu và dịch thuật các văn bản điển chế và pháp luật thời trung đại, chúng tôi lưu ý đến một sự kiện lịch sử của Trung Quốc, đó là vào niên hiệu Hồng Vũ (1368 – 1398), nhà Minh đã ban lệnh xây dựng Thân minh đình tại khắp các châu huyện trên toàn quốc. Thân minh đình - như tên gọi của nó - là một ngôi đình nhỏ được dựng lên tại các thôn làng để mỗi khi có lệnh lệ của nhà nước ban xuống, chức dịch phải tập trung dân làng tại đó để bố cáo giải thích tường tận (thân minh) cho họ về các lệnh lệ đó. Cùng với Thân minh đình, lễ Hương ẩm tửu với quy tắc “Quý tiện minh, long sái biện” [Sang hèn phân biệt, lớn bé rõ ràng] cũng được đưa vào thực hiện. Tại Thân minh đình, khi đến nghe giảng luật lệnh và thực hiện lễ Hương ẩm tửu, theo quy định, dân làng phải phân biệt chỗ ngồi theo thứ hạng. Các điều đã thân minh mà dân không thực hiện cũng sẽ bị đưa ra Thân minh đình để xử lý, dân có điều gì cảm thấy chưa thỏa đáng cũng tới Thân minh đình kêu, Thân minh đình đồng thời cũng là nơi để treo dán các cáo thị của triều đình, bêu tên tuổi những người vi phạm luật lệ, làm các điều trái với đạo lý.
Sau khi bị nhà Minh xâm lược và đặt thành quận huyện lệ thuộc, từ năm 1407, nước ta lại bị áp đặt chế độ cai trị chung theo chế độ cai trị của nhà Minh. Vậy phải chăng, vào thời kỳ này, cùng với sách vở trường học, nhà Minh cũng đã cho thực hiện việc dựng các Thân minh đình tại các thôn làng ở nước ta như ở các quận huyện khác của Trung quốc để ban bố và giải thích các giáo điều đặng cải hóa dân tục nhằm mục đích đồng hóa. Trên thực tế, hình thức Thân minh đình có thực sự được thực thi ở nước ta hay không thì hiện chưa tìm thấy tài liệu nào ghi lại cụ thể. Tuy nhiên, dấu vết của đình Thân minh còn được chứng minh gián tiếp qua hàng loạt các lệnh lệ trong luật pháp điển chế thời Lê được gọi là Thân minh lệnh. Đồng thời hình thức tập trung dân để giảng giải về các điều giáo hóa cũng được lưu lại qua các điều luật ở thời kỳ này. Chẳng hạn niên hiệu Cảnh Trị thứ nhất (1663) ban hành 47 điều giáo hóa bắt phải giảng rõ cho dân, lệnh ban như sau: “Các điều răn dạy trên đây các quan hai ty Thừa - Hiến phải bắt các quan châu phủ huyện chuyển tống đến các phường xã thôn trưởng để vào ngày Kỳ phúc Xã nhật đầu năm, bắt trai gái lớn nhỏ đến tập trung giảng đi giảng lại, dẫn dụ rõ ràng để các hạng ngu phu ngu phụ, con trẻ đều thấu hiểu rõ ràng.”.
Đặc biệt sự hiện diện của Thân minh đình còn được chứng minh bởi một tư liệu khác, đó là điều luật về tội Phá hủy Thân minh đình được đưa vào Bộ luật Gia Long ban hành ở thời Nguyễn đầu thế kỷ XIX trong mục Tạp phạm chương Hình luật. Nội dung điều luật này như sau:
Phàm kẻ nào phá hủy nhà cửa của đình Thân minh và phá hỏng bảng gỗ trong đình thì bị phạt đánh 100 trượng lưu đầy 3000 dặm (vẫn bắt tu sửa lại).
Giải thích:
Các làng trong châu huyện đều dựng Thân minh đình, dân có kẻ nào bất hiếu trộm cắp gian dâm thì đều ghi rõ họ tên tội trạng của kẻ làm điều xấu đó lên bảng gỗ để tỏ rõ sự trừng phạt răn dậy khiến kẻ đó cảm thấy xấu hổ nhục nhã, nếu biết hối cải sửa lỗi thì sẽ xóa bỏ đi. Các việc nhỏ như hôn nhân, điền thổ, cho lão làng khuyên bảo, giải hòa tranh chấp tại đây, đấy là quy chế làm rõ việc răn dậy vậy. Nếu kẻ nào dám phá hủy tức là loạn dân không tuân theo giáo hóa vậy, cho nên giữ nghiêm phép nước phạt đánh 100 trượng, lưu đầy 3000 dặm, và bắt đưa đi thật xa.
Điều lệ:
Phàm sắc dụ giáo hóa dân của triều đình, các doanh trấn phải đốc thúc thuộc viên viết rõ hoặc khắc lên bảng gỗ kính cẩn treo ở đình Thân minh để dậy bảo dân chúng.
Điều luật này đã cho thấy đầu thời Nguyễn có tồn tại Thân minh đình. Tuy nhiên theo chúng tôi, điều luật này chỉ áp dụng với những nơi có Thân minh đình, tức là những vùng đất mới ở phía Nam, bởi ở phía Bắc, từ thế kỷ XVII ngôi đình đã tồn tại vững chắc tại các làng xã với đầy đủ chức năng xã hội được quy định với Thân minh đình. Có thể trong quá trình Nam tiến, ngay từ thế kỷ XVI, ở những làng xóm thuộc vùng đất mới khai mở, các chúa Nguyễn đã đưa hình thức Thân minh đình vốn có ở phía Bắc vào các làng xã mới lập ở phía Nam để giáo hóa dân, và cho đến đầu thế kỷ XIX, ở phía Nam, tại một số nơi, khi ngôi đình bền vững theo kiểu phía Bắc còn chưa đủ điều kiện để hình thành, chính quyền vẫn cho sử dụng hình thức này trong mục đích giáo hóa. Ngoài ra điều luật này cũng cho biết rất rõ chức năng của Thân minh đình bao gồm: bêu danh kẻ xấu nhằm mục đích răn đe, xử lý các tranh chấp nhỏ trong làng, ban bố các sắc dụ của triều đình.
Sự có mặt của ngôi Thân minh đình ở thời Nguyễn đã gián tiếp cho chúng ta biết đến sự hiện diện của ngôi Thân minh đình ở thời Lê. Như vậy giả thiết đưa hình thức Thân minh đình vào nước ta để giáo hóa dân của nhà Minh là hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Cùng với Thân minh đình, lễ Hương ẩm tửu cũng được nhà Minh đưa vào làm công cụ quản lý hành chính và giáo hóa nhân dân. Theo quy định, lễ này được cử hành vào lễ tế Xã (lễ Kỳ Phúc) vào mùa xuân và mùa thu, phải có nghi thức đọc luật lệnh. Đọc luật lệnh xong lại tuyên đọc các văn thư hữu quan khác và các lời giáo huấn của bộ Hình biên phát. Dân làng đến tiệc phải chia làm ba hạng. Phàm những người tuổi cao có đức không phạm lỗi công tư gì là bậc thượng. Những người mắc lỗi chậm trễ trong việc sưu sai thuế má hoặc phạm các tội roi trượng, từng bị gọi lên quan là một bậc. Những người từng phạm tội gian dâm trộm cắp, dối trá, lừa đảo, sâu dân mọt nước, bày kế hãm hại quan trưởng, từng có trọng tội bị phạt trượng đồ lưu, là một bậc. Con em của ba hạng đó cũng tự phân biệt thành ba bậc theo thứ tự mà ngồi, không được lẫn lộn, nếu không ngồi đúng thứ bậc sẽ xử tội Vi chế .
Thời Lê sơ, để xây dựng một nhà nước hướng Nho, các điển lễ của Nho gia được luật hóa để đưa vào đời sống xã hội. Trong quá trình các điển lễ thâm nhập vào đời sống, khi vấp phải các yếu tố bản địa đã nảy sinh không ít phiền phức, nhất là với những nghi lễ mang tính xã hội rộng rãi như hôn lễ, tang lễ. Vả lại những điều luật đó lại được chuyển tải thông qua các văn bản chữ Hán, do đó để dân chúng hiểu được những lý lẽ phức tạp trong các văn bản đó không thể không cho quan lại địa phương giảng giải cặn kẽ cho dân. Vì vậy sau khi nhà Lê nắm quyền, để tiện cho việc quản lý và giáo hóa của nhà nước, mô hình Thân minh đình với lễ Hương ẩm tửu vẫn được tiếp tục duy trì.
Vậy là ngoài một số địa điểm sinh hoạt cộng đồng như miếu đền thờ thần linh Thành hoàng thổ địa vốn đã tồn tại trong các cộng đồng dân cư, cho đến thời Lê sơ, với những chức năng xã hội quan trọng như đã nói trên, Thân minh đình đã trở thành một địa điểm sinh hoạt cộng đồng không thể thiếu trong các làng xã.
Từ Thân minh đình đến ngôi đình làng.
Theo Đinh Khắc Thuân, kiến trúc ngôi đình thế kỷ XVI khá giản đơn, chỉ có một tòa nhà ba gian hai chái nằm ngang kiểu chữ “Nhất” với sân đình phía trước và trước sân có giếng, chưa có hậu cung, cũng chưa có tòa tiền tế để cúng thờ Thành hoàng. Rõ ràng là ngôi đình thế kỷ 16 được dựng lên chưa có chức năng thờ Thành hoàng, bởi thần đã có miếu để thờ, điều đó cũng có nghĩa là ở thời Mạc ngôi đình chưa mang chức năng tôn giáo. Cũng theo ĐKT, thực tế ngôi đình ở thời kỳ mới xuất hiện (thế kỷ XV - XVI) chỉ dùng làm nơi thực hiện lễ Kỳ phúc hàng năm và để tổ chức lễ hội, đồng thời, việc phân ngôi thứ để thụ lộc và hội họp đã xuất hiện ở đình làng từ thời kỳ này.
Theo chúng tôi khi chỉ mang những chức năng hành chính, ngôi Thân minh đình đương nhiên chỉ được làm đơn giản, điều này lý giải về kiến trúc đơn giản của ngôi đình thời Mạc. Nhiều văn bia cũng cho biết, trước khi dựng ngôi đình kiên cố, ngôi đình cũ chỉ bằng tranh tre nứa lá. Đồng thời những nhận xét của ĐKT về lễ Kỳ phúc cũng như việc phân ngôi thứ để thụ lộc và hội họp ở ngôi đình thời Mạc đều hoàn toàn khớp với những gì diễn ra tại Thân minh đình với lễ Hương ẩm tửu thời thuộc Minh và Lê sơ như đã trình bày ở trên.
Do mỗi lần có việc, cả làng tụ họp rất đông, vì vậy Thân minh đình thường được dựng lên ở những nơi rộng rãi và thuận tiện qua lại. Về sau để lấy bóng mát, người ta cho trồng các loại cây lớn như cây đa, cây muỗm, sau nhiều năm tháng, cây đa dần trở thành một bộ phận gắn bó với ngôi đình. Khi Thân minh đình đã trở thành một địa điểm quen thuộc của làng, dần dần để tiện gọi, Thân minh đình chỉ còn được gọi ngắn gọn là “đình”.
Về sau mỗi khi làng vào đám (Nhập tịch Tàng câu), người ta rước Thành hoàng làng đến đây làm lễ tế, rồi nhiều làng để thuận tiện cho việc cúng tế, để ngôi đình trở nên uy nghiêm hơn đã cho nhập hẳn miếu Thành hoàng vào đình, mở thêm phần hậu cung làm chỗ thờ thần. Như vậy qua nhiều diễn biến của phong tục, tập quán, ngôi đình làng mới dần mang thêm chức năng tôn giáo.
Vào thế kỷ XVII - XVIII, cùng với sự phát triển mạnh của kinh tế văn hóa, tại hầu khắp các làng xã, người ta đua nhau xây dựng đình làng với kiến trúc to lớn vững chãi. Kể từ giai đoạn này, ngôi đình làng mới thực sự hoàn thiện cả về kiến trúc cũng như các chức năng xã hội của nó, trở thành một biểu tượng văn hóa đặc sắc của làng xã Việt Nam.
T.T.K.A
Nhãn:
Di sản,
Khảo cổ học,
kiến trúc,
Trần Kim Anh
Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013
VĂN BIA THỜI LÝ CHO BIẾT NHỮNG GÌ VỀ KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO THỜI KỲ NÀY
| Chiểu thả sen, giữa hồ nổi lên một cột đá lớn, trên đỉnh cột là đóa sen vàng ngàn cánh nở rộ. |
VĂN BIA THỜI LÝ CHO BIẾT NHỮNG GÌ VỀ KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO THỜI KỲ NÀY
Trần Thị Kim Anh
-viết riêng cho NXD-Blog
Văn bia thời Lý hiện còn cho biết về kiến trúc của 13 ngôi chùa. Dưới đây là những gì các văn bia ghi lại:
1. Chùa Linh Xứng trong văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (1089)
Chùa nằm trên sườn núi Ngưỡng Sơn (nay thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, Thanh Hóa) được Lý Thường Kiệt và Sùng Tín trưởng lão là thầy học của Thái Hậu Ỷ Lan chọn đất xây dựng trong 4 năm (1085-1089). Văn bia cho biết Lý Thường Kiệt và Sùng Tín trưởng lão đến vùng núi Ngưỡng Sơn, thấy cảnh trí thanh u, cây cối tốt tươi lại không quá xa làng xóm, bèn quyết định cho xây dựng chùa. Chùa được xây khá bề thế ở phía đông núi:
Ở giữa là điện Phật thênh thang; hai bên là nhà trai dài rộng rãi. Phía sau xây ngôi bảo tháp gọi là tháp Chiêu Ân, chín tầng chót vót, giăng mắc rèm the, cửa mở bốn mặt, lan can vây quanh. Góc mái treo chuông đồng nhỏ. Lan can hàng hiên quanh thềm. Đầy sân hoa cỏ. Trong chùa, ngự ở chính giữa trên cao là tượng Ngũ trí Như lai mạ vàng rực rỡ, ngồi trên tòa sen trồi lên mặt nước. Quanh tường tô vẽ dung nghi đẹp đẽ của Thập lục bồ tát cùng các thứ bậc biến tướng muôn hình vạn tượng, không thể kể xiết.. Phía trước có cổng chính, trong treo chuông đồng, Thẳng ngay phía trước là một con đường, hai bên khơi ngòi dẫn nước đổ vào. Sát bên sông dựng ngôi đoản đình, thuyền bè qua lại thường dừng chèo tạm nghỉ, lên chùa quỳ gối chiêm bái.
2. Chùa Báo Ân trong văn bia An Hoạch sơn báo ân tự bi ký (1100)
Chùa Báo Ân ở núi An Hoạch (núi Nhồi), nay thuộc huyện Đông Sơn Thanh Hóa. Chùa do Lý Thường Kiệt cho xây dựng vào niên hiệu Hội Phong đời vua Lý Nhân Tông, bắt đầu từ mùa hạ năm 1099 đến mùa hạ năm 1100 thì hoàn thành. Văn bia cho biết:
Chùa ngoảnh hướng nam, Giữa đặt tượng phật Thích Ca Mầu Ni, tiếp đó bày tượng Bồ Tát, mặt đẹp rực rỡ sắc vàng, mình đều sơn vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành: Chùa được sơn vẽ rực rỡ, hướng về phía nam, trông ra quang cảnh của huyện Cổ Chiến. Đồng ruộng từng ô xanh tốt, phía sau liền với gò Tường Bằng. Bên cạnh sừng sững núi Bạch Long, một dòng sông trong xanh chảy ngang, làm thành một giải.
3.Chùa Diên Hựu trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1106)
Chùa được xây dựng vào năm 1049 thời vua Lý Thái Tông trong viên lâm phía tây cấm thành, theo cách dựng chùa trên kinh chàng (Nhất trụ tự) ở kinh đô Hoa Lư . Năm 1106 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân tông, chùa được trùng tu lớn. Sau khi trùng tu chùa trở thành một quần thể kiến trúc với trung tâm là một hồ vuông gọi là hồ Linh Chiểu thả sen, giữa hồ nổi lên một cột đá lớn, trên đỉnh cột là đóa sen vàng ngàn cánh nở rộ. Giữa đóa sen là tòa điện nhỏ màu tía, Trong điện đặt tượng phật mạ vàng. Vây quanh hồ sen là hành lang chạm vẽ, vòng ngoài hành lang là hào nước xanh biếc, mỗi mặt đều bắc cầu vồng để đi thông vào, ở mỗi sân phía trước hai bên cầu đều dựng hai ngọn tháp lợp ngói lưu ly.
4.Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc trong văn bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi văn (1107)
Chùa do quan Thái phó Hà Hưng Tông xây dựng ở Tuyên Quang vào năm 1107 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân Tông. Chùa này:
Nhà liên tiếp bao quanh. Xà uốn cong cong như cầu vồng đôi nhịp. Mái hiên như cánh chim tung bay bốn phía, bày tượng vàng. Đốt trầm hương, treo chuông khánh, treo cờ phướn, trồng thông xanh.
5.Đài đèn Quảng Chiếu trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1116)
Đài đèn Quảng Chiếu được vua Lý Nhân Tông cho xây dưng vào năm 1116 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7. Mùa xuân hàng năm vào tết Nguyên tiêu, triều đình mở hội, đốt đèn rực rỡ một góc trời, tăng chúng đi vòng quanh đèn tụng kinh, quan liêu sắp hàng bái lạy, cầu cho quốc thái dân an. Hội đèn Quảng Chiếu đã tồn tại rất lâu, suốt đến hết thời Trần.
Theo văn bia, Đài đèn Quảng Chiếu là một quần thể kiến trúc ở phía trước cổng Đoan Môn của hoàng thành Thăng Long, bao gồm một đài đèn lớn, điện phật, tháp tượng, lầu chuông. Quần thể kiến trúc này được mô tả khá kỹ như sau:
Đèn được đặt trên đài, gồm một cây cột lớn được gắn bảy tầng đèn, mỗi tầng đèn gồm những tay đỡ hình rồng uốn cung chìa ra. Mỗi hình rồng đỡ một đóa sen thếp vàng, giữa đóa sen đặt một ngọn đèn lớn, mỗi ngọn đèn được che bằng một chiếc lồng may bằng nhiễu, dưới đài giấu một trục bánh xe để giúp cây đèn lớn này xoay tròn, tỏa ánh sáng rực rỡ một góc trời. Cây đèn này được đặt trong tổng thể kiến trúc gồm một tòa điện Phật trang nghiêm, hai bên là hai dãy tượng tạc vẽ sinh động, tiếp đó là hai tòa lầu sơn vẽ lộng lẫy, trong treo chuông đồng và tạc hình thầy tăng mặc áo quê, có giấu máy ở bên trong, khi máy hoạt động thầy tăng giơ vồ chuông lên như sắp đánh, nghe tiếng vỗ bao kiếm là quay đầu lại, nhìn đức vua mà khom lưng cúi đầu. Phía sau là dãy tháp thất bảo rực rỡ. Chính giữa là ngọn tháp vàng, trong đặt tượng Đa Bảo Như Lai, bày mấy tầng chân hình pháp giá, màu ngói rực rỡ như mây biếc. Tiếp hai bên là hai tòa tháp bạc, tòa bên trái đặt tượng A Di Đà Như Lai, tòa bên phải để Diệu Sắc Thân Như Lai, dáng tháp cao khỏe, vút lên, lấp lánh ánh bạc. Tiếp nữa là hai tòa tháp đá chạm, tòa bên trái để tượng Quảng Bác Thân Như Lai, tòa bên phải bày tượng Ly Bố Úy Như Lai, làm gác cao hình tròn, dựng tầng chênh vênh, nóc lợp ngói quý, vách chạm hình rồng. Cuối cùng là hai tòa tháp bằng ngà voi, tòa bên tả bày hình Cam Lộ Vương Như Lai, tòa bên hữu là Bảo Thắng Như Lai, thềm bằng đá mộc, cột hiên gác cao, rường cột chạm vẽ, các khe đều nạm sừng tê, xung quanh tòa sen đều khắc bài ký, vẽ chín tầng trời bằng ngũ sắc, khắc câu đối ở bốn cột. Bày đèn lấp lánh hai bên.
Qua đó có thể thấy đây là một quần thể kiến trúc lớn, độc đáo, được làm công phu tốn kém, là một sáng tạo tuyệt vời về kiến trúc ở thời Lý, xứng đáng sánh ngang với các công trình kiến trúc nổi tiếng trong khu vực. Cùng với cây đèn là hội đèn Quảng Chiếu với nghi lễ trang nghiêm mang tính quốc lễ, đậm chất Việt. Theo tôi, việc cho phục dựng công trình kiến trúc này và lễ hội đèn Quảng Chiếu tại Thăng Long – Hà Nội là điều Bộ văn hóa và Giáo hội Phật giáo nên tiếp tục trình Chính phủ xem xét.
6.Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh trong văn bia Sùng Nghiêm Diên thánh tự bi minh
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh do Thông phán họ Chu - người được cử làm quyền trấn giữ, cai quản quận Cửu Chân cho xây dựng năm 1116 niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 7, đời vua Lý Nhân Tông, trên nền một ngôi chùa cũ ở góc phía nam thành quận này. Văn bia cho biết:
Chùa sát đường lớn. Rường nhà cong cong như cầu vồng nhô ra, lợp gói uyên ương. Các góc mái vươn lên như cánh bay, khắc hoa văn hình rong, chạm trổ hình phượng múa. Mái cong, song lượn, Tường vách vây quanh, lang vũ bao bọc, Bên hữu có vườn thơm, phía tả có ao sen. Dựng nhà khách, xây nhà bếp.
Trong chùa thì chùa chiền ngăn nắp, tượng phật trang nghiêm. Đúc ba pho tượng Như lai bằng đồng. Chính giữa đặt tượng Thích ca mâu ni phật, tượng Ca Diếp một bên, tượng Từ Thị (Di Lặc) một bên. Chạm đá làm đài hoa sen để đặt tượng. Thứ đến là tượngTân Đầu hòa thượng ngồi trên ngọn núi Ma lị, đặt trước cửa phật gọi là Hộ Pháp. Đúc một quả chuông lớn, dựng giá lớn ngoài hiên chùa, treo bằng dây đồng, đánh bằng vồ gỗ. Lại vẽ các tranh trên tường về các duyên nhân quả, thiên biến vạn hóa tường tận khúc nhôi. Tượng phật thì có cả tượng đất cả tượng đồng.
7.Chùa Long Đội và tháp Sùng Thiện Diên Linh trong văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi
Chùa Long Đọi nằm trên núi Đọi sơn có tên chữ là Diên Linh tự. Chùa được vua Lý Nhân Tông cho xây dựng, bắt đầu từ niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín (1118), đến mùa thu niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) thì hoàn thành. Chùa hướng ra sông Kinh, lưng tựa núi Điệp. Văn bia miêu tả chùa và tháp khá cụ thể, khiến ta có thể hình dung ra chùa Long Đọi là một tổng thể kiến trúc gồm ba cấp (theo độ dốc của sườn núi):
Bậc trên cùng là thềm tháp, trên thềm tháp dựng cây tháp vuông bốn mặt, cao 13 tầng, các tầng có cửa, Đỉnh tháp đặt tượng người tiên bưng mâm hứng sương lành. Các tầng mái tạo góc uốn cong, các góc mái đều treo chuông nhỏ. Vách tháp đều tạc rồng ổ. Trong tháp, tầng trên cùng thờ xá lỵ Phật, tầng dưới cùng đặt tượng Đa Bảo Như Lai thếp vàng, bên trên tượng có treo phướn treo lọng, có tượng bát vị kim cương bằng đá đứng hộ vệ. Thềm tháp có bậc lên xuống, hành lang giải vũ tỏa ra hai bên.
Bậc tiếp liền thì bên tả xây ngôi nhà tứ giác mái vòm, có đôi rồng cuổn trấn giữ, đội Bát vị kim cương chầu trời. Bên hữu dựng khám vuông mái nhọn kiểu Phạn, trong là tượng Tân đầu hòa thượng (tức Tân Đầu Lô - Bhâradvâja) đặt trên ngọn núi Ma Lị.
Bậc dưới thì phía trước dựng gác Lăng Hán, treo khánh đá quý. Xây tường vây giữ, làm hành lang giải vũ để điểm tô, làm cầu thông ra con đường lớn trồng hai hàng thông hai bên. Vật liệu kiến trúc gồm đá gỗ và gạch.
Đây cũng là một công trình kiến trúc đặc sắc của thời Lý. Có lẽ trongtương lai, chúng ta nên phục dựng lại những công trình như đài đèn Quảng Chiếu, chùa tháp Sùng Thiện Diên Linh, bởi chúng hoàn toàn là của ta, là tinh hoa trí tuệ của Phật giáo Việt Nam?.
8.Chùa Hương Nghiêm trong văn bia Càn Ni Hương Nghiêm tự bi minh
Chùa Hương Nghiêm vốn là một ngôi chùa cổ, do Bộc xạ tướng công Lê Lương xây dựng từ đời hậu Đường (923 – 937) tại núi Càn Ni (nay thuộc làng Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Thời Tiền Lê, vào năm 1003, vua Lê Đại Hành đi tuần du, đến giang Ngũ Huyện ở Thanh Hóa thấy chùa đổ nát cho chữa lại. Đến Thời Lý, năm 1031, vua Thái Tông đi chơi về phương nam, tới Ái Châu thấy chùa đổ nát lại cho tu sửa. Năm 1122 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ đời vua Lý Nhân Tông, sư Đạo Dung ở kinh thành về thăm thấy chùa cũ nát lại cho trùng tu. Chùa trùng tu xong được mô tả là:
Tượng phật đặt trên các bệ đá cao chạm khắc núi non sóng nước. Mái cong cong như cánh trĩ; ngói lớp lớp như vẩy xếp. tường làm lan can thoáng mát; cổng rộng lớn. Mé trái có một tòa lầu nguy nga, trong treo chuông lớn. Bên phải dựng tấm bia đá ghi công đức. Tường xây bao quanh, cách xa trần giới; có hoa tươi tốt, ngào ngạt khói hương.
9.Chùa Thánh Ân trong văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh
Chùa do Tín nữ Diệu Tính, cháu gọi Thái úy Lý Thường Kiệt bằng cậu, đến lập trang viên ở núi Ngưỡng Sơn cho xây dựng ở phía đông núi. Trong chùa đặt Phật vàng và các vị Bồ tát phò tá hai bên, trải qua bốn năm, công việc mới hoàn thành.
10.Chùa Viên Quang trong văn bia Viên Quang tự bi minh
Chùa Viên Quang do Thiền sư Giác Hải xây dựng vào năm 1137 niên hiệu thiên Chương Bảo Tự năm thứ 5 đời vua Lý Thần Tông. Chùa rất đẹp, các vua Thần tông và Anh tông nhà Lý thường đến thăm.
Bảo điện nghiêm trang vách vàng rực rỡ, bên trong đặt tượng phậtA Di Đà, bên cạnh là Bồ Đề Đạt Ma. Các vị bồ tát đứng hầu tả hữu. Bên ngoài là hai vị Hộ Pháp giơ qua đứng hai bên. Hoành phi đề là Viên quang tự. Lại làm lầu cao bên trong, làm gác chuông, tháp nhạn cao vút, nhà bếp ngang dọc phía sau, thờ tổ sư 6 đời. Cổng chính uy nghiêm sừng sững phía trước, mở ra đường lớn
11.Chùa Diên Linh Phúc Thánh trong văn bia Phụng thánh phu nhân Lê Thị mộ chí
Chùa Diên Linh Phúc Thánh do phi tần của vua Lý Thần Tông là Lê Thị Lan Xuân đứng ra xây dựng trên núi Ngọc Phác (nay thuộc xã Hương Nộn, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phúc) vào năm 1145 niên hiệu Đại Định đời vua Lý Thần Tông, vừa để hoằng dương Phật pháp vừa để thờ phụng tổ tiên, Được đặc ân thánh chỉ cấp cho thợ thuyền, gỗ ngói. Chùa xây xong uy nghiêm tráng lệ, trở thành nơi lui tới của phật tử một vùng.
12.Chùa Diên Phúc trong văn bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh
Chùa Diên Phúc còn gọi là chùa Tổng, nay là thôn Cảnh Lâm, xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Chùa do thân mẫu của Thái uý Việt Quốc Công Đỗ Anh Vũ đứng ra xây dựng vàonăm 1156 niên hiệu Đại Định năm thứ 17 đời vua Lý Anh Tông. Chùa được bố cục như sau
Ở giữa là một tòa điện tía, hồi lang mở rộng ở mặt ngoài, trong đặt tượng Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát, hai bên là Văn Thù cưỡi sư tử, Phổ Hiền cưỡi voi trắng, bên tả là Bà Tẩu tiên nhân (Vasu), bên hữu là Công đức thiên nữ (Sridevi), bậc dưới tòa sen có Tứ Đại Thiên vương hộ vệ, hai bên nhà lang vũ đặt Bát đại Kim Cương . Góc phía trước lang vũ đặt tượng Pháp Thi. Phía trong của tam quan dựng hai tượng Thiện thần Hộ Pháp. Chi sơn hòa thượng, thổ thần đại vương đứng đối nhau ở nhà lang vũ phía trước, bên ngoài lang vũ phía trước thì bên tả dựng lầu cao để treo chuông, bên hữu xây nhà che văn bia. Bên ngoài tam quan đào hai ao hai bên để trồng sen, phía sau chính điện mở một kho để chứa thóc lúa.
13.Chùa Báo Ân trong văn bia Báo Ân thiền tự bi ký
Chùa ở xã Tháp Miếu huyện Yên Lãng, nay thuộc huyện Mê Linh Hà Nội. do một một người họ Nguyễn xuất thân võ tướng đứng ra xây dựng vào năm 1210 niên hiệu Trị Bình Long Ứng năm thứ 6 đời vua Lý Cao Tông. Chùa được mô tả:
Cung cao, điện lớn, cột sơn vẽ rực rỡ, tòa sen lộng lẫy, tượng vàng trang nghiêm, tàn phướn muôn màu. Gác phượng treo chuông lớn, đài rồng treo khánh quý.
***
Qua những mô tả trong văn bia, kết hợp với một số tư liệu hữu quan khác, tôi xin đưa ra một số nhận xét nhỏ dưới đây về kiến trúc Phật giáo thời Lý:
1-Thời Lý, nhiều công trình kiến trúc Phật giáo được làm với quy mô lớn, tráng lệ, do vua, đại sư, đại thần, hậu phi trong triều đình đứng ra xây dựng.
2-Đến thời Lý, đã khá ổn định một phong cách chùa Việt, thể hiện rõ rệt ý thức tự khẳng định mình của Phật giáo Việt Nam trong sự tiếp thu hợp lý các yếu tố mang màu sắc Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa. Chỉnh thể phong cách chùa thời kỳ này thường là kiến trúc điện đường lang vũ và bảo tháp kết hợp với vẻ đẹp của phong cảnh tự nhiên. Sự khéo léo của con người được kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên.
3-Ở thời Lý, mô thức kiến trúc chùa - tháp rất thịnh hành. Tháp còn được gọi là phù đồ. “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Đây cũng là điện gác dùng để thờ Phật. Tháp thời Lý hoặc ở trung tâm của ngôi chùa (Sùng Thiện Diên Linh), hoặc ở phía sau hay bên cạnh chính điện. Tháp thường có mặt bằng hình vuông, cao 7, 9 hoặc 13 tầng, các tầng có mái cong chìa ra, góc mái treo chuông nhỏ, tường vách thường chạm rồng hoặc sơn vẽ, vật liệu kết hợp cả gạch, đá và gỗ.
4-Bố cục chùa thời Lý thông thường là lấy điện Phật hoặc tháp làm trung tâm, trai đường, lang vũ phối hợp hai bên. Cũng có chùa theo kết cấu tiền hậu tả hữu phối hợp, lớp lớp điện đường sâu vào trong (như chùa Viên Quang). Phía trước thường là lầu chuông, lầu khánh, nhà bia, cổng chính. Đôi khi cổng chính xây thêm gác ở trên làm gác chuông. Tường vây quanh. Sân chùa trồng hoa lá cây cối, trước chùa có ao sen. Quanh chùa trồng thông.
5-Chùa tháp thời Lý đều có mái cong, tùy theo quy mô mà lợp ngói uyên ương, ngói lưu ly hoặc ngói vẩy cá và sườn mái có gắn hình ly vẫn (một loài chim thần) để trang trí và tỵ tà. Chân tảng kê cột đều bằng đá xanh chạm cánh sen tỏa, cột đá thì chạm rồng, cột gỗ thì sơn thếp. Trên tường sử dụng nhiều bích họa về tích Phật, bích họa đều được vẽ ngũ sắc. Phía trước dùng vách gỗ có song con tiện tạo độ thoáng.
6-Trong chùa, bố trí tượng phật không thống nhất. Đặc biệt tượng Phật ở chính điện, nơi là Đa Bảo Như Lai, nơi là Ngũ Trí Như Lai, nơi là Thích Ca Mầu Ni, nơi là A Di Đà, nơi là Quán thế âm Bồ tát. Có lẽ do tùy theo các môn phái song mang nhiều màu sắc Mật tông. Thời kỳ này chưa thấy thờ tam tôn như về sau. Do văn bia không phản ảnh đầy đủ nên chỉ xin nói qua như vậy, chờ các nhà am hiểu cho biết thêm. Tiếp đó là Bồ Đề Đạt Ma, A Nan, Ca Diếp, Văn Thù, Phổ Hiền, Tứ đại thiên vương. Bát vị Kim Cương, Thập bát La Hán, Thập lục Bồ Tát, Hộ Pháp …, tùy theo quy mô mà chùa ít chùa nhiều. Đến cuối thời Lý, lối bố cục của chùa Diên Phúc như đã mô tả ở trên có lẽ là sự bắt đầu cho một mô thức chung khá thịnh hành về sau.
7-Tượng Phật thời Lý thường bằng đá, gỗ, đất, được chạm khắc sơn vẽ lộng lẫy sinh động. Tượng ở chính điện hoặc bằng đá, hoặc bằng gỗ, đôi khi bằng đồng, song hầu hết đều thếp vàng, đều đặt trên tòa sen chạm khắc tô vẽ khéo léo, được treo thêm phướn lọng bên trên để tạo vẻ uy nghi.
8-Chùa thời Lý có nơi người đứng ra xây dựng chùa cho xây thêm nhà thờ cha mẹ tổ tiên để báo hiếu (Chùa Diên Linh Phúc Thánh), điều này sang thời Trần khá phổ biến. Đây có lẽ là nguồn gốc dẫn đến tục gửi giỗ lên chùa trong dân gian, để dần dần tục lệ này kết hợp với việc công đức cúng dường cho nhà Phật mà diễn biến thành tục lập Hậu phổ biến ở các đời sau - một tục lệ tốt chỉ riêng có ở Việt Nam.
Do hiểu biết về Phật giáo còn rất hạn chế nên tôi chưa thể khai thác hết những gì văn bia cung cấp, đồng thời những nhận xét trên đây có thể cũng rất nhiều sai lầm, rất mong được các nhà am hiểu chỉ giáo thêm và lượng thứ.
Hà Nội 3/3/2011
*Bài viết do nhà nghiên cứu Trần Kim Anh viết và gửi riêng Nguyễn Xuân Diện-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!
CHÙA MỘT CỘT - MỘT HUYỆT MẠCH QUAN TRỌNG CỦA LONG THÀNH
Chùa Một Cột rất cần có một cuộc đại trùng tu, nhưng…
Trần Thị Kim Anh
– viết riêng cho NXD-Blog
Được biết ngày 30/9, UBND quận Ba Đình đã tổ chức Hội nghị xin ý kiến các nhà khoa học và các nhà quản lý về việc tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa chùa Một Cột- chùa Diên Hựu. Không thuộc diện được hỏi ý kiến, nhưng là người yêu quý lịch sử Thăng Long – Hà Nội, tôi xin cống hiến đến chư vị bài viết dưới đây.
Điểm lại các tư liệu về chùa Diên Hựu - Một Cột:
Tư liệu đầu tiên và cổ nhất hiện biết về chùa Diên Hựu - Một Cột chắc chắn là văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi được khắc đá năm 1121 đời vua Lý Nhân tông, 16 năm sau khi chùa được trùng tu. Văn bia cho biết, năm 1105 niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân tông, chùa được trùng tu lớn. Văn bia mô tả rất kỹ kiến trúc chùa trong lần trùng tu này như sau: “Mở rộng chùa Diên Hựu ở viên lâm phía tây cấm thành, noi theo quy chế cũ trước đây, nhưng thực hiện những mưu tính mới theo ý vua, đó là đào ao sen Linh Chiểu, giữa ao vọt lên một cột đá. Trên đỉnh cột đặt hoa sen ngàn cánh, trên hoa đặt vững một tòa điện tía. Trong điện đặt tượng Quan Âm dát vàng. Bên ngoài ao có hành lang vẽ vây quanh, bên ngoài vòng hành lang là ngòi nước biếc, mỗi mặt đều bắc cầu vồng đi thông vào. Nơi cây cầu ở sân phía trước, hai bên đầu cầu có hai ngọn bảo tháp lợp ngói lưu ly”. (Hướng tây cấm chi danh viên, quảng Diên Hựu chi quang tự. Tích tòng tiền chi cựu chế, xuất thánh ý chi tân mưu. Tạc Linh Chiểu chi phương trì, nhi trì trung dũng nhất thạch cán. Cán thượng kỳ thiên diệp liên hoa, hoa thượng nhi kiều an cam điện. Điện trung tọa kim tướng chi Năng nhân. Trì chi ngoại chu nhiễu họa lang, hoàn lang chi ngoại hựu sơ bích trì, mỗi giá phi kiều dĩ thông chi. Tiền kiều chi đình tả hữu Phạn lưu ly bảo tháp… Thác bản hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu 32724 – 32725).
Tư liệu thứ hai là bài thơ viết về chùa Diên Hựu (延祐寺) của Thiền sư Huyền Quang (1254 -1343), trong bài có hai câu tả thực như sau:
鴟 吻 倒 眠 方 鏡 冷
塔 光 雙 峙 玉 尖 寒
Si vẫn đảo miên phương kính lãnh
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn
Hình chim thần ngủ ngược trên gương nước lạnh
Bóng đôi tháp sừng sững như đôi ngón tay ngọc giá băng
Tư liệu thứ ba là Đại Việt sử ký toàn thư. Toàn thư nói về thời điểm làm chùa và giải thích cái tên chữ Hán của chùa là Diên Hựu rằng: Năm Kỷ Sửu, niên hiệu Thiên Cảm Thánh Vũ năm thứ 6 (1049). Mùa đông tháng 10, dựng chùa Diên Hựu (mãi mãi tốt lành). Trước đây vua (Lý Thái Tông) nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài sen dẫn vua lên đài. Đến khi tỉnh dậy nói lại với quần thần, có kẻ cho là điềm bất tường. Có vị thiền sư là bậc mẫn tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá giữa mặt đất, làm đài sen và tượng Quan Âm ở đỉnh cột như đã thấy trong mộng, cho các sư đi vòng quanh tụng kinh cầu cho vua được trường thọ. Cho nên đặt tên như vậy.(Sơ, đế mộng Quan Âm phật tọa liên hoa đài dẫn đế đăng đài. Cập giác, ngữ quần thần, hoặc dĩ vi bất tường. Hữu tăng thiền tuệ giả khuyên đế tạo tự, lập thậch trụ vu địa trung, cấu Quan Âm liên hoa đài vu kỳ thượng như mộng trung sở kiến, tăng đồ toàn nhiễu tụng kinh cầu diên thọ, cố danh).
Toàn thư cũng ghi nhận các lần trùng tu chùa Diên Hựu: Lần thứ nhất vào năm Tân Tỵ niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa nguyên niên (1101), vào mùa xuân, “đổi niên hiệu, cho trùng tu chùa Diên Hựu”. Lần thứ hai, vào năm 1106, “mùa thu, tháng 9, làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu… Bấy giờ vua cho sửa chùa Diên Hựu đẹp hơn trước, đào hồ dưới đài sen gọi là hồ Linh Chiểu. Bên ngoài có hành lang vẽ, ngoài hành lang có ngòi nước biếc, bắc cầu vồng đi thông vào, trước sân chùa xây bảo tháp”. Lần thứ ba là vào đầu thời Trần, năm 1249 niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình đời vua Trần Thái tông chùa được trùng tu. Lần trùng tu này, vua hạ chiếu vẫn theo như cũ. (Kỷ Dậu xuân chính nguyệt, trùng tu Diên Hựu tự, chiếu nhưng cựu).
Một tư liệu nữa do Phạm Đình Hổ cung cấp qua Vũ Trung tùy bút (bản R.1609 Thư viện Quốc gia). Ông cho biết: “Chùa Diên Hựu ở thời Lý tục gọi là chùa Một Cột, nằm ở bên ngoài cửa Bạch Hổ của hoàng thành, về phía Đông Nam trường Thái Hòa. Trạng nguyên nhà Mạc là Trần Tất Văn trong bài ký ứng chế Diên Hựu tự ký có tả đại lược như sau: Một cây cột đá sừng sững giữa ao sen, trên dựng chênh vênh một ngôi lầu, bốn mặt có hành lang vòng quanh. Xem những lời đó có thế biết quy chế to lớn diễm lệ của nó. Từ trung hưng đến nay, ao sen hoang tàn, hành lang đổ nát, chỉ còn cây cột, trên đỉnh cột có tòa lầu nhỏ, trong thờ tượng Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, phía trước có bắc cây cầu vồng lợp mái cong. Ngôi tiền điện phía nam ao lợp bằng tranh tre. Năm Ất Sửu niên hiệu Gia Long (1805), đắp thành Thăng Long, cây cầu vồng bị triệt bỏ, cảnh chùa càng thêm hoang phế. Dân cư tương truyền, bùn đất trong ao lẫn vô số kể kim sắt…, người ta cho là nơi Cao Biền trấn yểm”.
Ngoài ra, tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ một văn bản chép nguyên văn một văn bia mang tên Nhất trụ tự bi, mang số hiệu 20917, có niên đại Cảnh Trị năm thứ 3 (1665), do Hòa thượng Tỳ khưu Lê Tất Đạt ghi. Nội dung như sau:
Nước Việt ta trước đây trong phủ Long Biên có một cái hồ vuông. Niên hiệu Hàm Thông (nguyên bản chép là Phong) nguyên niên nhà Đường (860) dựng một cột đá giữa hồ, làm lầu ngọc ở trên cột, đặt tượng Phật Quan Âm để phụng thờ. Địa khí chung đúc linh thiêng, điều cầu xin bao giờ cũng được. Đến triều Lý dựng đô ở đây, cũng nhân theo đó càng thêm tôn kính, rất là linh dị. Khi vua Lý Thánh Tông chưa có hoàng tử, thường hương khói cầu tự ở đây. Một hôm ngài mộng thấy Phật Quan Âm dắt lên trên lầu, bế một đứa trẻ đặt vào lòng ngài. Tháng đó Hoàng thái hậu liền có mang hoàng tử. Vua bèn làm thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên hữu chùa Một Cột, để mở mang việc thờ phụng, để tỏ rõ sự tôn sùng. Trải bốn triều đại tu sửa đều nhân theo đó, cùng hưởng phúc hà sa.
Tuy nhiên văn bản này không đủ độ tin cậy nên chúng tôi không sử dụng[1].
Từ các tư liệu trên chúng tôi xin được đưa ra một số ý kiến về chùa Diên Hựu – Một Cột như sau:
1. Nguồn gốc chùa Diên Hựu - Một Cột:
Ban sơ, khi xây dựng chùa Diên Hựu, trước chùa, người ta cho dựng một cột đá lớn trên mặt đất với đỉnh cột là tượng Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen. Lối kiến trúc này cho phép liên tưởng đến cấu tạo của các kinh chàng (Thạch chàng / Cột kinh) – một loại kiến trúc Phật giáo, thường được dựng lên để kiến tạo công đức. Loại kiến trúc này bắt đầu thịnh hành vào thời Đường, lan truyền đến Triều Tiên Nhật Bản và Việt Nam. Thời Đinh - Lê ở nước ta, kinh chàng được tạo dựng khá nhiều, Nam Việt vương Đinh Liễn từng dựng 100 tòa kinh chàng vào năm Quý Dậu (973).
Kinh chàng thường có cấu trúc khi hình trụ khi hình lục giác, nhưng phần nhiều là hình bát giác, gồm ba phần đỉnh thân và đế. Trên các mặt của thân chàng có khắc kinh phật, chân đế chạm khắc hoa lá vân mây sóng nước, đỉnh chạm khắc tượng phật, bồ tát…Hiện đã phát hiện được 14 kinh chàng bát giác loại nhỏ ở kinh đô Hoa Lư Ninh Bình có khắc kinh Đà la ni, ngoài ra hiện còn một kinh chàng lớn hình bát giác cao hơn 3 m, do Đại Hành Hoàng đế Lê Hoàn dựng tại Hoa Lư, trên các mặt của kinh chàng này khắc bài chú trong Kinh Lăng Nghiêm và một số bài kệ. Hiện kinh chàng này vẫn còn tại chùa Một Cột ở Hoa Lư. Chùa Một Cột hiện nay ở Hoa Lư vốn là ngôi chùa cổ thời Tiền Lê, ngôi chùa này hiện thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích Cố đô Hoa Lư Ninh Bình. Chùa được xây dựng theo kiểu chữ “Đinh”, hướng chính Tây, kiến trúc bao gồm cột kinh, chính điện, nhà tổ, phòng khách, nhà ăn, tháp…
Sách Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện do Vân Bồng Đỗ Tử Mân soạn vào niên hiệu Tự Đức 15 (1862) cho biết, cho đến bấy giờ (1826), “tại hai xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ ở phía tây bắc huyện Gia Viễn vẫn còn thấy rõ cấu trúc nội thành ngoại thành cùng dấu tích và tên gọi của Cáp Môn, Cầu Đông, Cầu Dền, Cầu Mống, Đình Ngang. Trường Tiền, Chùa Tháp, Chùa Một Cột. Đặc biệt sách cho biết, còn một cái cột đá vừa cao vừa to, khắc kinh phật, rêu phủ không thể đọc hết, có lẽ là di tích của chùa Một Cột”. Vậy phải chăng, khi kinh đô được dời ra La thành, ban đầu nhà Lý đã mô phỏng kiến trúc kinh đô Hoa Lư ?. Và mẫu chùa Diên Hựu ban đầu, với kinh chàng đặt trước chùa - chính là được mô phỏng theo chùa Một Cột ở kinh đô Hoa Lư?
3. Diễn biến về mặt kiến trúc của chùa Diên Hựu - Một Cột:
Chùa Diên Hựu – Một Cột là một kiến trúc Phật giáo được xây dựng trong viên lâm phía tây Hoàng thành. Viên lâm (vườn cảnh lớn) là một dạng kiến trúc cảnh quan thời cổ, được vua chúa cho kiến tạo làm nơi nghỉ ngơi giải trí. Viên lâm hoàng thành bắt đầu được tạo dựng cùng với hoàng thành nhà Lý, nằm ở phía tây hoàng thành, thuộc khu vực vườn Bách Thảo và bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay. Dựa vào cảnh quan tự nhiên nơi này, người ta đào hồ đắp núi nhân tạo, trồng cây cối hoa lá thả chim muông làm thành một khu vườn lớn riêng cho vua quan hoàng tộc nhà Lý. Dấu tích núi Sưa, các hồ nước ở khu vực Bách thảo, sông Ngọc Hà… ngày nay rất có thể là dấu vết còn lại của viên lâm hoàng thành Thăng Long. Được biết viên lâm này tồn tại qua thời Lê sơ, bởi vua Lê thánh tông từng có câu thơ tả khu vườn cảnh này sau mưa: Viên lâm vũ quá lục thành ác [Viên lâm sau mưa, lá xanh thành bức rèm]. Đến thời Lê - Trịnh, vua Lê thất thế, khu viên lâm này không người coi sóc, bị bỏ hoang phế, dân cư lấn chiếm dần. Thời kỳ này chúa Trịnh cho kiến trúc khu viên lâm khác rất nổi tiếng gọi là Kỳ viên gắn liền với kiến trúc phủ chúa, từng được Phạm Đình Hổ nhắc đến trong Vũ trung tùy bút.
Như trên đã nói thì chùa Một Cột ngày nay chỉ là một phần trong quần thể kiến trúc chùa Diên Hựu, đó nguyên là một kinh chàng được kiến tạo phía trước chùa, với cấu tạo là một cột đá bát giác dựng trên mặt đất (sân trước chùa), các mặt của cột đá đều khắc kinh Phật, đỉnh cột là đài sen và tượng Quan âm (chưa có điện thờ).
Năm 1106, 57 năm sau, chùa được vua Lý Nhân tông cho trùng tu mở rộng, trở thành một quần thể kiến trúc lớn. Riêng kinh chàng trước sân chùa được thêm vào những nét mới. Kinh chàng được đặt giữa một hồ vuông thả sen gọi là hồ Linh Chiểu, trên đỉnh cột là tòa sen mạ vàng. Giữa tòa sen là ngôi điện sơn màu tía, sườn nóc điện có gắn hình tượng chim thần để trang trí và tỵ tà. Trong điện đặt tượng Phật mạ vàng. Vây quanh hồ sen là hành lang sơn vẽ, vòng ngoài hành lang là hào nước xanh biếc, mỗi mặt đều bắc cầu vồng để đi vào, ở sân phía trước, hai bên đầu cầu dựng hai ngọn tháp lợp ngói lưu ly.
Đến đầu thời Trần, chùa được trùng tu vào năm 1249, vẫn giữ nguyên kiến trúc của lần trùng tu năm 1106.
Đến thời Mạc, có lẽ tòa sen đã hư hỏng nên không thấy tư liệu nhắc đến tòa sen nữa, chỉ còn “Một cây cột đá sừng sững giữa ao sen, trên dựng chênh vênh một ngôi lầu, bốn mặt có hành lang vòng quanh”.
Sau thời kỳ Trung hưng của nhà Lê, cùng với sự suy tàn của viên lâm, chùa hư hỏng dần. Theo ghi chép của Phạm Đình Hổ thì Chùa Diên Hựu lợp bằng tranh tre, chùa Một Cột thì ao sen hoang tàn, hành lang đổ nát, chỉ còn cây cột, trên đỉnh cột có tòa lầu nhỏ, trong thờ tượng Phật Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn và một cây cầu vồng lợp mái cong phía trước.
Đến năm Ất Sửu niên hiệu Gia Long (1805), đắp thành Thăng Long, cây cầu vồng bị triệt bỏ, dấu tích kiến trúc của chùa Một Cột thời Lý gần như không còn.
Theo sách Lịch sử thủ đô Hà nội (Trần Huy Liệu chủ biên – Nxb Sử Học. 1960) thì chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 dưới thời Nguyễn, không rõ lần trùng tu này ra sao. Năm 1922 chùa lại được trùng tu. Ngày 11 tháng 9 năm 1954, trước khi rút khỏi thủ đô, người Pháp cho đặt mìn phá hủy, chùa chỉ còn cây cột với mấy cái xà gỗ. Sau khi tiếp quản Hà Nội, Chính phủ VNDCCH cho phục dựng lại chùa như hiện nay.
4. Chùa Một Cột phải chăng là một huyệt mạch quan trọng của Long thành?
Toàn thư chép: “Mùa đông tháng 10, dựng chùa Diên Hựu (mãi mãi tốt lành). Và giải thích: Trước đây vua (Lý Thái Tông) nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài sen dẫn vua lên đài. Đến khi tỉnh dậy nói lại với quần thần, có kẻ cho là điềm bất tường. Có vị thiền sư là bậc mẫn tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá giữa mặt đất, làm đài sen và tượng quan âm ở đỉnh cột như đã thấy trong mộng, cho các sư đi vòng quanh tụng kinh để cầu trường thọ, cho nên đặt tên như vậy”. Theo đó thì chùa Diên Hựu được xây dựng để giảm nhẹ sự bất tường và tạ ơn đức Phật. Điều này cho phép hiểu rằng sự tồn tại của chùa Diên Hựu mang lại sự may mắn và an lành cho kinh đô và Quốc chủ.
Từ xa xưa, người Thăng Long vẫn truyền tụng, khu vực phía tây hoàng thành Thăng Long từng bị Cao Biển trấn yểm. Mạch núi đất kéo từ núi Nùng (khu vực điện Kính Thiên) đến khu vực công viên Thủ Lệ ngày nay bị cắt đoạn đứt nối chính là dấu tích của sự kiện này.
Phải chăng khi định đô ở Thăng Long, sau khi dò tìm được huyệt mạch bị trấn yểm, nhà Lý đã cho xây chùa và đặt một kinh chàng lớn ở đây để giúp hóa giải và điện an kinh đô?. Tên chùa được đặt là Diên Hựu mang ý nghĩa kéo dài mãi mãi sự tốt lành cho kinh đô. Trong lần trùng tu năm 1106, để khai thông huyệt mạch, người ta đã đào ao Linh Chiểu để kinh chàng ở vào vị trí chính giữa ao. Ao được đặt là Linh Chiểu 靈 沼 (Ao Thiêng) có lẽ để nói về sự linh thiêng của nơi này. (Điều này cũng lý giải vì sao bùn đất trong ao có lẫn rất nhiều kim sắt). Đồng thời, cùng với việc mở rộng chùa, vua Nhân tông cũng bắt đầu thực hiện nghi tiết tắm Phật rất long trọng để cầu an cho kinh đô và đất nước vào mồng một hàng tháng tại đây, nghi tiết này sau trở thành lệ thường .
Chùa Một Cột trong thời Lê Sơ, thời Mạc và sau khi nhà Lê trung hưng tuy không còn vị trí như ở thời Lý - Trần, song vẫn được giữ gìn coi trọng, những lời lẽ ca ngợi sự thiêng liêng của chùa của văn thần nhà Lê và nhà Mạc chứng tỏ đây vẫn thực sự là chốn thiêng.
Thời Lê mạt, chùa bị bỏ hoang tàn. Không bao lâu nhà Lê mất, Thăng Long mất vị trí là kinh đô.
Năm 1955, sau khi được phục dựng, chùa Một Cột được coi như biểu tượng của Hà Nội trong nhiều thập kỷ. Chỉ từ khi đổi mới đến nay ý nghĩa đó mới phai nhạt dần. Được biết, trong khi tiến hành xây dựng lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý kiến muốn phá bỏ chùa Diên Hựu - Một Cột…May sao điều đó đã không xảy ra! Tuy nhiên đáng tiếc chùa đã bị lấn át mất hẳn vị thế vốn có của nó.
5. Ý kiến:
Qua những gì đã trình bày ở trên, theo chúng tôi, chùa Diên Hựu - Một Cột không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa quan trọng của kinh đô – thủ đô Thăng Long – Hà Nội mà còn là một biểu tượng tâm linh của ngàn năm Thăng Long. Do đó, việc trùng tu chùa Diên Hựu – Một Cột là vô cùng cấp thiết, và phải là một cuộc đại trùng tu để đưa chùa Diên Hựu – Một Cột trở lại nguyên diện mạo ban đầu của nó. Tuy nhiên cuộc đại trùng tu này không thể được tiến hành một cách vội vàng chộp giật như đã từng làm ở các di tích khác. Do trùng tu sửa chữa tùy tiện không cần đến ý kiến của các nhà chuyên môn, chỉ cốt nhắm tới cái lợi trước mắt, chúng ta đã mất đi hàng loạt các ngôi chùa quý giá quanh Hồ Tây như Trấn Quốc, Kim Liên, Tây Hồ, Tảo Sách, Trích Sài, Võng Thị …cùng rất nhiều di tích quý giá khác trên khắp đất nước từng góp phần tạo nên nét đặc thù cho bộ mặt văn hóa tinh thần của người Việt Nam. Để chùa Diên Hựu – Một Cột trở lại đúng với tầm vóc của nó, hãy thận trọng trong đợt trùng tu này, cần tham khảo ý kiến đóng góp của những nhà chuyên môn thực thụ, sử dụng kinh phí thật thích đáng. Nếu chưa đủ điều kiện làm lớn, chúng ta chỉ nên sửa chữa nhỏ, chờ khi có khả năng thật sự hãy làm, đừng vội vã kẻo di họa cho hậu thế.
T.K.A
Tiết Trùng Dương năm Tân Mão 2011
*Bài viết do nhà nghiên cứu Trần Kim Anh viết và gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện -Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!
Nhãn:
Di sản,
kiến trúc,
phong thủy,
Thăng Long,
Trần Kim Anh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






