Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Ngọc Kha. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Ngọc Kha. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

ĐẠO DIỄN TRẦN VĂN THỦY VÀ BỘ PHIM TÀI LIỆU TỪNG BỊ CẤM

Đạo diễn, NSND Trần Văn Thủy
và bộ phim tài liệu từng bị cấm 

Trần Ngọc Kha 

Trong ký ức tôi thời còn là sinh viên, "Hà Nội trong mắt ai" là một bộ phim bị “cấm". Hồi đó một đứa trong chúng tôi có bố công tác trong Bộ Nội vụ (cũ) - Bộ Công an bây giờ. Nhờ nó mà chúng tôi lọt được qua cổng Bộ này, 15 Trần Bình Trọng, xem trọn vẹn bộ phim. Cảm xúc của lũ chúng tôi bấy giờ chuyển từ ngạc nhiên, sửng sốt đến bái phục, ngưỡng mộ. Sao không ngạc nhiên, sửng sốt được khi tự nhiên bỗng dưng xuất hiện một bộ phim một mình một giọng như vậy? Sao không bái phục, ngưỡng mộ khi những người làm phim đã dám nói những điều ngay thẳng, lại hay đến vậy? Và bất chấp lịch biểu học hành, nhiều lần sau đó, cứ có cơ hội là chúng tôi lại đi "xem chui" bộ phim này, không chán. Không chỉ trong giới sinh viên, đi đến đâu, gặp bất kỳ ai người ta cũng xôn xao, bàn tán về bộ phim. Mọi người đều chung một câu hỏi: tại sao nó bị "cấm"?

Thực ra, không có bất kỳ một văn bản nào do ai ký ra lệnh cấm lưu hành bộ phim này. Nhưng dường như chỉ sau một thời gian rất ngắn, chừng vài ba tháng thôi, từ sau khi nó được phát hành thì phải, không một ai dám công khai chiếu hoặc xem tiếp bộ phim. Và, một lẽ thường tình, đạo diễn bộ phim, ông Trần Văn Thủy, lập tức bị hầu hết mọi người, kể cả những đồng nghiệp thân cận nhất cô lập, ghẻ lạnh. Cố nghệ sĩ Phạm Hà có lần đã hỏi thẳng ông: "Ở! Cậu chưa bị bắt à? "...

Chuyện xảy cách đây gần 30 năm, chính xác là đầu năm 1982, khi Trần Văn Thủy còn rất trẻ. Ông Thủy không những đã được “cứu” thoát khỏi tình cảnh này mà còn được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Những người từng “có duyên nợ”, “ân oán” với ông và bộ phim này hồi ấy nay phần nhiều đã đi vào quá vãng. Tuy nhiên, với ông Thủy, dường như mọi việc chưa qua. Có gì như nghèn nghẹn nơi ông khi có dịp nào phải nhắc lại chuyện này với ai. Và có gì như ngài ngại khi ai đó đương chức đương quyền khi buộc phải nhắc đến chuyện này. Ngõ hầu góp phần đặt dấu chấm hết cho câu chuyện, tôi tìm đến ông.

Không khó khăn gì khi muốn tìm số máy điện thoại của ông. Chỉ cần một cú bấm máy gọi số 116, hỏi số điện thoại nhà ông là ra. Nhưng, dễ phải đến lần thứ 5 nhấc máy, tôi vẫn chỉ nhận được một câu trả lời: "Chuyện ấy - (chuyện làm phim này - t/g) đã qua lâu rồi, tôi không muốn ai gợi lại nữa". Bất quá, tôi đành mạnh dạn bấm chuông nhà ông. Rất may hôm nay cái điệp khúc kia của ông không lặp lại. Chỉ sau ít phút làm quen, ông đã hào hứng tiếp tôi một mạch đến quá trưa, không dứt.... “Là chỉ để nói chuyện chơi thôi chứ đừng có đăng báo chí gì đấy!” - ông giao hẹn trước khi nói.

Với phim "Hà Nội trong mắt ai", lúc đầu ông định làm chơi, làm cho nó xong, cho nó tròn bổn phận của một người làm công ăn lương. Bởi vì cả năm 1981 ông không làm được gì. Năm 1980, ông giành được một cái giải khá lớn bằng phim "Phản bội", làm chấn động trong nước và thế giới. Cho nên làm cái gì cũng khó, ông phải chần chừ. Cuối năm ấy bình bầu Lao động tiên tiến, Chiến sĩ thi đua, Đảng viên bốn tốt... ông không có cái gì, nghĩ cũng ngượng. “Mình nghĩ: thôi thì làm cái gì đó cho nó có việc, cuối năm cho nó đỡ phiền” - ông bộc bạch. Thế rồi...

Hồi đó ông được nhận một kịch bản phim "Hà Nội năm cửa ô" viết về Hà Nội du lịch, về phố cũ, phố mới, chùa triền, lăng tẩm, khéo tay hay làm... Soi xét nó lại với thực tế cuộc sống, ông thấy ta mất mát quá nhiều. Vào những năm đầu thập kỷ 80, Hà Nội điêu linh, đói kém, khó khăn lắm, chúng ta đang còn phải ăn bo bo. “Mình thấy cái kịch bản này không thể làm được. Nếu làm bộ phim này lúc ấy thì chỉ có đóng mà thôi, lấy đâu ra quần chùng, áo dài...” - ông kể. Kịch bản phim có nhiều chi tiết liên quan đến sử sách, phải đi kiếm sách đọc, đi điều tra. "Ngôi nhà 80 - 82 phố Hàng Gai, nếu đang đi giữa cái nắng choáng ngợp của phố phường mà ta bước chân vào ngôi nhà cổ này, có những cái gác xép cửa lùa, có tiếng chim gù trên mái ngói thì lòng ta tĩnh lại". Kịch bản viết là thế, nhưng đến đây ông thấy một bên là cửa hiệu thêu, một bên là trụ sở HTX. Ông hỏi chủ nhà: "Cái nhà này đã sửa lại từ bao giờ?"(Vì nó giống như tất cả các nhà cửa, phố xá, cửa hàng cửa hiệu lúc bấy giờ), rồi đọc cho ông ta nghe đoạn kịch bản này. Vị chủ nhà hỏi lại: "Người viết những dòng này bao nhiêu tuổi? ". Ông đáp: "Cỡ bằng tuổi cháu". Vị chủ nhà tiếp: "Thế thì anh ấy chép ở đâu ra ấy chứ. Năm 1945, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bọn Tây ở bên kia, bọn tôi ở bên này đã bắn nhau chí chát thì cái nhà nó đã thế này rồi, làm gì có cái cảnh như các anh viết trong đó đâu". Đến ô Quan Chưởng tìm Văn bia của Tổng đốc Hoàng Diệu, đến gặp ông Nguyễn Vinh Phúc, gặp cụ Trần Huy Bá ông mới bừng tỉnh ra một điều: những giá trị tinh thần của dân tộc thì tồn tại vĩnh cửu. “Thế thì thôi, đừng làm làm cái đẹp về mặt cảnh quan khi nó không còn, không có nữa. Hãy tìm đến những cái có thật, đích thật, rất cần cho đời nay - những giá trị tiêu biểu cho cách trị nước yên dân như thế nào” - Đạo diễn Trần Văn Thủy rút ra sau những đắn đo suy tính. Và lúc này, vào cái thời điểm đầu những năm 80 ấy, những điều này cần thiết biết bao! Xót xa với hiện thực của dân chúng thế nào, trọng dụng nhân tài ra làm sao?... Ông đã liệt kê ra giấy như vậy sau tất cả những sự đọc sách, điều tra. Quan niệm của ông là làm phim tài liệu không chỉ đúng và đủ. Đúng và đủ là những chuẩn mực của các công trình nghiên cứu khoa học, của các nghị quyết. Nếu chỉ có vậy, người ta không xem thì cũng... vứt! Muốn cho người xem “tiêu hoá” được thì chúng còn phải hay nữa. Bởi thế cho nên muốn cho bộ phim có tính kịch thì phải sắp xếp lại những tích tuồng hay nhất mà các tiền nhân chúng ta để lại. Và, nhiều chuyện hay đã được ông đưa vào phim. Chuyện Tổng đốc Hoàng Diệu đặt tấm Văn bia ở Ô Quan Chưởng cấm các chức vị quan trường không được sách nhiễu dân lành làm ăn sinh sống ở đây như thế nào, chuyện vua Lê Thánh Tông dựng Đình Quản Văn ra làm sao, chuyện Quang Trung sau khi chiến thắng lẫy lừng trên sông Rạch Gầm đại phá quân Xiêm vào thành Thăng Long thăm vua Lê Cảnh Hưng, ông vua già mất quyền đã lâu rồi thế nào... Phép nước bấy giờ quy định lên Điện không được đem vũ khí. Quang Trung quyên mất điều đó, cứ thế đeo kiếm phăm phăm bước lên Thềm Rồng. Tất cả mọi người xanh mắt sợ, riêng chỉ có một mình Phương Đình Pháp, một viên quan lễ tân của triều đình đứng ra vòng tay trước mặt Quang Trung thưa lại với ông điều này. Quang Trung trừng mắt nhìn thẳng vào mặt Pháp. Pháp vẫn điềm nhiên. Thế rồi thấy phải, Quang Trung bỏ kiếm, bước lên Điện. Câu chuyện chỉ có thế nhưng ông Thủy cũng thấy rằng: trong mắt Quang Trung lúc bấy giờ, quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình điều phải trái. Ngày nay, trong Chùa Bộc, Hà Nội, còn lưu giữ được một bức tượng. Trên đầu bức tượng đề chữ Tâm. Tất cả các nhà nghiên cứu đều không biết được bức tượng này thờ ai. Sau này cụ Trần Huy Bá đã phải mất rất nhiều công phu, đặt giấy bản vòng ra đằng sau bức tượng, dùng than chà. Tờ giấy hiện lên: "Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng". Tức là, đúng vào năm mà Gia Long chống anh em nhà Tây Sơn một cách kịch liệt, tàn sát, huỷ diệt tất cả những gì của họ thì dân chúng vẫn dựng tượng Quang Trung. "Hà Nội trong mắt ai" ra đời và đã tập hợp những chuyện như thế!..

Ngay từ lần chiếu đầu tiên bộ phim để trình duyệt, theo ông Thủy, Ban giám đốc hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương đã “Thấy nó có gì không ổn". Họ liền mời những người được coi là trọng trách nhất trong lĩnh vực tư tưởng, văn hoá nước ta xem. Xem xong, các vị này đều kết luận ngay rằng phim "Có vấn đề"! Anh em trong cơ quan đến lúc này vẫn chưa người nào, kể cả đồng chí Bí thư đảng uỷ, được xem. Rồi phim được bí mật chiếu cho một số người được coi là "cấp trên" xem. Rốt cuộc, Giám đốc hãng phim Lý Thái Bảo trả lời ông Thủy: bộ phim không được chiếu (!).

Thực ra, theo ông Thủy, đó là do có một số người xem phim xong tự vơ vào, vận vào mình mà cho rằng bộ phim này chống Đảng, dậy Đảng cầm quyền, kêu gọi mọi người “xuống đường” (?!). Chẳng qua là có thể họ "có tật giật mình". Trong đó có một nhà thơ từng có quan hệ rất thân thiện với ông Thủy từ cuối những năm 60, khi ông mang phim từ chiến trường ra, chiếu tại nhà cho hai vợ chồng họ xem. Nội dung phim có một chi tiết mà nhà thơ đã hiểu lầm. ấy là đoạn nói về bà Huyện Thanh Quan xưa ở làng Nghi Tàm (Hà Nội), theo chồng đi làm quan xa tại miền Trung. Rồi một hôm, ông Huyện đi vắng, bà nhận được mớ đơn kiện trong đó có đơn của chị Nguyễn Thị Đào xin cải giá vì chồng đi lính thú (ra biên ải) lâu ngày. Nhớ cảnh Tây Hồ, thương cảm cô Đào, nhà thơ mạnh dạn phê vào đơn: "Phó cho con Nguyễn Thị Đào / Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai...". Đào được đi bước nữa. Nhưng chẳng bao lâu sau, chồng cô trở về phát đơn kiện. Ông Huyện mất chức. Lời bình phim viết: "Thế mới biết cái máu me văn nghệ dính vào việc quan trường gây ra nhiều sự rắc rối là thế!". "Là một nhà thơ lớn - ông Thuỷ nói tiếp - nhưng vị này tự vận mình vào chuyện của bà Huyện Thanh Quan thì buồn cười quá. Bà sống trong một giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác. Ông ta có "máu me" văn nghệ nhưng không nhiều, "máu me" quan trường, máu me chính trị của ông mới nhiều chứ! ". Hay đoạn nói về Lê Thánh Tông dựng Đình Quản Văn, trong đặt trống Đăng Văn cho dân chúng đến kêu oan. Phim liên tưởng: giá như thời Lê Mạt cũng có một cái trống như vậy thì tại đây dân chúng sẽ phải đinh tai nhức óc. Đó cũng là nói chuyện xưa, những tích tuồng trị nước yên dân. Nhưng không may cho ông Thủy, có người lại nói chuyện xưa sao nó lại giống hiện thực hồi đó đến thế! Tại sao Nguyễn Siêu lại cho dựng Tháp Bút bên Hồ Gươm? Tại sao Tổng đốc Hoàng Diệu lại cho đặt tấm bia kia ở Ô Quan Chưởng?... Trong 38 năm cầm quyền của Lê Thánh Tông, đất nước thịnh trị. Xây dựng bộ Luật Hồng Đức, thành lập Hội Tao Đàn, viết Đại Việt sử ký toàn thư, dựng Bia Văn miếu - có vị vua nào làm được lắm việc lớn như ông này không? Mà đến khi cái Điện Huy Văn, nơi bà Ngô Thị Ngọc Giao đẻ ra vua Lê Thánh Tông xiêu vẹo, đổ nát, người ta đã dọn nó đi để làm trụ sở UBND phường. (Vào cái thời điểm đó người ta vẫn còn phá hoại đình chùa). Tất cả những điều đó đều chẳng đáng kể ra vào lúc này hay sao?

Ông Thuỷ nhớ lại dạo ấy, có lần, bộ phim đã được chiếu đi chiếu lại tới bốn lượt trong một buổi sáng tại Quân uỷ Trung ương - chuyện lạ chưa từng có. Sau đó, Uỷ ban Khoa học xã hội phải tổ chức cả một cuộc toạ đàm "nghiên cứu" bộ phim, có các đại biểu của Viện Sử học, Viện Triết học, Viện Hán nôm cùng tham gia. Không một ai ở đây có thể tìm ra bất kỳ một sai sót nào của bộ phim, kể cả cái những cái "chốt" của bộ phim - ông Thuỷ tâm sự – như đoạn nói về Lê Lợi. Nguyễn Trãi, người quê làng Nhị Khê nhưng lại sinh thành ở Hà Nội. Tâm huyết suốt đời cho sự tồn vinh của đất nước và với thân phận của những người dân, ông từng đặt bút: "Chăn lạnh vắt vai đêm chẳng ngủ /Suốt đời ôm mãi nỗi lo dân". Từng được ông cùng Trần Nguyên Hãn "nếm mật năm gai" phò suốt 10 năm là thế nhưng khi được lên ngôi, vị vua này nghi kỵ các quan cận thần, đã phế truất cả Nguyễn Trãi, Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn.

Sử còn chép rằng vua Lê từng hỏi Nguyễn Trãi: “Viết quốc nhạc sao cho phải?”. Nguyễn Trãi thưa: “Tâu bệ hạ! Nguyện xin bệ hạ thương yêu nuôi dưỡng lấy dân chúng cho trong xóm ngoài làng không còn tiếng oán hận sầu than. Đừng vì ơn riêng mà thưởng bậy, chớ vì mình giận mà phạt bừa. Đó chính là cái gốc của quốc nhạc vậy!”.

Có nhà nghiên cứu lịch sử của Học viện Chính trị Nguyễn Ái Quốc quê Thanh Hoá phản đối ông Thủy ầm ầm rằng: "Lê Lợi của chúng tôi chưa bao giờ được miêu tả như thế! ". Người ta tranh cãi về những đoạn như thế này rất dữ, rằng phim đã ám chỉ ông này, ám chỉ ông kia bây giờ... Và, bắt đầu từ đấy, không còn ai dám nhắc đến việc tiếp tục cho chiếu bộ phim này nữa...

“Cho đến năm 1985, mình không còn cái gì nữa - ông chua chát kể lại - cả điều kiện làm việc, miếng cơm manh áo, quan hệ bạn bè, tất tật. Vợ mình bảo mình điên. Bạn bè cũng nói mình vậy. Mẹ mình khóc và nói với mình rằng: “Con ơi! Sao cái nghề của con nó khổ thế!”. Nỗi khổ nhất lúc ấy là sự cô đơn. Bạn bè đồng nghiệp lên cơ quan bảy rưỡi, tám giờ có mặt tề tựu đông đủ và rất lo lắng cho mình đã bị bắt hay chưa. Báo Tuổi trẻ phỏng vấn tôi trong những năm mà "Hà Nội trong mắt ai" bị "cấm", ông làm cái gì?”. Tôi đã trả lời với họ rằng: “Trong những năm nhàn tản không có việc làm này, tôi đã đến những nơi mình từng đến quay phim, những nơi mà chúng tôi đã từng đến quay phim để thắp hương và chiêm nghiệm như mộ ông Ngô Thì Nhậm ở làng Tả Thanh Oai, mộ bà Đoàn Thị Điểm, mộ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê, nơi thờ phụng Lê Thánh Tông ở Điện Huy Văn... Và, tôi thắp hương trên bàn thờ tổ tiên nhà mình. Mỗi lần như thế, tôi thường lẩm nhẩm một câu thành tiếng rằng: Thưa các bậc tiên liệt, con có tội tình gì không, khi con chỉ khắc khoải kể về những sự anh linh của dân tộc này? Nhìn lên bàn thờ tôi thấy những nén hương sau khi cháy cứ cong lên như râu rồng"...Tôi mừng, vì mẹ tôi thường bảo rằng: “Thắp hương trên bàn thờ, sau khi thắp hương mà những nén hương cong lên là linh ứng đấy!”.

Bộ phim không được chiếu! "Tại sao vậy? Xin các anh chỉ bảo cho tôi những chỗ không phải, những chỗ sai để chúng tôi có thể sửa" - bằng một giọng rất mếm mỏng, rất "đàn em", hồi đó ông Thuỷ khẩn khoản. Ban Giám đốc hãng phim kính chuyển nguyện vọng này của ông lên các vị lãnh đạo tư tưởng văn hoá. Họ đồng ý cho sửa chữa bộ phim. Nhưng, khi được hỏi cần phải sửa chỗ nào, một trong số các vị này đã thốt lên: "Đây là một bộ phim sai, sai đến mức không thể sửa được!". Sai đến mức như thế có nghĩa là nó đúng! - ông Thủy nghĩ.

Cùng kíp làm bộ phim này có anh Lưu Hà, con trai ông Lưu Xuân Thư, Phó giám đốc hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương hồi bấy giờ. Hà đang là sinh viên năm cuối của Trường Sân khấu điện ảnh. Đây là bộ phim đầu tay mà anh bấm máy, cũng được coi như là bài thi tốt nghiệp của anh. Ông bèn nghĩ ra một kế “xui” Hà đề nghị nhà trường đứng ra tổ chức chiếu bộ phim này ở Cung Thiếu nhi, để "cho sinh viên báo cáo tốt nghiệp". Danh sách mời có các học giả, các nhà nghiên cứu, các trí thức lớn, các cục, vụ, viện. Trong đó có cả các thầy giáo của nhà trường đến dự. Thời kỳ này, Cung Thiếu nhi là địa điểm chiếu phim sang nhất ở Hà Nội với quy mô hơn 500 chỗ, màn ảnh cực trắng, ánh sáng cực mạnh. Ơn trời! Kế họach này được chấp thuận. Khán giả đến chật cứng các hàng ghế của hội trường 500 chỗ. Họ reo hò, vỗ tay tán thưởng ầm cả rạp. Sau buổi chiếu, Ban giám đốc hãng phim cho gọi ông Thuỷ lên hỏi: "Bây giờ ý Thuỷ thế nào?". Ông đáp: "Thưa các anh! Nếu như tôi viết một cuốn sách, hay vẽ một bức tranh thì việc thưởng, phạt chỉ là của riêng tôi. Nhưng đây là một bộ phim, nó ra đời không chỉ bởi cá nhân tôi mà là do cả tập thể làm phim, là của cả hãng phim. Bởi vậy, xin các anh lưu ý cho một điều rằng: nếu cái phim này nó hay, nó bán được bản quyền, được khen thì là chung của hãng. Nhưng nếu nó dở, nó có tội thì các anh cũng nên công bằng. Nếu định đánh 100 roi thì chỉ nên đánh vào tôi 80 roi, rồi các anh phải bảo cấp trên đánh vào các anh một số roi, đánh vào ông Cục trưởng Cục Điện ảnh một số roi, đánh vào ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa một số roi... Chứ tại sao một cái phim hay, bán được bản quyền thì là của Nhà nước, còn cái phim "có vấn đề" thì tất cả 100 roi các anh đều đánh cả vào đít tôi?". Các vị lãnh đạo hãng phim lúc này đều ngơ ngác, thành thật: "Cậu nói phải! Nhưng mà bây giờ sửa thế nào?". Ông Thuỷ nói: "Sửa thế nào, đây là chuyện của các anh. Tôi thì tôi làm như vậy và tôi nghĩ như vậy. Và cho đến giờ phút này các anh hỏi tôi dù là theo trách nhiệm công dân hay trách nhiệm nghệ sĩ thì tôi vẫn tự hào rằng tôi, một công dân, đã làm một bộ phim như vậy. Con người ta khi có tà tâm thì không đàng hoàng được đâu, không lễ phép được đâu và cũng không tự tin được đâu. Cụ Hồ nói là phải biết lắng nghe ý kiến của quần chúng. Quần chúng đây tôi không dám nói đến những người ở ngoài đường. Ít nhất thì các anh phải chiếu cho các anh chị em trong hãng xem, những đồng nghiệp của tôi, để họ góp ý cho tôi hiểu cách làm phim tài liệu như thế nào, hiểu "cái vòng phấn" mà Đảng và Nhà nước đã "vẽ" cho chúng ta được "nhảy múa" trong đó như thế nào? Rồi anh chiếu cho Xưởng Phim truyện, chiếu cho Cục Điện ảnh, chiếu cho Xưởng phim quân đội, chiếu cho các hội văn học nghệ thuật để người ta góp ý cho chúng ta". Ban giám đốc hãng phim nghe thấy phải, và bắt đầu lên danh sách những người được mời xem phim, ở các xưởng phim, các hội văn học nghệ thuật, lên danh sách anh em trong hãng (kể cả anh em trong Nam)... Khi chiếu phim bao giờ cũng có người đứng canh ở cửa, đọc tên cho từng người vào một. Cho đến bây giờ, hẳn tất cả những ai đã từng tham dự vào vụ này đều còn nhớ, tất cả mọi người dù trong hay ngoài hãng phim, kể cả các cụ già như cụ Mai Lộc, cụ Khương Mễ sau khi xem phim xong đều thốt lên: "Sao cái phim như thế này mà lại bị “cấm” kia chứ?". Ai cũng khen hết, kể cả những người từng ghét ông Thuỷ ngày trước. Không một người nào kể cả các vị bên Viện Triết hay Viện Sử, Viện Hán Nôm... có thể tìm ra được bất kỳ một sai sót dù nhỏ nào trong bộ phim. Ông Thuỷ đã được họ "bênh"! Khi thông tin này loang ra, một lệnh bất thành văn được ban ra từ một cấp: không được chiếu bộ phim này dưới bất kỳ hình thức nào nữa (!!!). Tại một hội nghị phát hành phim trung ương có các đại biểu các tỉnh về họp, Cục trưởng Cục Điện ảnh bấy giờ muốn chiếu bộ phim này cho họ xem cũng không được phép. Đó là vào giữa năm 1983 - ông Thuỷ nhớ lại và nghĩ: mọi việc đã kết thúc. Liên tưởng đến một số vụ trước đây như “nhân văn giai phẩm”, “xét lại”... ông bắt đầu hết hy vọng thì...

Một hôm, bỗng nhiên có một cú phôn của ông Nguyễn Việt Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng gọi xuống đề nghị Hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương mang phim “Hà Nội trong mắt ai” lên chiếu cho Văn phòng xem. Dưới hãng phim, ông Bùi Đình Hạc, bấy giờ mới được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc hãng phim (thay cho ông Lý Thái Bảo sang làm Tổng Thư ký Hội Điện ảnh), trả lời: "Alô! không được phép đâu. Lệnh của cấp trên không được chiếu nữa". Ngày 15/10/1983, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng lại gọi xuống. Một lần nữa Giám đốc hãng phim Tài liệu khoa học Trung ương Bùi Đình Hạc lại từ chối lời đề nghị này với lý do là phim đang được cắt ra để sửa. Từ đầu dây bên kia, giọng nói đĩnh đạc của ông Dũng vang lên: "Chúng tôi biết rằng bộ phim ấy có thể chiếu được hay không chiếu được. Chúng tôi có chỗ để biết. Nhưng lần cuối cùng tôi báo cho các anh biết đây là chỉ thị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng". Ban lãnh đạo hãng phim lại hỏi ông Thuỷ: "Bây giờ ý cậu thế nào?". "Ối giờ ơi! Sao các ông lại hỏi tôi ý đó. Các ông là người có chức có quyền các ông phải hiểu được ông Phạm Văn Đồng là ai chứ! Nếu là ông Đồng mà các ông còn không chiếu cho ông ấy xem thì đất nước này nó còn ra làm sao nữa? Không mang phim lên chiếu cho ông ấy xem là không được đâu". Kết quả ý kiến này của ông Thuỷ đã được họ tiếp thu.

Kế hoạch mang "Hà Nội trong mắt ai" lên chiếu cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem đã được Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng ấn định vào lúc 3 giờ chiều ngày 18/10/1983. Ông Thuỷ đề nghị với Giám đốc hãng phim, ông Bùi Đình Hạc cho được đi cùng. Ông Hạc trả lời "Không được đâu! Làm sao mà đi cùng được. Vào đấy qua “cổng đỏ”, người ta điểm danh đấy". "Anh Hạc ơi! Anh cứ cho tôi đi cùng vì tôi muốn nghe bằng chính cái lỗ tai của tôi xem Bác nói gì. Tôi thề với các anh rằng nếu Bác nói điều phải, điều đúng thì mình phải nghe, phải sửa chữa. Còn nếu mình có làm điều gì không phải thì chắc chắn là Bác cũng thương mà chỉ bảo cho mình thôi". Mặc cho ông Thuỷ nói hết lời như vậy, Giám đốc hãng phim vẫn không đồng ý. Không từ bỏ ý nguyện, gần đến giờ hẹn, ông lén ngồi sẵn vào ghế sau chiếc xe con Lada màu trắng của hãng phim đang đậu bên bậc thềm và lẩm bẩm một mình: "Ngày xưa đánh nhau ở chiến trường khu 5, khẩu hiệu của chúng tôi là nắm lấy thắt lưng địch mà đánh. Nay tôi cũng phải nắm lấy thắt lưng anh thôi...". Kể đến đây, ông Thuỷ cười phá lên - nụ cười đầu tiên thoải mái hết cỡ xuất hiện trên gương mặt đã bắt đầu có vài nếp nhăn của ông, trong suốt hơn ba giờ đồng hồ mà tôi được gặp. Nước này, cuối cùng, Giám đốc hãng phim đành cho xe lăn bánh.

Đến Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng ở số 2 Bách Thảo, Hà Nội, không thấy ai ra kiểm tra danh sách mà chỉ có giọng người bảo vệ hỏi vọng từ trong chốt gác: "Xe nào đấy?". "Xe của xưởng phim vào chiếu phim cho Bác Đồng xem đây". Tiếng người bảo vệ lại vọng ra: "Vào đi! ". Thế là lọt. “Đấy, có ai điểm danh, kiểm tra gì đâu” – Ông Trần Văn Thủy bảo với ông Bùi Đình Hạc.

Ông Thuỷ bê 5 hộp phim vào ngồi chờ trong phòng khách. "Bác Đồng đang tiếp Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, ông A -li-ep. Các anh chờ, một lát nữa bác xuống" - có người ra thông báo. Tự dưng Thuỷ bỗng thấy lo lo. Gần 30 phút sau ông Phạm Văn Đồng xuống. Trời tháng 10, chưa lạnh lắm nhưng bác đã phải mặc chiếc áo khoác màu đen bằng dạ. "Trông thấy chúng tôi, tự nhiên mặt ông Đồng đanh lại tỏ ý bực mình lắm”. "Muốn xem một bộ phim mà khó thế à? Nếu mà khó quá thì thôi tôi không cần nữa, tôi không phiền các anh nữa" – Ông Đồng dằn giọng nói như vậy sau khi đã phải chờ đợi giờ phút này chừng nửa tháng rồi, kể từ hôm đầu tiên ông yêu cầu hãng đem phim lên chiếu. Ông cứ chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong sân mà không vào phòng chiếu. Linh tính mách bảo Trần Văn Thủy một điều gì, rằng Thủy đang gặp may. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Việt Dũng đỡ lời cho đoàn làm phim rồi mời Thủ tướng vào. Thủ tướng ngồi xuống một chiếc ghế mây. Đạo diễn Trần Văn Thuỷ đứng vòng tay trước mặt bác nghẹn ngào nói: "Thưa bác! Bác cho phép cháu thay mặt anh em trong đoàn làm phim được bày tỏ lòng biết ơn đến bác. Cháu rất xúc động vì việc nước bận như vậy mà Bác vẫn bớt chút thì giờ... ". Nói đến đây ông Thuỷ nghẹn ngào đến lạc cả giọng đi. "Cháu ngồi xuống đây! Cháu ngồi xuống đây! ". Nghe giọng nói ân cần của Thủ tướng, ông Thuỷ thấy mình được bình tâm trở lại. Bác phải cầm tay kéo Thuỷ ngồi xuống bên phải mình; bên trái bác là Giám đốc hãng Phim Bùi Đình Hạc. Phim bắt đầu chiếu. Sau mỗi một "chốt" phim như đoạn Tô Hiến Thành dùng người như thế nào, đoạn vua Lê Thánh Tông cho dựng đình Quảng Văn trong có đặt trống Đăng Văn để dân chúng đến kêu oan ra sao, rồi đoạn nói về nỗi oan khuất của Nguyễn Trãi v.v..., bác lại nhổm dậy dịch chuyển ghế. Cứ thế, bác lặng lẽ lặng lẽ xem cho đến hết bộ phim.

Phim hết. Đèn trong phòng đã bật sáng. Bác vẫn ngồi, đầu vẫn cúi xuống, tay đặt lên trán, bất động. Tất cả mọi người xem phim đều cùng im lặng. Một lát sau, Bác ngẩng đầu quay sang Đạo diễn Trần Văn Thuỷ, hỏi: "Những ai đã được xem phim này và họ đã nói những gì về nó? ". "Thưa Bác! Bác hỏi cháu thế cháu khó trả lời lắm. Vì nếu cháu trả lời bác thì có thể không khách quan. Có rất nhiều người ủng hộ, tán thành nhưng họ lại không có quyền phán xét gì về bộ phim này. Xin phép Bác để cho anh Bùi Đình Hạc là giám đốc của cháu được trình bày với Bác". Bác quay sang phía ông Hạc. Ông hạc thưa: "Thưa đồng chí! Đây là bộ phim được các đồng chí có trách nhiệm đánh giá là một bộ phim có vấn đề, mượn xưa để nói nay. Đây là bộ phim không cùng Đảng để giải quyết những khó khăn hiện nay mà nuối tiếc những quá khứ phong kiến ngày xưa và gieo rắc vào thực tại quần chúng đảng viên những bi quan, hoài nghi và tiêu cực…". Rất tiếc rằng đến lúc này mà ông Hạc vẫn không hiểu được bác Đồng đang nghĩ gì. Cuối cùng, ông Hạc nói: "Thưa Đồng chí! Những người có trách nhiệm kết luận rằng tác giả bộ phim này chỉ là một nghệ sĩ chứ không phải là một nghệ sĩ cách mạng". Bác hỏi: "Ai nói như vậy? ". Giám đốc hãng phim Bùi Đình Hạc nêu tên ba vị lãnh đạo cấp trên thời đó. Trong khi ông Hạc nói, ông Thuỷ như bị kim châm, cứ nhấp nha nhấp nhổm đứng lên, ngồi xuống, đến mức ông Nguyễn Việt Dũng ngồi bên cạnh phải vít vai mấy lần ông mới im lặng được. Đoạn bác quay sang ông Thuỷ: "Cháu có ý kiến gì nữa không?". Ông Thuỷ đứng lên thưa: "Thưa bác, cháu đã nhường lời cho anh Hạc. Và anh Hạc đã nói những lời cháu không nghĩ như thế. Cháu chỉ muốn thưa với bác rằng: nếu bộ phim này có gì sai lầm thì đó chỉ là do lực bất tòng tâm chứ bụng dạ chúng cháu không nghĩ thế. Thưa bác! Khi chúng cháu đến mộ bà Đoàn Thị Điểm thì thực sự lúc này nó chỉ còn là một đống rác. Và chúng cháu đã phải thuê dọn cái đống rác này đi mất nửa ngày. Rồi xin một chút nước vôi quét lên tấm bia mộ của bà, mượn một số chậu cảnh quanh đó bày đặt quay phim để khỏi mang tội bất hiếu với tiền nhân...". Được ngồi bên Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc này, linh cảm mách bảo với Đạo diễn Trần Văn Thuỷ rằng: trong cơn bão tố cuồng phong mà mình đang đi, ông đã tìm được một cái hang an lành để trú ngụ. Cuối cùng bác nói: "Tôi cũng không nghĩ rằng sự thể nó lại quan trọng đến mức này". Rồi bác phân tích cho mọi người hiểu đoạn nói về Nguyễn Trãi trong phim là có thật trong lịch sử và là nói về thân phận của Nguyễn Trãi chứ không chủ ý nói về Lê Lợi. Từng đoạn, từng đoạn khác như thế của phim cũng được bác phân tích rất cặn kẽ. "Tôi kinh ngạc về trí nhớ tuyệt vời của bác. Bác mới chỉ xem phim có một lần trong khi trăm công nghìn việc đang chờ đợi" - ông Thủy thốt lên với tôi. Rồi bác kết luận: "Ý kiến thứ nhất của tôi là: nếu đã là anh em cùng làm văn nghệ với nhau thì phải biết thương yêu, bảo vệ, bênh vực lẫn nhau. Các anh mà không biết bênh vực cho nhau thì còn ai bênh vực các anh? Ý kiến thứ hai của tôi mong các anh ghi nhận và anh Dũng ghi vào biên bản để gửi sang Văn phòng Ban Bí thư: Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt! Chiếu ngay lập tức! Nếu sau này phát hiện ra cái gì sai thì chỉnh sửa". Đoạn quay sang ông Thuỷ, bác lại ân cần cầm tay ông: "Bác dặn riêng cháu điều này: cháu phải nhớ, khi nào cần cháu phải gặp bác, tìm mọi cách mà liên lạc với bác. Chỉ có cháu mới chủ động chứ bác không thể chủ động liên lạc với cháu được".

Cũng nên nhớ lại rằng, vào thời gian đó, diễn ra Đại hội Hội Nhà văn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến dự và gửi lời chào đến các đại hội các hội văn học nghệ thuật khác (do Bác không có điều kiện đến dự). Nhưng, phải chăng do bức xúc trước cách đối xử của một số người đối với bộ phim này như thế mà sáng sớm ngày 20.10.1983, ngày khai mạc Đại hội Hội Điện ảnh toàn quốc lần thứ II tại Cung Thiếu nhi, tức là chỉ 2 ngày sau khi bác xem phim "Hà Nội trong mắt ai", bác đã bất ngờ đến dự Đại hội này. Ngay từ phút đầu tiên, bác bước lên diễn đàn Đại hội phát biểu với hơn 500 nghệ sĩ điện ảnh toàn quốc. Bài nói chuyện không cần giấy tờ của bác kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ. Bác đã nói rất kỹ, rất mạnh mẽ, rất sâu sắc, về cách thức quản lý, lãnh đạo văn nghệ: "Đừng bắt tất cả các anh em văn nghệ sĩ hiện nay phải chui qua một cái lỗ kim, theo một khuôn mẫu có sẵn!". Đến bây giờ, những ai có dịp được tham dự Đại hội này hẳn đều còn nhớ hình ảnh đầy ấn tượng, lạ lùng của bác khi bác quay người lại, hướng về phía Chủ tịch đoàn Đại hội rồi chắp tay vái lạy họ và nói rằng: "Tôi lạy các anh! Tôi xin các anh! Khi duyệt phim thì cố gắng rộng lượng như tôi". Cả hội trường lập tức vỡ oà bởi những tràng vỗ tay dài không ngớt. Ai nấy đều hiểu Bác đang nói về điều gì. Với Trần Văn Thuỷ, hôm ấy là một ngày hạnh phúc đến tột độ. Không giấu nổi xúc động, ông bật khóc. "Một phần thưởng tâm linh, vô cùng cao quý hơn bất kỳ phần thưởng nào khác trong đời đã đến với tôi" - ông nói với tôi, nước mắt giàn giụa.

Từ đó, bộ phim bắt đầu được công chiếu rộng khắp trong tất cả các cơ quan, các câu lạc bộ, các hội đoàn... cho các tầng lớp nhân dân xem. Hàng tuần liền, Rạp Tháng Tám và nhiều rạp khác ở Hà Nội tổ chức chiếu phim này ba ca trong một ngày thì trong cả ba ca chiếu, khán giả đã phải xếp hàng dài chen chân mới mua được vé. Nếu ở Việt Nam có ghi-net thì phải xếp bộ phim này vào hạng phim tài liệu "ăn khách nhất" từ trước đến nay. Đây là một hiện tượng khác thường vì cho đến lúc bấy giờ, phim tài liệu nước ta mới chỉ được chiếu "chùa", chiếu "kèm" vào đầu các buổi chiếu phim truyện, để tuyên truyền, cổ động. Tại Liên hoan Phim quốc gia tổ chức tại Đà Nẵng tháng 3/1988, bộ phim đã được bình chọn nhận giải Bông sen Vàng duy nhất thể loại phim tài liệu. Ngoài ra tại đây, nó còn được bình chọn giải phim biên kịch hay nhất, đạo diễn hay nhất, quay phim hay nhất. Nhưng, có lẽ giải cao nhất, vinh dự nhất cho bộ phim này là giải phim tài liệu được nhiều khán giả xem nhất. Mới hay ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Văn Đồng "cứu" bộ phim “Hà Nội trong mắt ai”, "cứu" đạo diễn của nó hồi ấy thật là sáng suốt và kịp thời. Và cũng từ đó ông Thuỷ bắt đầu bớt dần được những giấc ngủ thắc thỏm, những cơn ác mộng hằng đêm. Ngay sau hôm được gặp Bác Phạm Văn Đồng, ông Thủy ra một hiệu sách ở Bờ Hồ mua một tấm ảnh chân dung cỡ lớn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cất giữ cẩn thận. Ngày Bác mất, ông lập một ban thờ riêng, treo ảnh Người lên thờ và để tang Bác trọn ba năm...

Nhưng chưa hết. Phải đến khi đồng chí Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng Bí thư, bộ phim và ông Thủy mới thực sự được “cứu sống” hoàn toàn. Nhà Đạo diễn Trần Văn Thủy được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Cũng nên lưu ý một điều: nếu so với “Những việc cần làm ngay” hay những gì mà Đảng và Nhà nước ta thực hiện “cải tổ”, “đổi mới”, những sự kiện “bùng phát” ở Báo Văn nghệ, “đời” Tổng Biên tập Nguyên Ngọc, như hàng loạt bài viết về khoán 10, khoán 100, về cải cách ruộng đất, về “Cái đêm hôm ấy đêm gì?”..., hoặc xa hơn nữa là sự kiện văn chương tiểu thuyết “Cù lao Chàm” của Nguyễn Mạnh Tuấn hoặc hàng loạt vở diễn chấn động dư luận của Lưu Quang Vũ thì, về mốc thời gian, bộ phim “Hà Nội trong mắt ai” “đi trước thời đại”. Tiếp chuyện tôi, ông Thủy cho hay: Có lần ông nhận được một lời đề nghị ông viết đơn và làm hồ sơ để có thể được xét duyệt trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về bộ phim này. Ông khước từ lời đề nghị: “Tôi không bao giờ làm đơn vì việc này!”.

"Thưa các bác! Cháu nghĩ rằng nếu bộ phim này nó hay, được các bác tán thưởng, được ai đó chia sẻ, bảo vệ như Bác Phạm Văn Đồng thì cũng chẳng phải riêng tại cháu mà đấy là những vấn đề lịch sử do tiền nhân để lại. Mà nếu bộ phim này có làm ai đó bực mình, khó chịu, thậm chí phẫn nộ thì lỗi cũng không phải tại cháu. Cái hay, cái dở căn cứ vào lịch sử, cháu chỉ là người trình bày, sắp xếp những điều có thật đó, may ra có ích gì đấy cho hiện thực cuộc sống, xứng đáng với tiền nhân..." (trích bài nói chuyện của Đạo diễn Trần Văn Thuỷ tại cuộc gặp mặt với gần 1000 cụ cách mạng lão thành tại Câu lạc bộ Thăng Long, Hà, Nội năm 1983).

Hà Nội, 12.2006
* Văn bản đã được Trần Văn Thủy và Nguyễn Xuân Diện chỉnh sửa lại một số chữ ngày 11.1.2011.

 

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

Trần Ngọc Kha: SUY NGHĨ VỀ GẠC MA

SUY NGHĨ VỀ GẠC MA 
Nhà báo Trần Ngọc Kha
.
Những ngày này cách đây 25 năm, tôi cũng như hầu hết mọi người vẫn thản nhiên nói cười, thản nhiên tụng ca nhau với các nước láng giềng về tình hữu nghị. Cho mãi đến cả chục năm sau, tôi cũng như hàng triệu, hàng chục triệu người dân Việt Nam vẫn không hề hay biết, có một trận hải chiến Trường Sa giữa những người chiến sĩ hải quân ta với quân xâm lược Trung Quốc trên đảo Gạc Ma đã từng diễn ra vô cùng oanh liệt vào ngày 14/3/1088. 64 anh đã anh dũng hy sinh…

Thế hệ tôi rồi đến các con tôi cũng vậy. Cho đến những năm đầu thế kỷ 21, chúng tôi mới lờ mờ biết được. Sự thực là giữa lúc hòa bình đã và đang về trên khắp nơi trên đất nước, giữa lúc những thông tin bang giao hữu hảo với người láng giềng phương Bắc kia vẫn ngày ngày tuôn ra trên đầu môi chót lưỡi những nhà ngoại giao, những phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi đâu ngờ có ngày các anh lại phải chết thảm đến nhường kia! Chúng bắn các anh không run tay, cứ như hành động của những con rô bốt được lập trình từ trước đó. Chúng bắn vào những người lính Việt Nam không mang trên mình bất kỳ thứ vũ khí nào ngoài lá cờ Tổ quốc. Có cái gì nhói đau, như khi bị người thân phản bội lại mình. Có cái gì như là ân hận khi chúng tôi biết đến để tri ân các anh quá muộn…

Các anh không nói gì đâu, cả những người may còn sống sót. Chỉ có tiếng sóng biển vỗ bờ rì rầm, những cánh hải âu chao liệng thuật lại sự tình. Bài ca về những người lính đảo vẫn ngày ngày vang lên trên làn sóng điện. Những con chữ về Trường Sa, Hoàng Sa trên các tờ báo vẫn ngày ngày in ra đều đặn như những khúc ca của làn quan họ đến hẹn lại về. Có ai trong các anh nghe được? Có ai trong các anh yên lòng?...

Gạc Ma - khi hình ảnh cuối cùng của các anh kết thành vòng tròn bất tử bảo vệ bãi đá dưới làn đạn của kẻ thù đi vào lịch sử. Máu các anh đã thắm nhuộm lá cờ Tổ quốc. Gạc Ma - “Em yêu quý! Anh sẽ xin xuất ngũ… và chỉ ở nhà để giữ nhà cho em”. Gạc Ma - nơi cột cờ chỉ bị đổ khi Anh hùng Trần Văn Phương hy sinh. Gạc Ma - Khi những cô gái cầm hoa đi giữa phố Tràng Tiền nép mình bên người yêu trong lễ cưới, cô có biết gì về ngày hôm nao… Gạc Ma! Gạc Ma! Gạc Ma! Sẽ có ngày ta trở lại nơi này…

T.N.K

*Nhà báo Trần Ngọc Kha, báo Đại Đoàn Kết
Nhà báo Lê Đức Dục: 
TRONG VIDEO CLIP NÀY NHIỀU BẠN TRẺ ĐƯỢC HỎI HOÀN TOÀN KHÔNG BIẾT CÓ MỘT NGÀY 14-3-1988 LÀ NGÀY GÌ (!) -BẰNG CÁCH NÀY HAY CÁCH KHÁC, CHÚNG TA CÓ TRÁCH NHIỆM NHẮC NHỞ: BẠN KHÔNG THỂ QUÊN, TÔI KHÔNG THỂ QUÊN,CHÚNG TA KHÔNG THỂ QUÊN!
 
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Trần Ngọc Kha: VĂN GIANG KHÔNG LẺ LOI ĐƠN ĐỘC!

Văn Giang không lẻ loi, đơn độc!

Trần Ngọc Kha

Vào một ngày đẹp trời như hôm nay, người dân Văn Giang thuê hai chiếc xe ô tô đón hàng chục người khách từ mọi miền đất nước về thăm quê mình. Ngoài ra, họ còn dùng hàng chục chiếc xe máy kẹp đôi nhau đi “đón” và “hộ tống” chúng tôi. Đó là chưa kể còn mấy chiếc xe con các loại khác cũng tấp nập kéo về đây tụ họp. Và, họ đón chúng tôi như đón những người khách quý một cách thực lòng.

Xe chúng tôi đi giữa hai hàng cở đỏ sao vàng, những tràng vỗ tay dài không ngớt và những lời hoan hô dậy đất trời… Trên xe, nhiều bà con, cô bác vội lau nước mắt, hô lớn: “Cố lên! Cố lên bà con ơi…”. “Tư lệnh” ngành Văn Giang - cụ  Lê Hiền Đức, người từng bám trụ mảnh đất này cùng bà con đêm 23, rạng sáng ngày 24/4/2012, hôm nay cùng có mặt. Cụ vận bộ đồ người chiến sĩ công an năm xưa đầy rắn rỏi. Hàng trăm con mắt đổ dồn vào cụ, chạy theo mỗi bước chân cụ, tay nắm bàn tay gầy guộc của cụ, miệng cười rất tươi mà mắt đầy ngấn lệ. Cụ ôm chầm lấy mọi người và đáp lại không ngớt những lời quá đỗi thân thương của họ.

Dòng người cứ thế ùa theo nhau, dẫn nhau vào trong “hội trường”. Gọi là thế nhưng thực ra nó chỉ là một cái lều bạt được dựng lên rộng chừng hơn hai trăm mét vuông, ngay trước cổng HĐND, UBND xã Phụng Công, chiếm quá nửa con đường mà vẫn hẹp đến mức chỉ có thể kê vừa hai dãy bàn, như bày đám cưới. Hỏi ra mới hay, tuy hôm nay là ngày nghỉ nhưng mặc dù đã xin phép nhưng nhân dân xã này vẫn không được dùng cái trụ sở to đẹp, khang trang kia đón khách. Thấy vậy, cụ Lê Hiền Đức nối đóa lên: “Sao lại thế? Cái trụ sở kia (vừa nói cụ vừa trở tay hướng về phía trong HĐND, UBND xã) có phải của nhân dân ta, được làm từ chính những đồng tiền thuế của bà con hay không? Sao bà con không được đón chúng tôi ở đó?”. Tất cả đều ngậm ngùi, chia sẻ.

Cư dân mạng và những ai quan tâm đến mảnh đất vô cùng nóng bỏng vì buộc phải tiến hành khiếu kiện chủ đầu tư Ecopark 8 năm qua hẳn đều biết: Vì sao họ phải chi phí tốn kém mời mọi người đến đây? Và cũng không khó để trả lời một câu hỏi: Vì sao hôm nay không có bất kỳ một Đại biểu Quốc hội hay một quan chức nào của Đảng và Nhà nước này đến đây? Kể cả đội ngũ lãnh đạo địa phương cũng vậy.

Quả thực có dịp đến đây ta mới thấy vì sao mà nhóm người Ecopark quyết lấy cho bằng được mảnh đất này. Lướt lướt qua trước ống kính tôi là bạt ngàn những bờ xôi ruộng mật, những vạt vườn nhà sinh thái trù phú có một không hai trên đất nước này, những khang trang đường ngang, ngõ dọc… Chỉ có thể dùng những từ tốt đẹp nhất để ca ngợi một lợi thế vô cùng hấp dẫn về một miền quê lẽ ra chỉ có đẹp giầu, yên ả. Nhưng, ôi thôi! Chưa đủ ngấm vào mình những trầm trồ, ngợi ca đến tận cùng cảm xúc thì ruột gan chúng tôi đau như cắt.

Những “Bãi chiến trường”, theo như cách gọi của bà con, khi họ quyết “sống - mái” một lần với những người Ecopark ngày 24/4/2012 đây rồi. Nơi hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam bị lực lượng cưỡng chế đánh đây rồi. Cả nơi mà đêm trước ngày 24/4 ấy, bà con đốt lửa “canh chừng” lực lượng cưỡng chế nữa, cũng đây rồi. Tất cả như đang được hiện ra từ lời dẫn chuyện bất đắc dĩ của những người nông dân quanh năm suốt tháng chỉ biết ruộng vườn, no, đói, từ chính đất và người Văn Giang mà ta có thể cảm được từ mọi giác quan hôm nay, như những thước phim quay chậm. Nhiều người không khỏi nhăn mặt, uất ức thét lên những lời thóa mạ lực lượng cướng chế: “Họ không còn là người nữa!”.

Đoàn xe dẫn chúng tôi đi dọc những con đường nối văn Giang với QL 39 và nhiều con đường khác song song với nó, những con đường rộng rãi, khang trang đã và đang phát huy tác dụng cho địa phương này trong việc phát triển kinh tế, xã hội, quốc kế dân sinh. “Với những con đường hiện có như thế này thì tại sao lại phải cho Ecopark làm một con đường cao tốc “chiến lược” khác hoành tráng đến thế? Đó chỉ là xuất phát từ lợi ích của chính họ mà thôi” - Một trong những chủ nhà bức xúc nói.

Về đây hôm nay có nhiều người không quan hệ gì với Văn Giang nhưng họ chung một nỗi niềm với họ - bị đè nén, chịu bất công, thua thiệt một cách oan khuất. Và chính vì vậy mà về đây, ngay lập tức họ là anh em, là chị em thân thiết. Những cái bắt tay nắm chặt, bùi ngùi, những cái ôm chầm ướt nhòe nước mắt, thấm đậm bờ vai… đã xóa nhòa mọi khoảng cách, mọi lứa tuổi, hoàn cảnh sang, hèn. Về đây, dường như tất cả cảm thấy về quê mình, nhà mình thì phải… “Bà con hãy nghe lời tôi: Hãy đoàn kết, quyết tâm chiến đấu với bọn tham nhũng để giành giật lấy từng tấc đất này” - Lời Cụ Lê Hiền Đức vang lên nhiều lần trong những tràng vỗ tay dài không ngớt.

Sống mũi tôi cay cay. Lẽ ra bà con Văn Giang không phải vất vả, tốn kém để đón chúng tôi trong bối cảnh như vậy. Lẽ ra đất và người Văn Giang được chúng tôi biết đến và yêu mến bằng cách khác. Nhưng…

Nguồn: FB Trần Ngọc Kha.

Tin bên lề: Phiên toà xử côn đồ hành hung dân Xuân Quan mở lại ngày 30-11-2012.

 

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

DỰ ÁN ECOPARK: TRÁNH LUẬT MỚI, "CHẠY" THEO LUẬT CŨ VẪN KHÔNG TRÔI!

Dự án Ecopark - Văn giang:

Tránh luật mới, "chạy" theo luật cũ vẫn không “trôi”!

Chiều nay, 8/11, Tại hội trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trưởng, 83 - Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội, GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng này có cuộc tiếp xúc đối thoại với bà con các xã thuộc diện bị thu hồi đất ở huyện Văn Giang, thực hiện dự án Ecopark - Văn Giang (Hưng Yên), dự án do chính ông từng trực tiếp ký các văn bản thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khi còn tại vị.

Lý do cuộc đối thoại này là do gần đây, có một thư ngỏ của 9 người dân Văn Giang cùng Luật sử Trần Vũ Hải gửi GS Võ, được công khai trên mạng mà ông không nhận được trực tiếp. Trong thư có nói rằng nếu ông không gặp bà con trong vòng 1 tuần thì sẽ tố cáo, và cũng như mở cho ông một con đường là có thể trả lời bằng thư.

Mặc dù thời điểm hẹn gặp là 2h chiều nhưng từ rất sớm, đã thấy bà con đến rất đông, tụ tập quanh cổng của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT), tràn ra cả đường Nguyễn Chí Thanh. Tuy nhiên chỉ một số bà con được mời dự tại hội trường. Bà con mời Luật sư Trần Vũ Hải và cộng sự của ông đại diện tiếp GS Võ.

Thứ trưởng Võ làm theo “thông lệ” chứ không theo luật?

Ngay từ những phút đầu tiên, cuộc đối thoại đã được nóng lên bởi những câu hỏi, đáp của hai bên về nơi gửi của tờ trình số 99/TTr-BTNMT, ngày 29/6/2004 của Bộ TNMT là Thủ tướng Chính phủ. Trong khi đó, LS Hải dẫn ra các Nghị định của Chính phủ số 66, 68 và 91 đều quy định phải trình Chính phủ. Mặc dù vậy, GS “cãi” lại LS Hải rằng: từ 15/10/1993 đến 1/7/2004 đã có “thông lệ” như vậy. LS Hải mở ngoặc cho GS rõ: Luật Đất đai sửa đổi năm 2001 và Nghị định 66  quy định rõ: Thẩm quyền phê duyệt các dự án kiểu này không còn thuộc về Thủ tướng Chính phủ nữa mà thuộc về Chính phủ. GS Võ rơi vào thế bí nói: “Tôi nghe nói Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng phê duyệt dự án này”. Tuy nhiên, khi được hỏi bằng cơ đâu thì GS Võ không đưa ra được mà phải thừa nhận trong vấn đề này ông đã sai. Từ sai lầm này, ông Võ đã góp phần dẫn đến dự án Ecopark - Văn Giang được Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt sai thẩm quyền tại Quyết định số 742/QĐ-TTG, ngày 30/6/2004 mà ông cũng thừa nhận.

Tiến độ giải quyết thủ tục dự án nhanh đến chóng mặt vì... dân Văn Giang(!)

Dẫn ra một chuỗi những ngày từ ngày 27-30/6/2004, nguyên Thứ trưởng Võ đã cùng với nhiều người khác đã tham gia ký một loạt những văn bản thẩm định, tờ trình, quyết định thu hồi, giao đất, nhanh một cách kỷ lục từ trước đến nay, LS Trần Vũ Hải hỏi ông Võ: Vì sao vậy? Vị GS này nói một cách quả quyết: Cũng là vì dân Văn Giang mà thôi. Cái lý của ông rằng: Chính phủ chỉ đạo (ông cũng không đưa ra được văn bản nào) cần đẩy nhanh tiến độ phê duyệt dự án này trước thời điểm Luật đất đai mới 2003 có hiệu lực ngày 1/7/2004 vì đây là dạ án rất quan trọng. Nó sẽ giải quyết được việc đổi đất lấy hạ tầng làm con đường cao tốc nối cầu Thanh Trì (Hà Nội) với tỉnh Hưng Yên và làm đường 5b Hà Nội đi Hải Phòng, cũng qua Hưng Yên. Nếu chậm sẽ phải làm lại dự án từ đầu theo Luật Đất đai mới, phải lui mất từ 1-2 năm. Ông Võ nhấn mạnh: Tuy vậy, vẫn phải làm đúng luật. Tuy nhiên qua đối thoại đã bật ra sự thật rằng ông Võ đã có hàng loạt những sai phạm...

Thẩm định dự án không qua địa phương?

Từ trước đến nay nguyên Thứ trưởng Đặng Hùng Võ luôn khẳng định việc thẩm định dự án này, Hội đồng thẩm định do ông chủ trì đều thông qua các xã có thu hồi đất. Tuy nhiên, tại hội nghị này, một người dân của thôn Đại, xã Phụng Công là ông Phạm Hoành Sơn dẫn ra một ý kiến xác nhận của chủ tịch xã ông trả lời dân năm 2006 rằng cho đến thời điểm này ông không hề biết gì về dự án này.  Ông Võ trình ra cho bà con xem một bản sao được gọi là “biên bản thẩm định” nào đó có ghi đầy đủ người tham gia là lãnh đạo các xã, nhưng rất tiếc lại không có chữ ký của họ. 

Giao đất không cần quy hoạch?

LS Hải hỏi: Vậy căn cứ nào để Bộ TNMT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định thu hồi đất cho dự án này khi các xã bị thu hồi này không nằm trong quy hoach phải thu hồi? Ông Võ cho rằng tuy số đất này chưa có quy hoạch nhưng vẫn có thể có kế hoạch sử dụng đất như vậy. LS Hải bật cười rồi cá cược với GS Võ ai thua sẽ phải cung cấp nước cam cho hội nghị về căn cứ đúng, sai về trong vấn đề này, bởi theo LS Hải, từ trước đến nay, bao giờ kế hoạch sử dụng đất cũng phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất.

Nhập nhằng đất chuyên dùng thành đất ở?

Dẫn ra 500 ha “giao đất” tại dự án nói trên dành cho “quỹ tạo vốn xây dựng hạ tầng đô thị” dự án, ghi rõ trong tờ trình do ông ký là“đất chuyên dùng” (chứ không phải đất ở) LS Hải hỏi GS Võ: Như vậy là đúng hay không khi cho chủ đầu tư xây dựng nhà ở kinh doanh? GS Võ cho rằng ông đã “nhầm” khi để tên tờ trình như vậy mà đúng ra là thu hồi đất thôi. Thế thu hồi để làm gì? Làm đấu giá QSĐ hoặc đấu thầu dự án - ông Võ trả lời. Ông nói thêm: “Tỉnh trình cụ thể nhà đầu tư Việt Hưng, nhưng tôi ký tờ trình không cụ thể họ là ai mà chỉ có nội dung thu hồi đất như vậy thôi”. Có nghĩa là ông Võ không sai?

Lác đác có tiếng chép miệng thở dài, thất vọng. “Chắc ông Võ còn nhiều việc phải làm để giải quyết hậu quả dự án này, ít nhất ông phải có một tờ trình nữa gửi đến cơ quan chức năng để sửa chữa một số sai lầm” - LS Trần Vũ Hải nói.

Trần Ngọc Kha
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

NGƯỜI DÂN VĂN GIANG CÓ THỂ HY VỌNG GÌ Ở GS ĐẶNG HÙNG VÕ ?

GS Đặng Hùng Võ: Không có vấn đề “chạy” dự án Ecopark

đăng vào ngày 7 tháng 11 2012 lúc 12:39 

Chiều mai, GS Đặng Hùng Võ sẽ có cuộc đối thoại với bà con xã Văn Giang, Hưng Yên về những thắc mắc xung quanh vụ thu hồi đất ở 3  thôn: Xuân Quan, Phụng Công và Cửu Cao phục vụ cho việc triển khai dự án Ecopark. Xung quanh sự kiện này, GS Võ dành cho phóng viên báo Đại đoàn kết cuộc trao đổi như sau:

PV: Thưa GS, vì sao lại có cuộc gặp này? 

GS Đặng Hùng Võ: Thực ra tôi định gặp bà con từ lâu rồi nhưng Bộ TNMT có ý kiến rằng tôi về hưu rồi, mọi việc để Bộ lo. Gần đây, nhân LS Trần Vũ Hải có ý kiến và một cách không chính thức, tôi nghe phong thanh có thư ngỏ của ai chỉ trích khá gay gắt đăng trên mạng về trách nhiệm của tôi trong vụ này nên tôi quyết định gặp bà con ngày mai.

PV: Ông sẽ nói gì với bà con?

GS Dặng Hùng Võ: Bà con thắc mắc: Quyết định thu hồi đất dành cho dự án Ecopark thu hồi đất chưa đúng Pháp luật và các văn bản thẩm định, tờ trình, và quyết định thu hồi đất dự án này được hoàn thành nhanh chóng một cách khác thường, sát ngày hết hiệu lực Luật Đất đai 1993 (20/6/2004), có gì quá ưu ái đối với nhà đầu tư?

Thanh thiên bạc nhật mà nói thì thủ tục thu hồi đất của dự án này, tôi nhắc lại, không có gì sai pháp luật. Ngày 27/6/2004 Hội đồng thẩm định ký xong biên bản thẩm định. Ngày 28/6/2004 UBND tỉnh Hưng Yên ký tờ trình lên Bộ TNMT. Ngày 29/6/2004,  Bộ TNMT do tôi thừa lệnh Bộ trưởng ký tờ trình lên Thủ tướng CP và ngày 30/6/2004, Thủ tướng CP ký QĐ. Ở đây, không có vấn đề chạy dự án, mà thực ra, nó được khởi động từ năm 2002. Tuy ngày 27/6/2004, Hội đồng thẩm định ký duyệt dự án nhưng chúng tôi bắt đầu tiến hành thẩm định dự án này từ 3 tháng trước, thẩm định đến đâu đều có sự chứng kiến và ký nhận của lãnh đạo xã đó. Các ngày ký thẩm định, trình và quyết định dự án liên tục như thế đúng là dễ khiến mọi người nghi ngờ những người làm dự án có tư lợi gì ở đây không. Nhưng sẽ dễ hiểu nếu xem lại lộ trình. Thứ nhất đây là dự án có tầm rất quan trọng đối với tỉnh Hưng Yên khi thực hiện chủ trương đổi đất lấy hạ tầng để làm con đường cao tốc Hà Nội - Hưng Yên, phát huy lợi thế Cầu Thanh Trì và con đường 5b đi Hải Phòng. Phải tạo thủ tục phải xong sớm trước khi Luật Đất đai mới ra đời, đó là quyết tâm của Chính phủ. Nếu không thì sau khi Luật Đất đai mới ra đời, phải làm lại dự án từ đầu, phải mất ít nhất 1-2 năm nữa mới xong. Chậm một ngày là một ngày mất đi cơ hội phát triển. Hiện trạng con đường Hà Nội đi Hưng Yên rất nhỏ. Trong buổi giao thời giữa hai bộ luật như vậy, Chính Phủ chỉ đạo cái gì xong rồi phải làm, bằng mọi cách không để ảnh hưởng tiến độ bởi luật mới. Trước khi trình Thủ tướng Chính phủ, dự án đều được  các bộ chuyên ngành như: Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính… thỏa thuận về quy hoạch, dự án, giá đất đổi hạ tầng… bằng công văn.

PV: Ông có liên hệ gì với chủ dự án?

GS Đặng Hùng Võ: Cho mãi đến năm 2008, tôi mới nhận được một đơn đặt hàng viết một bài báo đăng trên báo Văn nghệ trẻ về xây dựng xanh, lấy hình mẫu từ Ecopark.  Khi đó tôi mới gặp DN này.

PV: Ông nghĩ bà con sẽ tiếp nhận giải trình này như thế nào?

GS Đặng Hùng Võ: Bà con thông cảm với tôi thế nào thì tùy, tôi không  quan tâm. Nhưng tôi tin rằng họ sẽ hiểu sự cần thiết phải đẩy nhanh tiến độ dự án này vì sự phát triển chung của không những Thủ đô mà còn của cả địa phương Văn Giang nữa.

PV: Cảm ơn GS!

Trần Ngọc Kha

P/S: Nghị định 181/2004 về thi hành luật đất đai quy định về cơ chế “sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng”, trong đó quy định rõ hai hình thức: đấu giá quyền sử dụng đất để tạo nguồn vốn bằng tiền trực tiếp xây dựng công trình hoặc đấu thầu xây dựng công trình và đầu giá quyền sử dụng đất để tạo vốn cho công trình đó trong một gói thầu. 

Nguồn: FB Trần Ngọc Kha.
Mới đọc lời phi lộ cho bài báo, tôi đã bị thất vọng vì:
Đây là báo Đại Đoàn Kết, cơ quan ngôn luận của Trung ương MTTQVN nơi bà con Văn Giang thường xuyên đến phản ảnh nỗi bức xúc về đất đai trong thời gian qua. Nhưng trong lời phi lộ này lại viết là :
"bà con xã Văn Giang, Hưng Yên về những thắc mắc xung quanh vụ thu hồi đất ở 3 thôn: Xuân Quan, Phụng Công và Cửu Cao"
Chỉ riêng nhầm lẫn này đã làm cho tôi nghi ngờ độ tin cậy của bài báo.


-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

NGUYỄN TRỌNG VĨNH: VẪN KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRONG QUAN HỆ VIỆT - TRUNG

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:

Vẫn không bình đẳng trong quan hệ Việt Trung

 

clip_image002 Đó là nhận định của cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, 97 tuổi đời, 73 tuổi đảng, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, trong phỏng vấn dưới đây do Trần Ngọc Kha thực hiện.

PV: Thưa Cụ! Là người từng làm Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, nay vẫn thường xuyên theo dõi quan hệ Việt - Trung, Cụ nhận định thế nào về mối quan hệ này trong thời gian gần đây?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Như mọi người đã biết, ngày 17-2-1979, Trung Quốc huy động mấy quân đoàn sang giết hại biết bao dân ta, tàn phá nặng nề các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Vậy mà cũng như nhiều năm qua, ngày 17-2 năm nay các phương tiện thông tin đại chúng nước ta vẫn tuyệt nhiên không hề có một bài viết nào cho kỷ niệm đau thương này.

Thôi thì, nay quan hệ hai nước bình thường hóa, một cách tế nhị không báo chí gì về sự kiện này để khép lại quá khứ, hướng tới tương lai thì cũng có thể chấp nhận được. Nhưng, đáng ra Đảng và Nhà nước phải có ít nhất một đoàn đại biểu lên các tỉnh biên giới phía Bắc thắp hương tượng trưng trên vài ngôi mộ liệt sĩ, đồng bào ở mỗi tỉnh để tỏ lòng thành kính, biết ơn các anh hùng liệt sĩ và an ủi gia đình họ cũng như gia đình các nạn nhân chiến tranh. Thế mà, không những không làm như vậy mà trước ngày kỷ niệm đó một ngày, ngày 16-2-2012, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng lại mời cơm thân thiện Đại sứ Trung Quốc. Trong khoảng thời gian có ngày kỷ niệm đau thương và uất hận ấy, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa lại sang "thăm hữu nghị" Trung Quốc (!?). Trong khi đó, trên tờ Hoàn Cầu Thời báo, cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc, như thường lệ vẫn có bài viết về cuộc xâm lược này mà họ gọi trẹo ra thành "Cuộc phản kích tự vệ" và khoa trương, khoác lác rằng đã tiêu diệt 1 Sư đoàn, đánh thiệt hại 3 Sư đoàn chủ lực, giết được 300.000 quân Việt Nam mà "Bọn Việt Nam vẫn chưa biết sợ" (!!!).

PV: Trong mấy tháng đầu năm nay, ngoài những động thái ngoại giao như Cụ đề cập, còn có các ông, bà: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Trần Đại Quang, UVBCT, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh và UVBCT, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa liên tiếp sang thăm Trung Quốc. Cụ có bình luận gì về động thái này?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Nguyên tắc trong quan hệ ngoại giao, các nước đều phải bình đẳng với nhau bất luận ai lớn, ai nhỏ. Nhưng trong quan hệ Việt - Trung có khác. 

Tôi nhớ sau khi bế mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào cử Đặc phái viên sang nước ta chúc mừng thành công Đại hội và chúc mừng đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư. Qua Đặc phái viên này của Trung Quốc, đồng chí Nguyễn Phú Trọng gửi lời mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào sang thăm hữu nghị Việt Nam. Nhưng, như đã biết, ông ấy đã không sang. Sau đó ít lâu, phía ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu một đoàn đại biểu cấp cao rất lớn bao gồm nhiều thành viên ở hầu hết các cơ quan Đảng và Chính phủ sang thăm Trung Quốc. Phía Trung Quốc, chỉ mãi đến ngày 21-12-2011, mới có Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình sang thăm nước ta. Sau đó, như anh đã biết, phía ta dồn dập có đến 3 Ủy viên Bộ Chính trị, một Bộ trưởng sang thăm Trung Quốc. Dư luận cho rằng đã không "đối đẳng" lại có vẻ như cầu hòa, cầu thân quá mức, tự hạ mình một cách không nên có. Đối lại, Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện bình đẳng, hữu nghị thật với ta.

Khi ông Tập Cận Bình sang thăm nước ta, ông này vẫn nêu phương châm "16 chữ vàng" và quan hệ "4 tốt" cùng nhiều lời lẽ "thắm thiết" tỏ vẻ trân trọng tình hữu nghị với Việt Nam. Nhưng, chưa đầy một tháng sau, Trung Quốc ra lệnh cấm đánh bắt cá ở cả trong ngư trường truyền thống và trong vùng đặc quyền kinh tế của ta. Gần đây, tàu Hải Giám số 789 của Trung Quốc bắn vào tàu cá của ông Đặng Tằm, áp giải về đảo Phú Lâm. Các ngư dân ta bị lính Trung Quốc đánh đập, tước đoạt toàn bộ tài sản đã đánh bắt được và các thiết bị, ngư cụ, phương tiện thông tin liên lạc trên tàu rồi mới thả cho về. Thiệt hại cho ngư dân ta vụ này khoảng 300 triệu đồng. Ngày 24-2-2012, tàu cá của ông Đặng Tằm mới về đến cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi). 

PV: Trước tình hình này, quan điểm ngoại giao của ông đối với Trung Quốc là gì?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Trong một bài xã luận, Hoàn cầu thời báo của Trung Quốc cảnh báo rằng: Các nước nhỏ như Philippines và Việt Nam nên chấm dứt thách thức quyền lợi của Trung Quốc nếu không thì cần chuẩn bị đón tiếng đại bác. Đấy, tình hữu nghị mà ông Tập Cận Bình nói với chúng ta là như thế đấy! Cho nên thiên hạ đã tổng kết rằng: "Chớ tin vào những lời nhà cầm quyền Trung Quốc nói, hãy xem việc họ làm!". Đừng cho rằng Trung Quốc đón các đoàn của ta sang thăm có vẻ trọng thị, tiếp đãi nồng hậu, có khi có cả "biếu xén" nữa là rất "bình đẳng", "hữu nghị". Đấy chỉ là giả dối, hình thức mà thôi, đúng như trong một bài thơ ai đó viết: "Miệng hô "đồng chí" tươi trên mặt/Tay đấm "anh em" vỡ cả đầu"... 

Với Trung Quốc, phải cương kết hợp với nhu, nhưng lúc nào cũng cần hết sức cảnh giác và không được nhược như vậy! 

PV: Xin cảm ơn và kính chúc Cụ mạnh khỏe!
T.N.K. (thực hiện)
Người phỏng vấn gửi trực tiếp cho BVN.

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

Ở NƠI BÂY GIỜ KHÔNG CÒN CÓ BIỂN - Thơ Trần Ngọc Kha

.
Ở nơi bây giờ không còn có biển
Trần Ngọc Kha

… Lang thang… lang thang không chỉ kiếp ăn mày,
những hạt giống quý của rừng đậu xuống, mọc lên ở nơi bây giờ
không còn có biển.
Nhưng tôi chẳng thấy có bài hát nào ngợi ca kiếp ăn mày
dù kiếp này còn hơn chán vạn những kẻ tôi đòi không bê tha
rách rưới.
Tôi chỉ thấy phù sa đọng đầy khoé mắt các nhà thơ, các nhà nhạc sĩ…

Cứ như là ngủ một giấc bốn nghìn năm thức dậy, phù sa bồi thành
Hạc - ngã - ba - sông, thành “Kinh tế đồi rừng”, thành ống
khói, thành những mảnh đồng 5-10 tấn lúa bội thu…

Nhưng tôi xót lắm những hạt mưa, những hạt ngưng của biển.
Nhưng tôi khát lắm những hạt mưa, những hạt ngưng của biển.
Nào đâu phải chúng rót xuống hoài công cho những công trình theo sông,
theo biển.

Vẫn thế! … Lang thang… lang thang không chỉ kiếp ăn mày, những
hạt giống quý của rừng đậu xuống, mọc lên từ nơi bây giờ
không còn có biển
Và mưa trôi phù sa đi đâu ?
Không thể ngược dòng đưa phù sa trở về chốn cũ
Càng không thể yên nhìn những cảnh dã tràng xe cát biển Đông
Những hạt mưa vẫn cứ rơi rơi
Đất vẫn nghìn năm nhoài ra phía biển
Bồi mới những vùng Hạc - ngã - ba - sông
Riêng giấc ngủ bốn nghìn năm vẫn chìm trong ảo mộng

Đồ đá
Đồ đồng
Đồ không còn là đồ nữa
Âu cũng bởi tại trong ta còn ý nghĩ: Không phải mất tiền!
Mấy ai còn nghĩ: Không được mất tiền!

Ôi ! Phù sa đắt quá
Thì hãy cầm lên
Mà bỏ xuống.

Việt Trì, tháng giêng năm 1990
T.N.K
-->đọc tiếp...