Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Hữu Long. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Hữu Long. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

QUỐC HỘI CHỚ BẢO "CHUYỆN NHỎ NHƯ CON THỎ"

Ngôn ngữ nghị trường: Chuyện nhỏ mà không nhỏ

Trịnh Hữu Long


Chuyện xưng hô trong các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu quốc hội cũng như ngôn ngữ tại nghị trường chứa đựng nhiều sự nhầm lẫn về tư cách và địa vị của những người tham gia.

Từ cách gọi “đồng chí”

“Đồng chí” là một danh từ phổ biến trong sinh hoạt nghị trường ở Việt Nam và gần như trở thành từ xưng hô cửa miệng trong các giao tiếp công việc.

Đơn cử, ngày 12-11, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng phát biểu trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII: “Về sửa Nghị định 84 như chúng tôi đã báo cáo, Thủ tướng Chính phủ mà trực tiếp là hai đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Vũ Văn Ninh vào cuộc họp tháng 7 vừa qua đã nghe Bộ tài chính và Bộ công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo việc thực hiện Nghị định 84. Qua nghe tình hình báo cáo hai đồng chí Phó Thủ tướng đã có kết luận”.

Hoặc phát biểu ngày 15-11 của đại biểu Bế Xuân Trường (tỉnh Bắc Kạn): “...Đảng lãnh đạo quân đội trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt, đồng chí Tổng bí thư là Bí thư quân ủy Trung ương, điều này đã được ghi trong Điều lệ Đảng. Còn đồng chí Chủ tịch nước trên cơ sở lãnh đạo tập thể, phát huy vai trò của cá nhân, chịu trách nhiệm trước tập thể về nhiệm vụ này, như vậy nội hàm của Chủ tịch nước với lực lượng vũ trang là gì?”.

Theo bản gỡ băng thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng 12-11 được Văn phòng Quốc hội công bố, có 41 lần từ “đồng chí” được các đại biểu cũng như quan chức Chính phủ sử dụng. Thậm chí tại phiên làm việc của Ủy ban pháp luật của Quốc hội sáng 24-4, từ này cũng được sử dụng đến 154 lần.

Vậy từ “đồng chí” có từ bao giờ và ý nghĩa của nó ra sao? Trong tiếng Anh, “đồng chí” là  comrade, về ngữ nghĩa có thể hiểu là người bạn, đồng nghiệp hoặc đồng minh. Theo từ điển Wikipedia, những từ có ý nghĩa tương tự được những người theo phong trào xã hội chủ nghĩa ở châu Âu sử dụng từ giữa thế kỷ XIX nhằm thay thế cho các từ truyền thống thời đó như Mister (quý ông), Miss (quý cô), Missus (quý bà) trong cách xưng hô. Lần đầu tiên từ comrade xuất hiện trong tiếng Anh với nghĩa tương tự là trên tạp chí Justice (Công lý), xuất bản năm 1884.

Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2006 của Viện ngôn ngữ học định nghĩa “đồng chí” là “người cùng chí hướng chính trị, trong quan hệ với nhau”, “từ dùng trong đảng cộng sản để gọi đảng viên”, “từ dùng trong xưng hô để gọi một người với tư cách là đảng viên đảng cộng sản, đoàn viên một đoàn thể cách mạng hoặc công dân một nước xã hội chủ nghĩa”. Đây cũng là cách hiểu và cách sử dụng phổ biến của từ này trên thế giới.

Với ý nghĩa như vậy, việc sử dụng từ “đồng chí” ở diễn đàn Quốc hội là không hợp lý. Chỉ cần nhìn vào tỉ lệ biểu quyết các dự án luật ở Quốc hội là biết họ không “cùng chí hướng” với nhau, khi luôn có một tỉ lệ từ vài phần trăm đến vài chục phần trăm số đại biểu có ý kiến khác với phần còn lại. Có những vấn đề gây tranh cãi tại Quốc hội như dự án Boxit Tây Nguyên, dự án điện hạt nhân, dự án đường sắt cao tốc. Có dự án được thông qua hoặc bị bác bỏ. Bên cạnh đó, Quốc hội có một tỉ lệ đáng kể đại biểu là người ngoài đảng, chiếm khoảng 10% vào thời điểm công bố kết quả bầu cử. Vì vậy, dùng ngôn ngữ chính trị của đảng với họ là không hợp lý. Mặc dù tìm kiếm sự đồng thuận là bản chất của hoạt động chính trị, nhưng diễn đàn Quốc hội là nơi thảo luận, tranh luận giữa những người được dân bầu để tìm ra các quyết sách đúng cho đất nước. Đã là thảo luận, tranh luận thì bao giờ cũng có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.

Đại biểu Quốc hội hay đảng viên?

Sự nhầm lẫn giữa diễn đàn Quốc hội với các diễn đàn khác cũng xảy ra trong nhiều trường hợp khác, đặc biệt là các cuộc tiếp xúc cử tri. Nó cũng không chỉ xảy ra với các đại biểu Quốc hội, mà còn xảy ra với các cử tri.

Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, các tấm pa-nô, áp-phích đều “nhiệt liệt chào mừng đồng chí bí thư”, “nhiệt liệt chào mừng đồng chí chủ tịch”. Trong các phát biểu, các chức danh này cũng được sử dụng, thay vì gọi đúng tư cách của họ là đại biểu Quốc hội.

Ngày 1-12, cử tri Nguyễn Khắc Thịnh (phường Giảng Võ - Hà Nội) đã chất vấn đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tại cuộc tiếp xúc cử tri: “Nghị quyết trung ương 4 nói một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái. Xin đề nghị Tổng bí thư làm rõ một bộ phận không nhỏ ấy nằm ở đâu?”.

Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri khác, những cụm từ như “kính thưa đồng chí Chủ tịch nước”, “đề nghị Thủ tướng Chính phủ”, “xin đồng chí bí thư”,... được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

Điều này phản ánh một sự nhầm lẫn cơ bản về tư cách của người tiến hành tiếp xúc cử tri. Đứng trước các cử tri khi đó, không có ai là Tổng bí thư, không có ai là Chủ tịch nước, không có ai là Thủ tướng, và không có ai là Bí thư. Họ chỉ có một tư cách duy nhất là đại biểu Quốc hội, đi gặp cử tri để báo cáo kết quả làm việc, trả lời các chất vấn và lắng nghe ý kiến của cử tri. Ít khi thấy có ai đó gọi họ cho đúng danh phận là đại biểu Quốc hội Nguyễn Tấn Dũng, đại biểu Quốc hội Trương Tấn Sang, đại biểu Quốc hội Lê Thanh Hải,...

Thể hiện bản chất của hệ thống chính trị

Thói quen xưng hô nói trên không đơn thuần là vấn đề giao tiếp. Nhìn vào lịch sử và bản chất hệ thống chính trị Việt Nam, chúng ta thấy rằng cách xưng hô này phản ánh những vấn đề đáng lưu ý hơn nhiều.

Sự nhầm lẫn về tư cách đại biểu Quốc hội và tư cách quan chức của đảng có căn nguyên chính trị và căn nguyên lịch sử. Hệ thống chính trị ở miền Bắc Việt Nam kể từ năm 1954 và trên cả nước từ 1975 do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Điều này diễn ra trên thực tế và được thể chế hóa tại các bản Hiến pháp 1980 và 1992. Điều này dẫn đến hai hiện tượng: đảng làm thay nhà nước và các quan chức bên phía nhà nước cũng đồng thời là quan chức bên đảng.

Trong thời kỳ 1954-1975, các quyết sách lớn đều trực tiếp từ Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương, chứ không phải đến từ Chủ tịch nước hay Hội đồng Quốc phòng hay Bộ Quốc phòng. Lịch sử ghi nhận Nghị quyết 15 tháng 1-1959 của Ban chấp hành trung ương đảng đã vạch ra phương pháp đấu tranh thống nhất đất nước, chứ không phải một đạo luật hay sắc lệnh nào do Quốc hội hay Chủ tịch nước ban hành. Cho đến 1975, các quyết định liên quan đến chiến trường cũng được quyết định bằng các nghị quyết của Bộ chính trị. Các nghị quyết này được trực tiếp phổ biến đến các chiến trường.

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, tình trạng đảng làm thay nhà nước tiếp tục diễn ra. Hai quyết định quan trọng về kinh tế thời kỳ đó là khoán 100 và khoán 10, thực chất là Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13-1-1981 của Ban bí thư TƯ đảng và Nghị quyết 10 của Bộ chính trị tháng 4-1988 về khoán trong nông nghiệp.

Cho đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, hoạt động lập pháp của Quốc hội mới bắt đầu thể hiện rõ hơn vai trò của mình trong đời sống chính trị, với việc thông qua nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật hình sự (1985), luật hôn nhân và gia đình (1986), luật đất đai (1987), luật đầu tư nước ngoài (1987),... và dần dần thể chế hóa các quyết định chính trị của đảng.

Cho đến nay, nhiều quan chức chính phủ khi bị chất vấn tại Quốc hội đã trả lời rằng “vấn đề này đã báo cáo với tổ chức đảng” để né tránh vấn đề và né tránh trách nhiệm. Bên cạnh đó, có đến 90% số đại biểu Quốc hội đồng thời là đảng viên. Tất cả những đặc điểm này của hệ thống chính trị khiến cho ranh giới giữa diễn đàn của đảng và diễn đàn Quốc hội trở nên mờ nhạt, dễ phát sinh sự nhầm lẫn, tâm lý “phiên phiến”.

Mặt khác, việc cử tri gọi các đại biểu của mình là Chủ tịch nước, Thủ tướng, là Bộ trưởng, là Chủ tịch cũng thể hiện một hiện tượng khác, đó là một người vừa là đại biểu Quốc hội, vừa là quan chức hành pháp. Điều này khiến cho nhiều người đặt câu hỏi: các vị này ngồi ở diễn đàn Quốc hội với tư cách gì?

Cần rạch ròi tư duy

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự rạch ròi cần thiết phải có trong quan hệ giữa đảng và chính quyền, cũng như sự rạch ròi cần thiết giữa các nhánh quyền lực trong nội bộ chính quyền. Đó là đảng không bao biện, làm thay nhà nước vì vi phạm nguyên tắc pháp quyền, đó là đại biểu Quốc hội không được kiêm nhiệm chức danh hành pháp vì lý do xung đột lợi ích.

Nguyên tắc pháp quyền chỉ cho phép ý chí chính trị của các cá nhân và đảng phái được thực thi trên thực tế thông qua các cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân và ý chí chính trị đó không được trực tiếp can thiệp vào các quyết định của chính quyền. Điều này được các lãnh đạo đảng nhắc đến nhiều lần, tuy nhiên hiệu quả thực thi còn là điều phải đánh giá thận trọng.

Mặt khác, sự phân công, phân nhiệm giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong thiết kế bộ máy nhà nước chúng ta hiện nay còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Khi là một đại biểu của dân, có nghĩa là người đó phải dùng quyền lực được dân trao cho để tác động và giám sát việc thực thi pháp luật của các quan chức hành pháp và tư pháp. Vậy thì hóa ra vị Bộ trưởng kiêm đại biểu Quốc hội sẽ phải tự giám sát chính mình, đồng thời, khi ngồi ở diễn đàn Quốc hội, có lúc ông ta là đại biểu Quốc hội, có lúc lại là Bộ trưởng. Ông ta sẽ đứng về phía ai, chính phủ hay Quốc hội, trong phiên chất vấn của mình?

Rõ ràng sự nhầm lẫn về cách xưng hô không chỉ là vấn đề giao tiếp, mà còn phản ánh sự thiếu rạch ròi trong mối quan hệ giữa đảng và nhà nước, và giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam sẽ khó có thể thực hiện được, nếu không giải quyết triệt để vấn đề này.


Bài đăng trên báo Nông thôn ngày nay, tháng 12-2012.
 
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

GIỮ GÌN TÀI LIỆU VÀ KỶ VẬT CỦA CỐ GS. TÔN THẤT TÙNG

GS Tôn Thất Tùng và vợ (bà Vi Thị Nguyệt Hồ) trong chuyến thăm CHDC Đức.
Bảo quản hơn 3.000 tài liệu, hiện vật 
của cố GS.Tôn Thất Tùng

Trịnh Hữu Long 

Hơn 50 cuốn nhật ký và hồi ký, 200 bức ảnh gốc, hàng trăm cuốn sổ ghi chép chuyên môn và nhiều hiện vật khác của cố Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng (1912-1982) đã được Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam tiếp nhận từ người thân của ông. 

Trung tâm cho biết, họ bắt đầu nghiên cứu về GS. Tôn Thất Tùng từ đầu năm 2010 và nhận được sự ủng hộ của bà Vi Thị Nguyệt Hồ - vợ của ông, và TS. Tôn Nữ Ngọc Trân – con gái cả của ông. 

Trong lần tiếp nhận đầu tiên vào năm 2010, gia đình GS. Tôn Thất Tùng trao cho Trung tâm  200 bức ảnh tư liệu gốc về hoạt động giảng dạy, chữa bệnh, nghiên cứu của ông từ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến khi ông qua đời. Phần lớn số ảnh đã bắt đầu bị hư hại và được đưa vào quy trình bảo quản đặc biệt. Các cuốn nhật ký, ghi chép của ông khi đi Triều Tiên, Trung Quốc năm 1951, dự Hội nghị quốc tế về chất diệt cỏ tại Pháp năm 1970 cũng được bà Vi Thị Nguyệt Hồ trao cho Trung tâm.

Đặc biệt, trong lần tiếp nhận tháng 5/2012, vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, Trung tâm đã tiếp nhận hơn 3.000 đầu mục tài liệu, hiện vật về ông, trong đó có 50 cuốn nhật ký, hồi ký ghi chép về các công việc đã làm, những chuyến đi công tác tại Trung Quốc, Liên Xô, Đức, Pháp, Mỹ,…; hàng trăm cuốn sổ ghi chép tỉ mỉ về mổ tim, cắt gan, ung thư gan và các nghiên cứu bước đầu của ông về ảnh hưởng của chất diệt cỏ đối với người Việt Nam. Ngoài ra, còn có gần 500 bức thư ông trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp trong và ngoài nước bằng nhiều thứ tiếng khác nhau cùng các đồ dùng sinh hoạt của ông lúc sinh thời.

GS. Tôn Thất Tùng là một trong những đối tượng nghiên cứu đầu tiên của Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam kể từ khi Trung tâm được sáng lập vào năm 2008. Ông sinh năm 1912, mất năm 1982, nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan. Tên ông được đặt cho một phương pháp mổ gan khô do ông nghiên cứu thành công năm 1960, hay còn gọi là phương pháp “cắt gan có kế hoạch”. Ông từng là Giám đốc bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, và giữ cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại Đại học Y Dược Hà Nội từ năm 1954.

Con trai ông, Phó Giáo sư, Viện sĩ, bác sĩ Tôn Thất Bách (1946-2004), cũng là một bác sĩ nổi tiếng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Y Hà Nội, nguyên Giám Đốc Bệnh viện Việt Đức, nguyên Phó Chủ nhiệm UB các vấn đề xã hội của Quốc hội. 

Nguồn: Tia Sáng.
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Trịnh Hữu Long: NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN QUA LĂNG KÍNH VĂN GIANG

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN QUA LĂNG KÍNH VĂN GIANG
Trịnh Hữu Long

(NCTG) Cả một hệ thống các văn bản pháp luật đồ sộ và phức tạp, từ luật đất đai, đến các nghị định của Chính phủ và thông tư của các cơ quan bộ, ngành,… được người dân Văn Giang viện dẫn để chứng minh cho những quyền lợi mà đáng ra họ phải được hưởng. Sau 8 năm theo đuổi khiếu kiện, họ đã thành… những chuyên gia về luật đất đai từ lúc nào không hay. Song có một văn bản họ chưa bao giờ nhắc tới…

 
Quang cảnh Văn Giang trong buổi sáng xảy ra vụ cưỡng chế - Nguồn: Internet.

Người dân Văn Giang chúng tôi chỉ muốn tuân thủ pháp luật, muốn chính quyền và chủ đầu tư thực hiện đúng pháp luật chứ không mong muốn gì hơn”.


Đây là điều được ông Nguyễn Văn Bính (70 tuổi, xóm 3 xã Xuân Quan – Văn Giang) cũng như rất nhiều nông dân khác khẳng định, liên quan đến vụ cưỡng chế thu hồi đất ngày 24-4-2012 tại địa bàn này. Trong khi các nhà nghiên cứu lý luận và các luật gia đang cố công phân tích bản chất của nhà nước pháp quyền trên những tạp chí chuyên ngành uy tín, trong khi nhà nước đang ra sức tuyên truyền về tinh thần
thượng tôn pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân, thì bất kỳ ai cũng có thể tìm thấy tinh thần cốt lõi đó của nền pháp quyền trong lời nói và hành động của những người nông dân Văn Giang này trong gần 8 năm qua.

Cả một hệ thống các văn bản pháp luật đồ sộ và phức tạp, từ luật đất đai, đến các nghị định của Chính phủ và thông tư của các cơ quan bộ, ngành,… được người dân Văn Giang viện dẫn để chứng minh cho những quyền lợi mà đáng ra họ phải được hưởng.


Ông Lê Thạch Bàn (xóm 4, xã Xuân Quan) cho rằng: “
Trên văn bản, tỉnh Hưng Yên quy định đây là đô thị loại IV. Theo khung giá đất nhà nước ban hành (kèm theo Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ), giá cao nhất cho đô thị loại IV là 13.350.000 đ/m2, thấp nhất là 50.000 đ/m2, bình quân là 6,7 triệu đồng/m2. Nhà nước chỉ đóng vai trò là trọng tài giúp chúng tôi thương lượng với nhau một mức giá thuận mua vừa bán nào đấy, chứ sao lại đem lực lượng hùng hậu như vậy cưỡng chế chúng tôi phải nhận có 135.000 đ/m2 như vậy?”.

Mặc dù viện dẫn rất nhiều văn bản như vậy, có một văn bản họ chưa bao giờ đề cập tới, đó là Hiến pháp.


Dự án Ecopark phục vụ an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia?


Năm 2004, dự án khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (sau này được biết đến với tên gọi là khu đô thị sinh thái Ecopark) được giao cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng (Vihajico) làm chủ đầu tư. Quyết định thu hồi đất cũng được ban hành ngày 30-6 cùng năm và để thực hiện quyết định này, 3.900 hộ dân của 3 xã Cửu Cao, Xuân Quan và Phụng Công sẽ gần như không còn đất sản xuất nông nghiệp – vốn là sinh kế duy nhất của họ từ nhiều thế hệ qua. Với mức giá đền bù chỉ ở mức 135.000 đ/m2, mỗi hộ dân có 5 nhân khẩu và 2.5 sào ruộng ở đây có thể nhận về số tiền hơn 120 triệu đồng. Số tiền này đủ để duy trì cuộc sống của 5 con người trong vòng 1 năm, trước khi họ rơi vào thế bần cùng. Quyết định thu hồi đất trở thành cái án nặng nề cắt đứt nguồn sống của họ. Hiến pháp – đạo luật gốc – là căn cứ cao nhất để xem xét tính chất pháp lý của quyết định này.


 
Những hình ảnh hãi hùng của cuộc cưỡng chế - Nguồn: Internet

Ở Việt Nam, đại đa số người dân chưa có thói quen viện dẫn đến Hiến pháp để xác định tính chất pháp lý của một vấn đề. Với tư cách là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, Hiến pháp chi phối mọi nội dung và thể thức của toàn bộ hệ thống pháp luật. Người dân vẫn chỉ quan tâm đến tính hợp pháp (hiểu theo nghĩa là tính phù hợp với văn bản luật), chứ chưa có nhiều khái niệm về tính hợp hiến của vấn đề.

Vốn dĩ, điều 23 Hiến pháp 1992 quy định: “
Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”.

Như vậy, với tư cách là chủ sở hữu quyền sử dụng đất, các hộ nông dân ở Văn Giang chỉ bị nhà nước trưng mua, trưng dụng quyền sử dụng đất đã được giao, cho các mục đích quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, theo giá thị trường. Trong khi đó, Ecopark là một dự án đầu tư xây dựng khu đô thị của Vihajico – vốn là một công ty cổ phần, thuộc sở hữu tư nhân và hoạt động vì mục đích lợi nhuận của các cổ đông góp vốn. Bằng bất cứ cách nào, người ta cũng không thể gán cho những tòa biệt thự, những hồ bơi của Ecopark vào một mục đích nào trong 3 mục đích được minh định tại điều 23 của Hiến pháp kể trên.


Giả định Ecopark thỏa mãn điều kiện về mục đích trưng mua, trưng dụng, thì cái giá 135.000 đ/m2 có được coi là giá thị trường? Sẽ cần đến những tổ chức định giá độc lập hoặc những quy trình thẩm định nghiêm túc để định đoạt đâu là giá thị trường của những thửa đất nằm sát địa phận Hà Nội này. Nhưng đối với những người nông dân trồng cây cảnh ở Văn Giang, giá trị của đất nằm ở con số hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng/sào mà họ thu được mỗi năm và nuôi sống gia đình họ từ năm này qua năm khác. Còn đối với chủ đầu tư, họ cũng sẽ thu được hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu nhưng không phải tính trên đơn vị “sào”, mà là mét vuông, một khi các căn hộ, các lô đất ở đây được rao bán.


Luật gia Lê Hiếu Đằng, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân chủ pháp luật, UBTƯMTTQ Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch MTTQ TP. HCM cho rằng: “
Xét về mặt Hiến pháp cũng như về Luật đất đai 1993 (*) thì việc thu hồi đất ở Văn Giang là không đúng. Bởi vì Hiến pháp và Luật đất đai 1993 xác định chỉ những công trình an ninh, quốc phòng hoặc phúc lợi chung thì nhà nước mới đứng ra cùng với nhân dân trao đổi, bàn bạc đi đến phương án giải tỏa, còn đối với các công trình kinh tế thì nhà đầu tư phải trực tiếp thương lượng với dân theo giá thị trường chứ nhà nước không thể đứng ra thay mặt cho nhà đầu tư thu hồi, giải tỏa với giá rẻ mạt như vậy được”.

Rõ ràng, nếu chúng ta có một cơ chế bảo hiến hiệu quả, UBND tỉnh Hưng Yên sẽ gặp rắc rối lớn với Tòa án Hiến pháp khi cưỡng chế thu hồi đất của nông dân Văn Giang với mức giá bị cho là rẻ mạt và giao cho chủ đầu tư kinh doanh.


Dấu hiệu vi hiến của một đạo luật quan trọng


Việc thu hồi đất ở Văn Giang nêu trên chỉ là dấu hiệu vi hiến của một hành vi, nhưng sâu xa hơn là dấu hiệu vi hiến của một đạo luật quan trọng.


Để đi tìm một mục đích phù hợp cho việc thu hồi đất bàn giao cho chủ đầu tư dự án, người ta viện dẫn đến Luật đất đai 2003, vốn quy định tại điều 38 rằng: “
Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: 1. Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;…”. Rất dễ để thuyết phục bất kỳ ai rằng các dự án như Ecopark là nhằm mục đích phát triển kinh tế.

Như vậy, so với quy định tại điều 23 Hiến pháp, khái niệm “trưng mua”, “trưng dụng” đã bị thay thế bởi khái niệm “thu hồi” và xuất hiện thêm 2 mục đích thu hồi không có trong Hiến pháp là “
lợi ích công cộng” và “phát triển kinh tế”.

Trước đó, Luật đất đai năm 1993 cũng quy định tại điều 27 rằng: “
Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”.

Như vậy, cùng một nội dung hiến định tại điều 23 của Hiến pháp, Luật đất đai 1993 bổ sung mục đích “
lợi ích công cộng”, đến Luật năm 2003 tiếp tục bổ sung thêm mục đích “phát triển kinh tế”. Nhờ mục đích “phát triển kinh tế” này và sự nhập nhèm trong cách giải thích luật, nhà nước đã tạo ra một cơ chế bảo vệ cho quá trình dịch chuyển một cách không tự nguyện quyền sử dụng đất đai từ tay người nông dân vào tay các nhà đầu tư, quá trình mà đúng ra phải là thỏa thuận dân sự thuần túy giữa hai chủ thể. Dễ dàng nhận thấy ai là người phải chịu thiệt từ cơ chế này.


Nông dân Văn Giang tìm cách trở lại khu vực đã bị cưỡng chế và tiếp tục canh tác.
 Ảnh: Minh Quang (“Tuổi Trẻ”)

Trong các phát biểu của mình, PGS-TS. Nguyễn Đăng Dung (Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội) cũng cho rằng: “Việc luật đất đai quy định thêm các trường hợp được phép thu hồi đất như “lợi ích công cộng”, “phát triển kinh tế” đã được tôi và các đồng nghiệp đánh giá rất nhiều lần là vi hiến. Tuy nhiên, ở nước ta chưa có Tòa án Hiến pháp, nên chưa có cơ chế nào để phán quyết tính vô hiệu của các quy định này”.

Trước năm 1958, nước Pháp cũng rơi vào tình trạng luật ban hành ra có những nội dung trái Hiến pháp nhưng không có một cơ quan có chức năng bảo hiến nào để bác bỏ các đạo luật này. Trong khi đó, các cơ quan hành chính lại rất nhuần nhuyễn trong việc đảm bảo tính hợp pháp trong các quyết định hành chính của mình. Khi luật ban hành ra đã vi phạm Hiến pháp, thì mọi biện pháp thực thi luật đều không có giá trị. Đó là lý do ngày nay nước Pháp có một cơ chế bảo hiến đủ mạnh để tuyên vô hiệu đối với bất kỳ đạo luật vi hiến nào. Một quốc gia không xây dựng được cơ chế bảo vệ Hiến pháp của mình, khó có thể nói là họ đang xây dựng nhà nước pháp quyền.


Ghi chú:


(*) Quyết định thu hồi đất cho dự án Ecopark được ban hành vào ngày cuối cùng khi Luật đất đai 1993 còn hiệu lực.
Trịnh Hữu Long
-->đọc tiếp...