Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Quang Dũng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trịnh Quang Dũng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

CHÂN DUNG CHỢ VIỆT XƯA - khảo cứu của Trịnh Quang Dũng

Chân dung chợ Việt xưa 

Khảo cứu của Trịnh Quang Dũng 

 

Chợ vốn dĩ là nhu cầu tối thiết yếu của con người, với người Việt nam chợ lại cũng là một cái gì gần gũi hơn nữa, máu thịt hơn nữa…chả thế mà cả đến cái tên nôm na của chốn quốc đô cũng gọi là “Kẻ Chợ”. 

Tên Kẻ Chợ được nhiều người gọi trong dân gian, đặc biệt là các giáo sĩ, thương nhân phương Tây và trở nên rất phổ biến từ thế kỷ 17 khi mà Tonquin (Đông Kinh) thời bấy giờ trong những ngày “Phiên” trở thành một cái “chợ khổng lồ” [1:].Người phương Tây đầu tiên dùng từ Kecho phải dành cho giáo sĩ Bồ Đào Nha, ông Barros. Ông đã phiên âm tiếng Kecho (cacho) trong cuốn sách “Nói về Châu A-Da Asia” của mình và cho ấn hành vào năm 1550. Rất nhiều các từ phiên âm khác xuất hiện muộn hơn trong các văn bản, bản đồ của người phương Tây sau này như: kechu, cachu, cacho v.v…tất cả đều là phiên âm của từ Kecho. Kẻ có nghĩa là “vùng” vậy nên trong dân gian, địa danh kẻ Mơ, kẻ Cót, kẻ Noi v.v… vẫn còn tồn tại khá phổ biến cho tới tận nửa đầu thế kỷ 20. Bởi vậy cái tên Kẻ Chợ bao hàm ý nghĩa “vùng đất họp chợ”, “vùng rất nhiều chợ”. Chỉ riêng điều đó cũng cho ta thấy sự phát triển của mạng lưới chợ như “trăm hoa đua nở” ở mảnh đất đế đô Đông Kinh vào thế kỷ 17,18. 

Sự hình thành của thị trường thương mại ở Đông Kinh-Kẻ Chợ 

Từ thế kỷ 15, sau khi chiến thắng quân Minh, nước Đại Việt trở lại hồi sinh và nền kinh tế dần dần phát triển đạt tới mức độ sầm uất, tấp nập cực điểm vào thế kỷ 17,18. Trong hai thế kỷ này chế độ phong kiến trung ương tập quyền hình thành từ thời Lê Thánh Tôn (1460-1497) và được phát triển một cách sáng tạo đột biến dưới triều Lê-Trịnh (1592-1786) như một yếu tố cốt lõi cho sự hòa nhập của Đại Việt vào cuộc “bùng nổ đại mậu dịch” thời đó. Sau sự kiện Chúa Trịnh Sâm tiến vào Phú Xuân, kết thúc sứ mệnh bình Nam (1774), non nước Đại Việt đã thâu về một mối. Việc thống nhất tiền tệ, thông thương Nam Bắc lần đầu tiên được nhà nước chính thức xác lập sau khoảng 150 năm chia cắt. Một mạng lưới chợ đã được liện kết mở rộng cả vào khu vực phía trong tạo nên thương trường rộng lớn. Trong bối cảnh như vậy Đông Kinh - Kẻ Chợ đóng vai trò như một trung tâm đầu mối quan trọng hàng đầu của nền thương mại Đàng ngoài. Với việc khu trung tâm quyền lực chính trị, hành chính- Vương phủ Chúa Trịnh không đóng trong thành, Đông Kinh lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trở thành một đô thị -Kinh đô mở, không tường thành bao quanh, không biên giới hạn chế, thông thương kiểu các đô thị Châu Âu trung đại. Giáo sĩ A. De Rhode đã gây bất ngờ lớn khi ước định về dân số Đông Kinh: “Người ta thấy rất đông dân chúng đi đi lại lại rảo khắp phố phường đụng chạm nhau…thành thử mất rất nhiều thì giờ mà chỉ tiến đựơc chút ít. Rồi thêm vào nhiều phỏng đoán khác, theo dư luận chung thì dân cư ở kinh thành lên tới “một triệu người ”[1:16]. Con số đó hoàn toàn có thể tin được khi một người phương Tây khác, ông W. Dampier cũng ước đoán rằng “Kẻ Chợ có vào khoảng 20.000 nóc nhà…”. Đã có rất nhiều tư liệu lịch sử và ghi chép của các nhân chứng đương thời khẳng định Đông Kinh-Kẻ Chợ là một đô thị to lớn hàng đầu khu vực và có thể sánh với các đô thị lớn ở Châu Âu như Venise.Việc tăng dân số đột biến ở Đông Kinh-Kẻ Chợ không phải ngẫu nhiên. Một mặt do Chúa Trịnh luôn duy trì ở kinh sư một bộ máy quân sự khổng lồ thuộc loại hùng mạnh nhất đương thời”.

Chúa thường có 100 ngàn quân”[2:132] nên gia đình quan lại, binh lính, tầng lớp nô bộc, phục vụ họ đã nhanh chóng bổ sung dân số Đông Kinh mà ngày nay ta quen gọi với danh từ “dân số tăng cơ học”. Mặt khác tình hình làm ăn phát đạt ở Kinh đô biến khu 36 phố phường phát triển và mở rộng như một nam châm khổng lồ khiến làn sóng “di dân” lập nghiệp cuồn cuộn đổ về Thăng Long. Phố Hàng Bạc vốn chỉ có dân Châu Khê Hải Dương lên lập nghiệp đúc bạc, tiền, từ thế kỷ 16 thì nay lại có thêm thợ kim hoàn làng Thanh Trì kéo về vào đầu thế kỷ 18. Họ Nguyễn-Sơn Nam Hạ tới Làng Nam Đồng. Họ Nguyễn Thanh Hoá tới làng Phương Liệt. Hậu duệ Chúa Trịnh kéo tới Thái Kiều - thôn Trung Phụng định cư. Dân Hải Dương kéo về làm nghề da và đóng dày ở phường Hài Tượng. Dòng Nguyễn Đắc Cổ Định –Thanh Hóa tới Thăng Long, dòng Nguyễn Hữu Liêu từ Châu Ái ra Làng Tây Tựu Từ Liêm v.v… Một nguyên nhân khác góp phần thúc đẩy dân số Kẻ Chợ tăng vọt chính là số lượng đông đảo các cậu học trò kéo về đất kinh kỳ học tập “dùi mài kinh sử “làm khởi sắc,no nhiệt cả một khu Sĩ Hoạn ở phường Bích Câu suốt hai thế kỷ. Điển hình là câu chuyện hình thành ngõ Phát Lộc gần cửa ô Trừng Thanh. Chính từ cậu học trò người làng Phát Lộc lên học thi ban đầu rồi kéo cả làng theo tạo lập nên con ngõ này còn tồn tại tên cho tới ngày nay. Có thể nói suốt hai thế kỷ 17,18 Đông Kinh đã có một cuộc “bùng nổ dân số” chưa từng có trong lịch sử phong kiến Việt Nam.Ta có thể tưởng tượng với dân số cỡ một triệu, tương đương với dân số Hà Nội nửa sau thế kỷ 20 sẽ đòi hỏi một mạng lưới chợ to lớn biết nhường nào ở Đông Kinh. 

Mạng lưới chợ ở Đông kinh 

Mạng lưới chợ Thăng Long Đông Kinh- Kẻ Chợ được hình thành dần dần theo thời gian. Đặc thù nền kinh tế nơng nghiệp Đại Việt thế kỷ 17-18 đưa đẩy hình thành một cách tự nhin ba dạng chợ: Chợ kinh thành, chợ nông thôn và chợ chuyên doanh. Chưa có tư liệu lịch sử nào xác thực về sự tồn tại các chợ chuyên doanh ở thời Lý, Trần. Nhiều khả năng loại hình chợ chuyên doanh chưa xuất hiện vì trình độ sản xuất và sức sản xuất thời kỳ này khá thấp.Thêm nữa nhu cầu tiêu dùng xã hội chưa cao bởi số lượng cư dân Kẻ Chợ còn thưa thớt, vẻn vẹn vài vạn người trong một quan thành giới hạn chỉ 4Km2 [9]bao bọc bởi sơng Hồng ,sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch (dân số cả nước năm 1054: chỉ khoảng 2,2 triệu, 1407: 3,1 triệu).

Mạng lưới chợ thành thị ở Đông Kinh được tổ chức trên cơ sở các phường thị kiểu “buôn có bạn, bán có phường” theo từng ngành hàng riêng. Ta hãy nghe Cha Marini,nh truyền gio người Ý (1666) mô tả:” Ở lối cổng vào mỗi phường có một tấm bảng đề, hoặc một tấm biển ghi rõ loại hàng và chất lượng hàng đươc bán ở đó”[2:194]. S.Baron (1680 ) còn cho ta biết rõ Phường buôn bán ở Kẻ Chợ chính là đầu ra của các chợ và các làng vùng thôn quê”…Tất cả những phẩm vật khác nhau bán trong thành phố này đều được dành riêng cho từng phường và mỗi phường đó lại phụ thuộc vào một hay nhiều làng và dân chúng các làng xã này được đặc quyền mở các cửa hiệu ở đấy”[10:12]. Lúc bấy giờ đi chợ thật dễ dàng: Tơ, lụa đi vào trong phố Hàng Đào…đồ kim khí vào trong phố Hàng Đồng…Mũ nón vào phố Hàng Nón,rồi Hàng Khoá, Hàng Thuốc Nam, Thuốc Bắc, phố Hài Tượng vv … thật không thiếu thứ gì. Ngoài mạng lưới chợ theo ngành nghề ở khu 36 phố phường ta phải kể đến mạng lưới chợ nông sản, nhu yếu phẩm nằm ở các cửa thành ngoài, cửa hoàng thành, bến đò, cửa sông. Ít nhất có thể điểm danh trên 10 chợ lớn còn thu thuế vào năm Bảo Thái thứ hai 1727, chợ Cửa Đông lệ thuế đóng 318 quan 8 tiền, 100 tấm da trâu. Chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Bà Đá lệ thuế là 310 quan 8 tiền 100 tấm da trâu. Chợ Vân Cử lệ thuế là 19 quan tiền 2 tiền quý, chợ Ông Nước lệ thuế là 46 quan 8 tiền vv…[6:36]. Còn rất nhiều chợ khác ở các cửa ô: chợ Yêu Thơ (ô Cầu đền), chợ Dừa (ô Chợ Dừa), chợ Cót (ô Cầu Giấy), chợ Bạch Mã (ô Đông hà), chợ Bác Cử, v.v… Chợ Dừa vốn là một bến trên sông Lừ, đầu mối giao thương quan trọng ở phía Nam kinh thành khiến cho cửa ô chợ Dừa luôn sầm uất náo nhiệt[4:95]. Chợ Cửa Đông tọa lạc ở khu trung tâm Kẻ Chợ là một chợ lớn và nhộn nhịp bậc nhất kinh sư. Nằm ở phía cửa Đông Hoàng thành nên nó còn một tên khác-chợ Đông Thành. Là chợ lớn nhất kinh thành nên nó nhóm họp thường xuyên hàng ngày song vẫn có ngày phiên vaò ngày 1 và ngày 5 vốn là dấu ấn từ xa xưa của cái thuở Lý Thái Tông lập chợ “… Cho mở chợ về cửa Đông, hàng quán san sát, chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã rất là huyên náo”[2:82]. Chợ này đầu thế kỷ 18 còn họp bên cầu Đông trên phố Hàng Đường sau mở rộng dịch chuyển về phía tây chiếm một diện tích rộng lớn gồm phía Bắc là dãy phố Hàng Mã, phía nam là phố Bát Đàn, phía Tây là nửa phố Hàng Cót, phía Đông là phố Thuốc Bắc. Sau khi Pháp chiếm Thăng Long,lấp sông Tô Lịch quy hoạch lại khu phố chợ này được chuyển ra chợ mới tức chợ Đồng Xuân hiện nay[11:341].

Các chợ xứ Tonkin đều họp theo phiên, theo chu kỳ để dân tứ xứ biết mà hội về họp chợ. Chu kỳ phiên chợ này được ghi nhận trong nhiều từ chính sử, tư liệu cá nhân, cho tới các ký sự của giáo sĩ phương Tây và du khách tới Đại Việt. Cha Marini (người Ý), giáo sĩ A. Rhodes (Pháp) có mặt ở nước ta ngay từ những năm đầu thế kỷ 17 cho biết “… Chợ ở Kẻ Chợ mỗi tháng có hai phiên vào hai ngày rằm và mồng một”. Tuy nhiên sau hơn 100 năm vào cuối thê kỷ 18, danh sĩ Phạm Đình Hổ tả rõ 8 phiên trong tháng “… phiên chợ là các phiên ngày 1, 6, 11, 14, 15, 21, 26, 30 “[5:83]. Thế kỷ 19, khi không còn giữ vị trí đế đô của quốc gia Kẻ Chợ bước vào thời kỳ suy thoái và ngay lập tức tần suất các ngày phiên chợ đã “giảm nhiệt” đáng kể chỉ còn 5-6 phiên mỗi tháng[2:38].

Cảnh phố xá ngày phiên chợ ở thế kỷ 17,18 thật sầm uất khiến chúng ta ngày nay cũng không khỏi ngỡ ngàng: “…Rất nhiều phố tuy đã rộng rãi, nhưng lúc đó cũng trở thành chật ních, mà người ta hy vọng là nếu có thể tiến lách qua những đám đông khoảng chừng 100 bước trong nửa giờ, thì cũng đã sung sướng lắm rồi”[10:12]. Chợ thường họp từ 6 giờ sáng đến 2 giờ chiều, có chợ kéo dài đến 5 giờ chiều. Thời gian họp chợ chốn kinh thành dài hơn chợ nông thôn, thường từ sáng sớm 5 giờ sáng cho tới 16 -17 giờ. Song ở Kẻ Chợ còn có các loại chợ họp theo những giờ đặc biệt, đó là chợ Hôm chuyên họp lúc chiều tối ở Nam Phố (phố Hàng Bè), lại có những chợ chỉ họp lúc tinh mơ như chợ Mơ vùng Hoàng Mai. Có một chợ Hôm khác ở làng Giáo phường, tổng Tả Nghiêm huyện Thọ Xương (phố Huế ) vốn là một chợ nhỏ cũng chỉ họp lúc chiều hôm. Sang đầu thế kỷ 20, chợ này lớn dần chỉ thua chợ Đông xuân và họp suốt ngày từ sáng sớm, bởi vậy mới có câu ca dao:

Chợ Đuổi họp lúc chiều tà 
Chợ Hôm họp sáng…chợ Hàng Da họp ngày!

Sau 6 giờ chiều, các ông “khán chợ”(bảo vệ) ở chợ này đóng cổng đuổi hết mọi người khỏi chợ. Vì kế sinh nhai, dân chúng bèn kéo nhau về bãi cỏ làng Thể Giao họp chợ tiếp… Và dần dần hình thành nên chợ Đuổi còn lưu tên phố cho tới ngày nay.

Các mặt hàng ở chợ là rất đa dạng đủ các loại từ thực phẩm thịt, cá, rau xanh, trái cây cho đến các đồ gia dụng thông thường nồi niêu, dao, xoong chảo …Thật thú vị khi đồ trang sức tôn vinh cái đẹp được cho biết là rất hấp dẫn thị trường. Hàng hoá ở chợ Việt Nam từ thế kỷ 17 đã được bổ sung nhiều mặt hàng của phương Tây như gương lược, kim và các đồ dùng phụ nữ khác mang lại món lời lớn. Giáo sĩ Bori (khoảng 1618) cho biết: một hộp kim giá không quá 30 duy-ca (tiền xưa của Venize) mà lãi hơn 1000”[3:107].Các lái phương Tây giới thiệu, nhắn nhau mang những thứ như hoa tai, nhẫn, xuyến đang là các mặt hàng ăn khách đến xứ Đại Việt. Vào thế kỷ 18 các loại nồi gốm truyền thống đã bị cạnh tranh dữ dội bởi nồi niêu xoong chảo bằng gang bằng đồng của phương Tây. Thuốc bắc, thuốc nam và cả thuốc tây cũng đã có mặt từ cuối thế kỷ 17 ở các chợ Đông Kinh (Lê triều cựu điển). Chính Tuyên phi Đặng Thị Huệ của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đã từng uống thuốc dưỡng thai của Tây y. Trầu cau là một mặt hàng cực kỳ thiết yếu của dân chúng Đại Việt đương thời. Nó có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm của Kẻ Chợ. Ta hãy nghe A.de Rhodes kể: “Họ có tục đem theo một túi con hay một bị con đầy, đeo ở thắt lưng…Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau rồi mỗi người lấy ở trong túi của bạn một miếng trầu để ăn…theo đúng phép xã giao…Người ta nói có tới 50 000 người bán lẻ và bán ở nhiều địa điểm trong thành phố”. 

Từ chợ nông thôn, chợ thành thị …đến chợ chuyên doanh 

Do nhu cầu xã hội tăng vọt và là trung tâm thương mại toàn Đại Việt nên các chợ đầu mối chuyên doanh đã sớm tụ họp vào thế kỷ 17 ở những nơi thuận tiện nhất. Cửa sông Tô Lịch, nơi giao tiếp với sông Hồng xuất hiện chợ chuyên doanh gạo thuộc làng Giang Nguyên (làng Nguồn Sông). Toạ lạc nơi cửa sông chợ Gạo rất thuận tiện cho các tàu thuyền lớn thu mua gạo từ các trấn khác chở về Đông Kinh xuống hàng rồi từ đây phân phối đi khắp các chợ trong vương quốc và chứng tích mong manh là cái tên phố Chợ Gạo còn mãi đến ngày nay. Thậm chí nhiều ghi chép còn lại cho thấy thương lái phương tây đã từng tham gia một cách tích cực vào nghề kinh doanh béo bở này. “…Ngày 12-6-1682 tàu Croonvogel- Hà Lan, tải cùng với hàng khác đến Đàng Ngoài 40 kiện gạo …Tháng 5-1688 tàu Gaasperdam tải đến Đàng Ngoài hơn 80 kiện gạo… được chúa Trịnh Căn để cho buôn bán được dễ dàng…..Tháng 7-1689 tàu đó lại chở đến 80 kiện gạo nữa [3:109]. Có thể đoán định rằng số lượng gạo lớn như vậy phải được phân phối chủ yếu bằng đường thuỷ qua chợ đầu mối là Chợ Gạo Giang Nguyên.

Chợ Cá ở phố Hàng Cá ở sát ngay bên sông Tô Lịch thuộc thôn Đồng Thuận tổng Hậu Túc huyện Thọ Xương. Nơi đây từng có trại “tiên ngư” (cá tươi) vốn là nơi chuyên doanh về cá của kinh thành. Hồ Tây “kho thuỷ sản” tươi sống vô tận cho chợ Cá còn nổi tiếng cho tới ngày nay bởi loại cá Chép và tôm Bạc thơm ngon . A. Rhodes từng nhận xét: “cá ở đây có bán rất nhiều và rẻ mạt, những con ngon nhất và to nhất cân nặng từ 10-12 cân anh [1:90]. Sách Thượng kinh phong vật chí cho biết: “To mà béo là cá Hồ Tây kém gì cá Lư sông Tùng, cá ngon ở hàng bính, cá chép ở sông Hà, cá mè sông Lạc”[2:90]

Chè là một mặt hàng chuyên doanh khác ở khu vực thôn Hương Mính (Chè thơm) ở phía đông bắc Hồ Hoàn Kiếm. Làng này vốn tên nôm là hàng Chè, từ năm Minh Mạng thứ 11 mới bị đổi thành tên Hán- làng Hương minh chạy từ khoảng phố Cầu Gỗ tới khu đền Bà Kiệu ngày nay. Đây là mặt hàng cao cấp của giới thượng lưu, nho sĩ, các gia đình danh gia vọng tộc chốn kinh kỳ. Thế kỷ 17-18 loại chè Mạn Hảo - đặc sản vùng trung du tây bắc Đại Việt (vùng đất này đã được nhập vào bản đồ Vân Nam theo thoả thuận Pháp Thanh cuối thế kỷ 19). Đó cũng chính là nguồn gốc danh từ “chè Mạn” còn tồn tại tới nhữmg năm cuối thế kỷ 20. Các nhà quyền quý thời này uốngtrà rất công phu, họ còn đặt hàng trước các loại chè hiệu “Chính sơn” để phô trương sự sành điệu trà nghệ của mình.

Thời phong kiến, tầng lớp nho sĩ, học trò đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội đó chính là “nguyên khí” của quốc gia. Đối với ho, giấy là mặt hàng thiết dụng tưởng còn cần hơn cả “cơm ăn nước uống”. Câu chuyện Hà Tông Huân, một danh sĩ nhà Trịnh (đỗ Bảng nhãn năm 1724) từng thưởng cho cậu học trò Phan Kính 30.000 tờ giấy viết, đến nỗi không có chỗ để ở nhà trọ phải xin thầy cho gánh dần về dùng đủ thấy lượng giấy tiêu thụ trong xã hội lớn biết nhường nào. Những nhu cầu ấy đã tạo nên cả một chợ chuyên doanh giấy bên bờ sông Tô duyên dáng vùng Dịch Vọng. Chiếc cầu “Thượng gia hạ kiều” nằm kề gần chợ thuộc địa phận làng làm giấy Thượng Yên Quyết cũng được dân chúng đặt tên là “Cầu Giấy”.

Khu phố thương mại Đông Kinh còn có một chợ chuyên doanh mặt hàng đặc biệt nữa-Chợ Yếm Lụa. Trong dân gian từng truyền tụng câu ca dao cổ:

Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi

Hình ảnh văn chương về dải yếm đào đã phần nào nói lên vai trò quan trọng của nó trong đời sống phụ nữ Việt xưa. Yếm vốn không chỉ là một bộ phận trang phục để che đôi “Bầu mơ” mà còn như một món thời trang, trang điểm tôn vinh vẻ đẹp của phái “liễu yếu đào tơ”. Thường yếm để mộc hoặc chuội trắng.Với những cô gái trẻ thích nhuộm màu hoa đào làm đỏm, các phu nhân, mệnh phụ lại dùng màu điều đỏ thắm để tỏ cái vẻ đoan trang chững chạc với đời. Đông Kinh- Kẻ Chợ đã từng có hẳn một chợ chuyên doanh y phục phụ nữ: chợ Yếm Lụa nằm ở phường Đồng Lạc (đoạn đầu phố Hàng Đào). Gần đây người ta đã tìm thấy tấm bia gắn trên tường số nhà 38 Hàng Đào nguyên là đình Đồng Lạc. Nội dung bia khẳng định đây chính là ngôi đình “… Quyến yếm lụa thị (chợ yếm lụa) có từ xa xưa là đình của phường buôn bán yếm và y phục phụ nữ, năm nay hư hỏng nặng được trùng tu”(Bia do cử nhân Phạm Đình Viên soạn năm 1856). Phường Đồng Lạc còn có Chợ Tơ cạnh Hàng Đào chỉ chuyên bán buôn tơ lụa không bán lẻ, họp phiên vào ngày 1 và ngày 6 hàng tháng[11:106]. Thế kỷ 17,18 là thời kỳ “lên hương” của sản phẩm tơ Đại Việt. Chất lương tốt, giá thành rẻ đã đưa tơ xứ Đông Kinh trở thành một trong hai mặt hàng xuất khẩu chính theo các thương thuyền Hà lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây ban Nha, Nhật ngựơc xuôi trên hải trình giao thương quốc tế đương thời. Lụa Vạn Phúc là mặt hàng chủ đạo được bán buôn ở chợ Cầu Đơ (Hà Đông) và là đầu mối cung ứng hàng hoá quan trọng cho phố Hàng Lam, Hàng Đào trong kinh thành.

Các chợ chuyên doanh còn xuất hiện theo làng nghề ở các vùng quanh kinh đô. Đó là làng Đa Ngưu chuyên buôn thuốc Bắc ở Hưng Yên từ mấy trăm năm nay. Từ thế kỷ 17, Thổ Hà đã có một nơi chuyên bán đồ gốm ở chợ Tam Bảo.Tấm bia đá khắc năm Chính hoà 14 ghi rõ: “Chợ Tam bảo xã ta mỗi tháng 12 phiên cang sành giao dịch” (KTTCN Triều Nguyễn trang 95).

Chợ chuyên mua bán trâu bò năm ngày họp một phiên ở phía nam Kinh thành. Đi kèm với chợ này là nghề mổ thịt cổ truyền đem bán tại các chợ nhỏ được ghi tạc trong tấm bia dựng năm 1669: “phá xương trâu bò thì dùng búa rìu, cắt thớ thịt thì dùng dao nhọn…”. Lò mổ ở phường Hồng Mai, vùng này còn được triều đình giành cho đặc quyền giết thui trâu bò cung ứng trong các dịp lễ tết [7:54]. Một số chợ chuyên doanh khác được ghi nhận như Chợ gà vịt ở thôn Tân Lập-Tân Khai (gần phố cửa Đông), Chợ thịt chó và chó thịt ở gần thành (phố Hàng Bồ). Thương gia Dampier người Anh (1688) còn cung cấp những thông tin lý thú khác: “……người ta thấy bán ở chợ những loại hàng như lợn, khá nhiều lợn sữa(lợn giống), trứng gà vịt đủ loại to nhỏ tươi và ướp, bã mắm và nước mắm. Ở Kẻ Chợ ta còn thấy bán cả thịt chó, thịt mèo mà người ta còn nói đến cả châu chấu nữa” [8:27].

Khác với chợ ở thành thị, chợ vùng nông thôn, vùng ven kinh đô họp theo phiên nhiều ít tuỳ tình hình kinh tế từng vùng. Đặc điểm của chợ nông thôn là loại chợ tự sản tự tiêu kiểu “cây nhà lá vườn” chợ nông thôn không có hàng quán cố định, không có người thường trực. Chợ thường họp ở bãi đất rộng, đường cái, bến đò ngang. Thực sự chợ nông thôn chủ yếu là nơi đổi chác sản phẩm tự sản của cư dân địa phương phục vụ nhu cầu sinh hoạt hơn là tính thương mại thu lợi nhuận chuyên nghiệp. Người có ổ trứng gà, quầy chuối, ổ chó vv… mang bán đổi lấy miếng thịt lợn, miếng đường phên, manh quần tấm áo tạo dựng từ một hình thức thương mại sơ cấp.

Tuy nhiên dù là chợ nông thôn hay thành thị thì chủ yếu vẫn là phụ nữ tham gia. Du khách Trung quốc Phan Đỉnh Khuê có mặt ở Đông Kinh năm 1688 đã cho biết “việc buôn bán ở Kẻ Chợ bao giờ cũng do phụ nữ đảm nhiệm”. Thậm chí Domoutier còn đếm rõ”… cứ trong 100 người đi chợ, người ta đếm được 84 người là đàn bà con gái”. Chuỗi dãy tư liệu trong các tập nhật ký của Kofler, Gion Oet đều khẳng định vai trò chủ đạo của họ, cả ở việc mối lái chạy hàng với thương gia nước ngoài và một số không ít trong họ đã trở thành vợ của thương gia nước ngoài đảm đương việc gom hàng, đặt hàng khi chồng đi vắng.

Một điều hết sức thú vị là gi cả hàng hoá ở các chợ xưa rất ổn định. Trong sách “Tình hình công thương nghiệp Việt nam thời Lê mạt” của Vương Hoàng Tuyên nêu rõ: “năm1741 giá một con bò là 5 quan tiền… 61 năm sau năm1802 giá một con bò cày cũng đựoc định là 5 quan tiền…

Năm1663, 100 thùng thóc giá 3 quan tiền…Đến năm 1741, 1 quan tiền 50 bát thóc tính ra thùng thì chừng hơn 3 quan 100 thùng thóc, giá thóc đã gần như ổn định suốt gần một thế kỷ với biết bao sự biến thiên, vật đổi sao dời.. Hai thí dụ trên cho ta thấy trong suốt hàng trăm năm các mặt hàng thiết yếu của xã hội gần như không có biến động.

Ngày nay ai cũng phiền lòng về các chợ tự phát và chợ “chồm hổm” lấn áp phố phường, cản trở giao thông…song ít ai biết rằng đó là một tập quán xa xưa của người Việt. Hình ảnh này từ các thế kỷ trước đã được cc gio sĩ phương ty ghi nhận “…người thương nhân ngồi ngay xuống đất bày hàng hoá ra trước mặt họ…tất cả ngồi thành hàng quanh khu đất trống…ở giữa để chừa ra một lối đi cho người cưỡi ngựa hoặc xe bò”, “…việc thành lập một cái chợ không tốn kém gì cả mà chỉ cần đến thời tiết tốt. Người nông dân ngồi ngay xuống đất, trên đường phố, hàng hoá để trong một vuông vải hay trong một cái làn…” [2:86].

Vãn chợ Đông Kinh Kẻ Chợ xưa cho ta thấy lại cái không khí sầm uất náo nhiệt một thời của trung tâm thương mại Đông Kinh - Kẻ Chợ thủa cực thịnh. Sẽ thật có ích, nếu chúng ta có thể tìm lại dấu ấn đời sống thương mại của dân chúng Kẻ Chợ xưa góp phần dần tái hiện lại chân dung về một đô thị Thăng long – Đông Kinh trung đại đầy ký ức vàng son, một phần gương mặt của văn hóa Việt Nam.


T.Q.Dũng 11/2008



Tài liệu tham khảo:

[1] Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài. Alexandre De Rhodes. UBĐK Cơng gio 1994.

[2] Thăng Long H Nội TK 17, 18, 19. Nguyễn Thừa Hỷ. Hội Sử học Việt Nam 1993.

[3] Thương mại Việt Nam TK 17, 18, 19. Thành Thế Vĩ. Nxb. Sử học 1961.

[4] Hà Nội nửa đầu TK XX. Tập 3. Nguyễn Văn Uẩn. Nxb. Hà Nội, 1995.

[5] Vũ trung tuỳ bút. Phạm Đình Hổ. NXB Trẻ. 1989

[6] Một số văn bản pháp luật VN TK 15-18. Viện Nhà nước và Pháp luật. NXB. KHXH 1994.

[7] Lịch triều hiến chương loại chí. Phan Huy Chú. NXB Hà Nội 1961.

[8] Voyages and Discoveries 1688. Wiliam Dampier, London 1931.

[9] Văn hóa Việt Nam qua các bưu ảnh cổ. Hội Mỹ thuật VN. NXB Mỹ thuật 2001.

[10]Description du royaume de Tonquin. S.Baron (1680). RI 1914-1915.

[11] Trăm năm chuyện Thăng Long-Hà Nội. Siêu Hải. NXB Thanh niên 2000.


*Bài viết do tác giả Trịnh Quang Dũng gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

CHÉN TRÀ TRONG SƯƠNG SỚM

Trà cụ Việt xuyên thế kỷ

Khảo cứu của Trịnh Quang Dũng

Việt Nam là một trong tám vùng quê hương của Trà còn lại trên thế giới. Không những vậy văn hóa Trà đã cùng đồng hành xuyên thế kỷ trong dòng chảy lịch sử văn hoá của đất nước… Nền văn hoá Trà đậm đà bản sắc Việt đã góp sức đưa Việt nam trở thành nước xuất khẩu trà thứ 5 trên thế giới và ước đạt doanh thu 300 triệu USD vào năm 2011 .Đã đến lúc chuùng ta cần biết một cách đầy đủ hôn về Trà nghệ Việt và tôn vinh những di sản văn hóa trà mà thế hệ cha ông một thời gắn bó, dầy công vun đắp.

Trà cụ Việt
Có thể thấy rất rõ trà cụ Việt không có gì nổi trội, song cũng không thể phủ nhận những nét riêng, độc đáo mà nền văn hoá trà đại thụ Trung Hoa cũng chưa có được. Những vần thơ cuûa Trần Nguyên Đán, khẳng định dòng trà “ Bác học” trong giới quý tộc Đại việt đương thời đều theo mô týp Trung hoa và còn dùng chảo nấu trà,một lọai trà cụ thịnh hành thời Đường -Tống. “Trà ướp Hoa Lan nấu trong vạc cổ đượm hơi sương….” 
.

Bát trà trang trí sen đời Trần tại chùa Quỳnh Lâm

Người ta còn uống trà trong Oản, Trản …vào thời gia trước thế kỷ X .Sau đó ấm chén trà đã được phát kiến,đăc biệt loại ấm Tử sa ra đời vào thời Minh-Thanh dã tạo nên một thời kỳ thịnh vượng của trà nghệ.Sang đến đời Khang Hy cách thưởng trà đổi sang lối hãm trà trong từng chén nhỏ song cung cách uống trà bằng ấm chén vẫn được ưa chuộng..
.

Ấm men trắng ngà thế kỷ 12-13

Chưa khẳng định rõ có từ bao giờ, nhưng chắc chắn trà cụ Việt đã có ngay từ thời Lý. Từ thế kỷ 15 trở về sau đã xuất hiện thêm nhiều lọai trà cụ thuần Việt và Bát tràng từng là một trung tâm sản xuất trà cụ nổi tiếng Đại việt. Những loại ấm chuyên bằng gốm men tk 11-12 cho biết lúc này Trà đã khá thịnh hành ở việt nam. Ấm chuyên nhỏ thời Lý hình quả bí ngô nhiều múi men trắng ngà, nâu đen hoặc mem da lươn, vai ấm trang trí bằng cánh sen nổi, hoặc gắn bông hoa nổi,cuống khắc chìm đã được phát hiện…Các nhà khảo cổ còn tìm thấy ấm trà tay quai hình con rồng ở vùng Thanh hoá,Hoà bình.. Thế kỷ 13-14 việc uống trà phát triển mạnh hơn với nhiều kiểu ấm chuyên mới men ngà vẽ lam mờ, men ngọc men nâu [Đồ gốm trong văn hoá ẩm thực Việt nam trg.81].
Thế kỷ 17 –18 trà cụ Việt đạt tới thời cực thịnh. Chắc chắn thế kỷ 17 – 18 cùng với sự phát triển của trà nghiệp và thú thưởng ngoạn trà rộng rãi trong cộng đồng dân cư mà công nghệ chế tác trà Cụ Việt đã đạt đến mức hưng thịnh huy hoàng nhất có phần không thua kém gì Trung Hoa. Ta hãy nghe những dòng tâm sự của danh sĩ đương thời Phạm Đình Hổ: “ Khoảng năm Cảnh Hưng ở Tô Châu có chế ra một thứ hoả lò… người ta đua nhau mua chuộng.. song gần đây nước ta đã có người biết cách chế ra, cũng bắt chước luyện than lại mà hầm lửa nắm đất lại mà nặn lò so với kiểu Trung Quốc cũng chẳng khác gì mà người ta cũng ưa chuộng lò, siêu, ấm chén lại chế ra nhiều kiểu thích dụng. Song chế ra nhiều thứ trà kẻ thức giả cũng cho làm phiền lắm.”
Thời Lê–Trịnh xuất hiện nhiều loại ấm đồng có quai xách đúc bằng khuôn đất từ đồng nấu chảy ở làng Lương tỉnh Bắc Ninh. Làng nghề Đại Bái lại chế tạo siêu đồng bằng các lá đồng dát mỏng gò cuốn và hàn với nhau.
.
Ấm chén và khay trầu, đồ gốm VN thế kỷ XVIII
 
Những công cuộc khảo cổ gần đây còn cho phép chúng ta biết đến loại chén Tống và chén quân thuộc dòng gốm Chu Đậu được vớt lên từ con tàu cổ “Cù Lao Chàm”. Bảo tàng Adam Malik Indonesia còn lưa giữ những trà cụ gốc Việt như bát gốm uống trà, đặc biệt nhất là bộ ấm chén khay trầu gốm liên hợp có niên đại thế kỷ 18 mang phong cáchc rất Việt có một không hai. Nghệ nhân đã khéo léo chế tác kết hợp bộ ấm chén trà và khay trầu vào làm một thật tài tình. Theá kyû 17-18 ñồ gốm Cao Chi (Giao chỉ) du nhập vào Nhật Bản và đã raát được ưa chuộng, bắt chước cho thấy đã có những bộ trà cụ Việt theo chân các thương thuyền sang đất nước Phù Tang. 
.
Ấm Trà Chúa Trịnh đặt ký kiểu

Nói về trà cụ Việt Nam không thể bỏ qua dòng trà cụ ký kiểu đặt làm tại Trung hoa theo mẫu thiết kế của Đại Việt. Lọai trà cụ này chỉ thịnh hành từ đầu thời Lê-Trịnh lan dần sang triều Nguyễn và mất hẳn vào cuối TK 19. Đây là loại trà cụ bằng sứ vẽ men Lam hoài cao cấp đặt làm tại lò Cảnh Đức trấn nổi tiếng Trung Hoa .Toàn bộ trang trí, thiết kế mỹ thuật lại do các vua chúa và nghệ nhân Việt Nam nghĩ ra nên thấm đượm tâmhồn Việt, cảnh vật Việt. Chúng thật sự là một phần di sản vật thể quý báu, ẩn hiện phần nào diện mạo đã mất của kinh đô Thăng Long, giúp chúng ta tìm lại được một quá khứ thời vàng son của ông cha. Một hiện vật giá trị của dòng trà cụ này còn được lưu giữ là một chiếc ấm trà có niên đại khá sớm vào đầu thế kỷ 17 thuộc Đoài Cung – Phủ chúa Trịnh. Chiếc ấm đã mất nắp được nhà sưu tập khéo kiếm một chiếc nắp vẽ rồng men lam hồi song nền men trắng già hơn men thân ấm. Nguyên thủy có thể nhà Chúa (Thanh Đô Vương Trịnh Tráng) đặt ấm không có quai cầm để chế tác thêm quai ấm bằng vàng (?) khi ngự dụng ấm trà. Hai bên thân ấm vẽ Phụng bay trong mây, mặt sau ấm vẽ thạch trúc phần bụng vòi ấm trang trí lá Cúc cách điệu [Cổ vật gốm sứ Việt nam đặt làm tại Trung hoa]. Cụ Vương Hồng Sển từng sưu tập được chiếc chén tống ký kiểu hiệu đề “Khánh Xuân Thị Tả” của Chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm, vẽ men lam hồi rồng lớn năm móng bay lên không trung đối mặt với rồng nhỏ đang từ dưới biển rẽ sóng bay lên. Bộ trà cụ khá hoàn hảo còn lại có hiệu đề nội phủ trị hữu gồm một đĩa bàn lớn, một chén tống và hai chén quân. Đĩa bàn lớn 175mm vẽ rồng 5 móng với chim Phụng đích thị là đồ ngự dụng của nhà Chúa và bà Tuyên phi . Đồ trà ký kiểu còn nguyên vẹn nhất là bộ đồ trà của vua Gia Long đặt làm năm Giáp Tý (1804) gồm một tống 3 quân đặt trên cùng một đĩa hàm ý vua tôi quây quần bên nhau hòai niệm một thời đồng cam cộng khổ phục quốc. Chỉ chín năm sau bộ đồ ký kiểu khác được Gia Long đặt làm đã trở về lối truyền thống một chén tống trên đĩa riêng rẽ với 4 chén quân, báo hiệu cho quy luật quân thần muôn đời chỉ có thể “cộng hoạn nạn mà không thể đồng phú quý” và hàng loạt các khai quốc công thần bị giết hại sau đó. Vua Gia Long còn một chiếc ấm cổ khác có thiết kế kiểu rất đặc biệt với vóc dáng vững chãi thanh thoát lại phảng phất hình dáng của chùa Thiên mụ. Khuôn ấm kỷ niệm buổi đầu tạo dựng xứ Đàng Trong của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng. Dòng trà cụ ký kiểu còn lại khá phong phú với lọ đựng trà men bạch định hiệu đề Cánh Thịnh nhị niên và chiếc ấm bát giác độc đáo đề Thiệu Trị niên tạo. Điều thú vị khi ta biết được trong nhà Chaigneau- viên quan người Pháp từng phụng sự tận tụy vua Gia Long sắp đặt đầy đủ trà cụ sành sỏi như một người việt thực thụ“….Khay thứ 2 đặt các tách uống trà …ở cửa sổ mặt tiền ngó ra ngoài có một cái bàn gỗ đặt các lò nấu bằng đồng ,bằng đất nung dành nấu nước pha trà”

Gặp gỡ chứng nhân Trà Nghệ việt
Dã sử ghi nhận ở Việt Nam đến đời Cảnh Hưng vẫn nhập các ấm Trà như một mốt thời thượng đồng thời cũng nói đến việc chế tác trà cụ ở Việt Nam. Điều đáng chú ý ở đây, danh sĩ Phạm Đình Hổ đã khẳng định bàn tay khéo léo của nghệ nhân Việt đã có thể chế tác rất nhanh những trà cụ nhập từ Trung Quốc một cách hoàn hảo. Điều này cho phép chúng ta nghó đến một nghề thủ công chế tác trà cụ bản địa phát triển mạnh mẽ đương thời Lê Trịnh song hành với thời vàng son của trà cụ Trung Hoa. Xét trong lịch sử trà cụ Trung Hoa ,Nhật Bản ta không hề thấy bóng dáng một loại trà cụ thuần Việt rất độc đáo và đầy sang tạo: Ấm Cù Lao. Ngược lại Ấm trà Cù Lao được nhắc đến nhiều trong các văn phẩm Việt Nam. Có thể nói đây là sản phẩm của một công nghệ tích hợp tài tình “4 trong 1” đầy ngẫu hứng: Ấm đun nước, ấm pha trà, hỏa lò và lò sưởi của nghành trà cụ Việt. Chính nó góp phần quan trọng tạo dựng nên hình ảnh một nền văn hóa trà đậm bản sắc Việt không thể nhầm lẫn. Qua nhiều tư liệu cổ cho phép khẳng định ấm cù lao được chế tác vào cuối thời Lê-Trịnh và chính những người thợ gò đồng lá Đại bái là chủ nhân sáng tạo ra loại ấm độc đáo cùng lúc vừa đun nước,vừa pha trà lại vừa sưởi ấm ngày đông gia rét. Ấm được các bậc nghệ nhân tiền bối chế tác gồm 3 ngăn. Ngăn trong là hoả lị, ngăn ngoài vừa là siêu đun nước-vừa là ấm pha trà bao quanh hỏa lị có vòi rót và quai cầm. Ngăn dưới là phần đáy thoát xỉ than hoa. Cả hai ngăn trên đều có nắp đậy. Ngăn dưới có nắp tháo rời được để xả bỏ xỉ than tro. Loại ấm đồng kỳ diệu này đến nay tưởng đã thất truyền chỉ còn trong ký ức... bỗng bất ngờ “tái xuất giang hồ” tại lễ hội trà Đà Lạt 2006 trong sự ngỡ ngàng, trầm trồ thán phục của giới ham mộ trà thời hiện đại. Một trng hợp thú vị, tại nhà ông Phạm Đình Nhân (chủ tịch Hội Cổ vật Thăng Long) tôi được mục kích một loại “ấm tích hợp” 4 trong 1 khác bằng gốm men nâu hỏa biến hình dáng khác biệt ấm cù lao nhưng cùng chức năng tương tự…“Ấm Cù Lao” quả là một sáng kiến tích hợp công nghệ chế tác hoàn hảo mà ngày nay ta quen gọi theo thuật ngữ thời @ là công nghệ 4 trong 1 (ấm trà – siêu nước – hoả lò – Lò sưởi). Ưu điểm nổi trội của ấm Cù Lao là kiểm soát chính xác điểm nước sôi và có thể điều khiển nhiệt độ hãm trà theo ý muốn. Tiết Đông Chí, thưởng trà sưởi ấm đàm đạo bên ấm cù lao tưởng không thú nào bằng. Nói đến ấm cù lao không thể bỏ qua than đun và kỹ nghệ luyện than của ngừơi Việt xưa ,Ta có thể biết kỹ thuật luyện than Đại Việt qua Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn : “…Năm đầu niên hiệu Vĩnh Khánh (1729) Đội Mộc Thán (than cây) mới được thiết lập thành ngạch 100 người được hưởng chế độ miễn nộp các số tiền gà gạo sai dư cùng tiền sản xuất và tạp dịch. Đội Mộc Thán được đặt dưới quyền điều khiển của viên quản trị đồ gia, dần dần được thêm lên 195 người. Kỹ thuật xây lò ủ luyện than lúc này đã hoàn thiện”. Đặc biệt ở phố hàng Than có mấy gia đình chuyên bán loại than hoa cho ấm Cù Lao. Mãi đến đầu thế kỷ 20 than hoa còn được bán ở nhà cụ Hậu số 68 phố hàng Than [Hà Nội đầu thế kỷ XX], đây là loại than gỗ được luyện đặc biệt dùng cho hoả lò đun trà dễ bén, đượm lửa và cháy hết mà rất ít khói. Những lõi than nhỏ như ngón tay cái, bén nhanh, đượm nhiệt được chế tạo bằng bột than tốt nghiền nhỏ trộn chất kết dính ép lại thành viên. Khi nhóm lò chỉ cần hai cây đóm nhỏ bỏ vào trước rồi mới bỏ than vào, than sẽ bắt lửa ngay và chờ một loáng đã sôi nước.
.

Ấm Cù lao tại Lễ hội Trà 2006

Khí vượng quốc gia như đang trở lại với con cháu, vậy nên chỉ chưa đầy 1 năm sau, chiếc ấm Cù lao thứ hai đã được cụ Lê Văn Kinh (Cụ Kinh vừa được phong tặng Nghệ nhân Thêu dân gian, hiện ngụ tại tiệm thêu Đức thành 82 Phan Đăng Lưu tp Huế) công bố giữa năm 2007. Chiếc ấm này mới hơn, dáng vẻ chau chuốt hơn so với chiếc ấm ở lễ hội Trà Đà Lạt. Xét về tổng thể hai ấm này giống nhau về nguyên lý chế tác song ấm cù lao của cụ Kinh đã có những cải tiến một số chi tiết giúp thuận lợi hơn khi sử dụng (tay xách cao hơn tránh sức nóng của miệng hoả lò, chỉ có một nắp đậy thay vì hai nắp phức tạp vv…) Chiếc ấm của cụ Kinh có niên đại cuối tk 19-đầu tk 20 còn chiếc ấm đầu là sản phẩm được chế tác trước đó nên còn có những khiếm khuyết vả không loại trừ có xuất xứ vào thời kỳ đầu của loại ấm cù lao ở cuối tk 18.
.
Ấm Cù lao của cụ Lê văn Kinh

Điều đặc biệt quý giá của chiếc ấm này bởi nó có lai lịch rõ ràng, thuộc dòng đồ gia bảo của Quan tham tri bộ Lễ triều vua Khải Định (tương đương thứ trưởng thường trực bộ Ngoại giao)- Cụ Nguyễn văn Giáo truyền lại cho cháu ngoại mình . năm nay 79 tuổi, cu Kinh đang là nhân chứng hiếm hoi gần như duy nhất của trà nghệ cung đình Việt . Cũng giống như nhiều dòng văn hóa khác, văn hóa viết về trà việt cực kỳ quý hiếm .Tư liệu còn lại đến nay đếm được trên đầu ngón tay khiến thế hệ con cháu khó lòng tái dựng được nghệ thuật thưởng trà của cổ nhân. Thực ra, dòng văn hóa trà việt mới chỉ bị đứt quãng vào nửa sau của thế kỷ 20 bởi văn hóa nô dịch thời thuộc địa ,bởi hai cuộc chiến tranh chống Pháp,chống Mỹ đầy máu lửa kéo dài suốt 30 năm và sự cáo chung của chế độ phong kiến Việt nam. Hầu chuyện cùng cụ Kinh gần một ngày trời trong tiết mưa dầm dã xứ Huế, bên ấm trà nóng tỏa hương thuần khiết, giọng cụ Kinh trầm ấm, lúc xa lúc gần…nghệ thuật thưởng trà việt xưa dường như tái hiện lại trong hương trà. Luận cứ trà nghệ việt không dùng trà đồng như trà nghệ Trung hoa tôi nung nấu bấy lâu, nay đã được cụ Kinh khẳng định là chính xác.Thủa niên thiếu,là cục “cưng” của ông ngoại cụ thường được ngồi ‘hóng chuyện”khi các cụ thưởng trà. Một viên lính lệ chuyên đun nước dưới bếp bằng một siêu đồng lá mỏng tang rất chóng sôi .Khi sôi chuyên sang ấm cù lao đưa viên lính lệ khác dâng lên cụ Tham tri. Là chủ buổi thưởng trà, quan tham tri bộ Lễ Nguyễn Văn Giáo luôn tự tay lau rửa, tráng ấm chén, chuẩn bị bàn trà và pha tuần trà đầu. Chủ trà nâng chén trà bằng hai tay mời khách cùng đồng ẩm. Đợt đồng ẩm này như một nghi lễ bắt đầu cuộc thưởng trà. Khi ấy các lính lệ, cụ Kinh dều phải lui ra để các cụ đàm đạo. Đây chính là phong cách “Trà nô” do Chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm khởi xướng vào cuối thế kỷ 18 và còn được lưu truyền trong dân gian tới ngày nay. Nghệ thuật “Trà nô” là nét đặc sắc, rất riêng ghi dấu ấn thời đạt cực đỉnh hưng thịnh của trà nghệ Việt. Vị quân vương tài hoa - Chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm (1739 -1782) đã dầy công ñaåy nghệ thuật thưởng trà lên một triết lý thâm sâu…thoát hẳn khỏi cái bong của văn hóa trà đại thụ Trung hoa. Ông đã có công đưa ra một phong cách thưởng trà độc đáo gọi là “Trà Nô”. Chúa tự coi mình là “nô lệ” của trà để tận hưởng hết được cái hay, cái tinh túy, cái nhàn nhã thanh tao của thú thưởng trà. Không thiếu người hầu, song hàng sáng bên long sàng, bà Tuyên phi tự bắc bếp nhóm lò châm lửa đun nước còn Nhà Chúa đích thân tự tay hãm trà để ngự thưởng. Chúa dùng các siêu đồng nhỏ để đun nước. Hết siêu này lại đun siêu khác để pha trà. Than đun thì dùng than gỗ thông đặt mua từ Trung Quốc, tỏa nhiệt lại không lấm tay. Các bộ ấm trà của chúa đều được ký kiểu tại lò Cảnh Đức Trấn (Trung Quốc) theo các trang trí do chúa nghĩ ra. Am chuyên nước của Chúa có rất nhiều, đều là đồ cổ quý giá bằng đất tử sa Nghi Hưng. Đặc biệt Chuá dùng trà ban cho triều thần như một phần thưởng cao quý. Được Chúa ban cho một chén trà thì quả là vinh hạnh bởi ai cũng biết cái triết lý” Trà Nô” của Chúa…
.
Trà nô Thánh tổ Thịnh vương Trịnh Sâm

Cụ Kinh cho biết quan Tham tri thường tự nhận là “Trà nô” trong những buổi thưởng trà.Sau tuần trà đầu, chủ nhân có thể ủy quyền cho người ngồi bên phải kế mình pha trà mời khách cho tới hết buổi thưởng trà.Một viên lính lệ đứng xa ,mặt cúi xuống phe phẩy hầu quạt các cụ. Người việt luôn uống trà một tay, bằng cách xoay cổ tay để dùng chính bàn tay nâng chén trà vừa uống vừa che miệng. Đây cũng chính là điểm khác biệt với kiểu thưởng trà hai tay lai Trung hoa ở các trà quán hiện nay (một tay nâng chén trà ,một tay che miệng uống như uống rượu) . Ông cha ta luôn dùng chén Tống chuyên trà cho đều và để giữ hương trà chứ không dùng cách rót“lia trà” thay cho chén Tống như thường thấy ngày nay.Phong cách thưởng trà việt rất tinh túy thâm sâu, chén trà đôi khi thay lời tỏ nỗi bất bình.Một khi phật ý,người thương trà dừng uống đổ ngay chén trà vào ống “phóng”( ống nhổ). Cách pha trà cũng rất đặc biệt, trước tiên đổ trà lên long bàn tay để ước lượng rồi cho vào ấm ,chế nước sôi. Dùng đũa Ngà khuấy đều trong ấm rồi chuyên nước nhất ra chén Tống. Rót nước sôi vào ấm lắc nhẹ cho đều trà và tiếp tục pha nước hai vào chén Tống. Lúc này mới chuyên trà sang các chén quân mời quan khách.Chén trà thường được uống theo kiểu “ba hồi”(ba ngụm). Hớp một đưa chén trà lên nhấp môi nhẹ vừa để thưởng hương trà, vừa để thử độ nóng. Hớp hai uống chính để thưởng vị đậm đà tinh khiết rồi tiếp tới hớp ba uống một hơi hết chén trà và “hồi” chén quân về khay.Trước khi hồi chén quân, các cụ thường dùng sức nóng ở thân chén lăn chườm lên mí mắt gọi là thuật “minh mục”giữ cho mắt sáng lâu dài… Cụ tham tri luôn dùng hai cữ trà trong ngày, cữ trà sáng thường theo phong cách “Quan trà” ăn mặc chỉnh tề, uống các lọaị trà Tàu hảo hạng. Cữ trà buổi chiều thường theo phong cách “Dân gian” tự tại thoải mái thưởng trà trên chiếc chõng tre ngoài sân hè. Thảng hoặc, cụ còn dùng cả nước vối bình dân thay trà. Cụ Kinh say xưa khi kể về bộ sưu tập“trà cụ”đồ sộ hàng trăm kiểu của ông ngoại mà phần lớn là quà tặng ngoại giao của bạn bè hoặc từ những chuyến công cán của quan Tham tri. Trong“kho” trà cụ gia bảo ấy,cụ Kinh khẳng định có rất nhiều bộ trà cụ thuần việt được sản xuất từ các lò gốm sứ nổi tiếng của Việt nam. Một bộ trà cụ Việt mà cụ Kinh rất nâng niu tới ngày nay là bộ chén trà với chất xương gốm có phần hơi thô nhưng màu men rạn trắng ngà thật kiêu sa. Miệng các chén trà nạm vành đồng thùa ( một loại đồng pha tỷ lệ lớn vàng và bạc) không bao giờ lên teng .Bộ chén đặc biệt này từng được cụ Vương “gạ”đổi với bất kỳ món đồ cổ nào trong nhà cụ…song cụ không chiu cho cụ Kinh biết về nguồn gốc qúy phái của món đồ.Giọng cụ Kinh bỗng trầm lắng xót xa…khi nhắc tới sự ra đi của kho báu vật ấy. Cụ Kinh vốn là bạn vong niên với cụ Vương hồng Sển và nhà văn Sơn Nam nên trong buổi quốc biến loạn lạc năm 1975 theo ý kiến mọi người cụ quyết định di tản kho báu vào Sài gòn…và định mệnh bi thương đã đến với sự tan tác của những món gia bảo trong khói lửa chiến tranh. Số còn lại ít ỏi ở Huế cũng lần lượt “đội nón ra đi” để cưu mang cuộc sống gia đình chật vật trong những năm tháng đầy cam go của đất nước. Nhờ trời, cụ vẫn còn lưu giữ được một số đồ gia bảo hiếm hoi trong đó có chiếc ấm Cù lao độc đáo góp tiềng nói khẳng định công nghệ chế tác trà cụ việt… Trà cụ việt bằng đồng hiện còn tìm được loại ấm “Con cò”.Có tên dân gian như vậy có lẽ do vòi ấm vươn dài như cổ cò! Đặc điểm của loại trà cụ này là thường đi theo cặp và cán bằng đồng rỗng không có chuôi cầm. Theo đạo diễn Minh Ngọc (TBT Báo SK Tp HCM), người từng được “mục kích sở thị” cụ Lý trưởng (bác ruột ông) dùng ấm Con cò pha trà vào khoảng những nãm 40 của thế kỷ trước. Cái độc đáo ở chỗ cụ có cái chuôi bằng sừng riêng để tra vào cái cán rỗng ấm nước đang sôi trên bếp nhấc ra rót vào ấm chuyên pha trà và dung chuôi sừng đặt ấm nước thứ hai lên bếp đun. Như “trời định”, khi tuần trà đầu vừa dứt cũng là lúc ấm nước thứ hai vừa sôi,quả là sự tính toán thần diệu của người xưa.
.
Đồ Trà kí kiểu của Tổ Trà nô

Trải suốt hành trình hơn 10 theá kỷ, văn hóa trà Việt đã vật vã thăng trầm cùng lịch sử dân tộc để lại cho hậu thế ngày nay một nét văn hoá Trà thấm đẫm bản sắc Việt. Trà nghiệp Việt Nam đã không ngừng vươn lên trong “Top 5” những nước sản xuất ,xuất khẩu trà của thế giới.Theo dự báo của hiệp hội trà Việt nam,doanh thu từ trà sẽ đạt con số 300 triệu US đôla rất ấn tượng vào năm 2011 . Lễ hội trà Việt lần đầu tổ chức ở Đà Lạt thaùng 12 năm 2006 đã gióng lên hồi chuông báo hiệu văn hóa trà Việt đang thức tỉnh sau giấc ngủ triền miên hơn nửa thế kỷ. Trà Việt đang rất cần sự góp sức chung vai của cả công đồng việt để tìm lại chính mình,phục hưng một thời vàng son của trà việt. Những nỗ lực ấy sẽ giúp cho nghiệp trà việt cất cánh vươn cao, vươn xa trên con đường hòa nhập và chinh phục thế giới góp phần làm cho nước mạnh dân giàu.
.
Tp Hồ Chí Minh tháng 12/2008
Trịnh Quang Dũng

*Bài khảo cứu này do tác giả Trịnh Quang Dũng gửi riêng Nguyễn Xuân Diện-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả !
-->đọc tiếp...