Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn VOA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VOA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

TS. Nguyễn Hưng Quốc: VIỆN KHỔNG TỬ VÀ QUYỀN LỰC MỀM CỦA TRUNG QUỐC


Viện Khổng Tử và quyền lực mềm của Trung Quốc 
Nguyễn Hưng Quốc
05.11.2013

Ở Việt Nam, trong suốt mấy tuần vừa qua, dư luận, ít nhất là trong giới trí thức, khá xôn xao về quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho phép thành lập Viện Khổng Tử tại trường Đại Học Hà Nội. Tất cả đều đồng thanh bày tỏ sự lo ngại và bất bình: Họ cho đó là dấu hiệu của cuộc xâm lược văn hóa, từ phía Trung Quốc, và của sự đầu hàng trước cuộc xâm lược ấy, từ phía Việt Nam.

Trước khi bình luận, có mấy điều chúng ta cần lưu ý:

Thứ nhất, Viện Khổng Tử được chính phủ Trung Quốc thành lập vào tháng 6 năm 2004 với số tiền trên 500 triệu Mỹ kim, hiện nay đã có trên 400 cơ sở trên khoảng hơn 100 quốc gia (chưa kể khoảng 400 viện khác đang nằm trong dự án và cũng không tính các Lớp học Khổng Tử, Confucius Classrooms, thường là một bộ phận của Viện Khổng Tử, Confucius Institute, nhưng cũng có khi tồn tại riêng rẽ ở những nơi Viện Khổng Tử chưa được thành lập). Ở Mỹ có trên 70 viện; ở Anh, trên 20 viện; ở Úc, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, mỗi nước trên 10 viện; v.v..Về số lượng, các Viện Khổng Tử hiện nay đã gần ngang ngửa với Aliances Françaises của Pháp và bằng tổng số các trung tâm ngôn ngữ và văn hóa của cả ba học viện British Council của Anh, Instituto Cervantes của Tây Ban Nha, và Goethe-Institut của Đức cộng lại dù cả ba đều có một lịch sử khá lâu đời, trên nửa thế kỷ.
 
Về tốc độ, đó là học viện phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Thứ hai, trên nguyên tắc, Viện Khổng Tử hoạt động với ba mục tiêu chính: Một, truyền bá tiếng Hoa (và chữ Hán theo lối giản thể được sử dụng tại Trung Quốc từ sau năm 1949); hai, truyền bá văn hóa Trung Quốc; và ba, thúc đẩy các chương trình hợp tác và trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và các nước. Đằng sau ba mục tiêu này là một mục tiêu khác, lớn và quan trọng hơn: Tuyên truyền cho hình ảnh một nước Trung Quốc có truyền thống văn hóa lâu đời, hiền lành, yêu chuộng hòa bình, không hề là một đe dọa đối với bất cứ một nước nào khác.

Nhìn vào các mục tiêu ở trên, Viện Khổng Tử không khác mấy với các học viện ngôn ngữ và văn hóa nổi tiếng trên thế giới, từ British Council của Anh, Aliances Françaises của Pháp, Instituto Cervantes của Tây Ban Nha, hay Goethe-Institut của Đức. Tất cả đều nhằm, qua việc dạy ngôn ngữ và văn hóa của nước mình, tạo sự thông cảm và thắt chặt các quan hệ quốc tế với các nước khác.

Tuy nhiên, trên thực tế, Viện Khổng Tử có nhiều đặc điểm khiến giới quan sát phải nghi ngờ và e ngại.

Một, Viện Khổng Tử không phải chỉ giới hạn trong lãnh vực ngôn ngữ hay văn hóa. Ví dụ tại Úc, Viện Khổng Tử tại trường Đại học RMIT dạy cả về Đông Y, tại trường Đại học Queensland dạy cả về khoa học kỹ thuật. Ở tất cả các nơi, khi dạy về ngôn ngữ và văn hóa, các bài giảng đều ít nhiều liên hệ đến chính trị của Trung Quốc hiện nay. Hơn nữa, theo nhiều nguồn tin, Viện Không Tử có những chính sách hoàn toàn mang màu sắc chính trị, ví dụ, về tuyển dụng nhân viên, họ cấm tuyệt đối những người từng tham gia vào Pháp Luân Công hoặc những tổ chức chống lại chính phủ Trung Quốc; về hoạt động, họ cũng cấm mời Đức Đà Lai Lạt Ma cũng như bất cứ một viên chức nào từ Tibet và Đài Loan đến nói chuyện ở các Viện Khổng Tử. Thậm chí cấm cả việc bàn luận về Tibet trong viện.

 
Hai, cấu trúc của các Viện Khổng Tử cũng khá đặc biệt: Bao giờ nó cũng có hai giám đốc, một là người địa phương và một là người từ Trung Quốc sang. Theo Michael Kahn-Ackermann, cựu giám đốc của Viện Goethe, đó chính là điểm khác biệt lớn giữa Viện Khổng Tử so với tất cả các học viện về ngôn ngữ và văn hóa khác trên thế giới.

Ba, về phương diện tổ chức, một mặt, trong khi các học viện về ngôn ngữ và văn hóa khác khá độc lập với chính phủ, Viện Khổng Tử hoàn toàn nằm trong tay chính phủ Trung Quốc; mặt khác, trong khi các học viện khác tồn tại như một cơ sở giáo dục hay văn hóa độc lập ở ngoại quốc, Viện Khổng Tử bao giờ cũng liên kết và nằm TRONG một trường đại học hoặc trung học nào đó ở địa phương. Ví dụ, ở Việt Nam, sắp tới, Viện Khổng Tử sẽ nằm trong hệ thống Đại học Hà Nội. Ở các nước khác cũng vậy. Có điều, tuy là một bộ phận của các cơ sở giáo dục địa phương, khoảng một nửa ngân sách và phần lớn giáo viên cũng như toàn bộ tài liệu giảng dạy lại do chính phủ Trung Quốc cung cấp.

Chính điều này gợi lên nhiều nghi ngại cho thế giới. Nghi ngại về ba chuyện: Về phương diện học thuật, dưới ảnh hưởng của chính quyền Trung Quốc, người ta không còn tự do và độc lập trong tư tưởng; về phương diện chính trị, các viện ấy chỉ đóng vai trò tuyên truyền cho chính phủ; và đặc biệt, về phương diện an ninh, rất có khả năng những cán bộ hoặc giáo viên trong các viện ấy làm công tác tình báo kỹ nghệ để ăn cắp các phát kiến về khoa học kỹ thuật và kinh tế trong các trường đại học.

Ba đặc điểm nêu trên cho thấy Viện Khổng Tử không đơn giản là một cơ sở giáo dục về ngôn ngữ hay văn hóa. Nó còn nhắm đến các mục tiêu kinh tế (khuyến khích làm ăn với Trung Quốc – chưa kể chuyện làm gián điệp) và cả các mục tiêu chính trị, trong đó có những cuộc vận động liên quan đến quyền lực mềm (soft power). Trong cái gọi là “quyền lực mềm” ấy, nội dung quan trọng nhất mà Trung Quốc nhắm tới là tạo nên một hình ảnh hiền lành, yêu chuộng hòa bình và công lý của Trung Quốc, nhằm xóa tan những nỗi sợ của mọi người đối với tham vọng bá quyền của Trung Quốc.

Tất cả những điều ấy, hầu như ai cũng biết. Từ nhiều năm nay, Trung Quốc đã đổ ra hàng nhiều tỉ đô la cho chiến dịch củng cố quyền lực mềm như thế. Họ viện trợ một cách cực kỳ hào phóng cho nhiều quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ La Tinh và châu Á. Họ tổ chức Olympics 2008 và Sanghai Expo năm 2010. Trong hai năm 2009 và 2010, họ bỏ ra 8 tỉ 9 Mỹ kim cho lãnh vực truyền thông đại chúng, trong đó có những kênh truyền thanh và truyền hình phát 24 giờ một ngày nhắm vào khán thính giả Tây phương. Chương trình phát thanh quốc tế bằng tiếng Anh cũng làm việc liên tục ngày và đêm.

Các Viện Khổng Tử chỉ là một trong cả một chiến dịch rộng lớn và rầm rộ ấy.

Vấn đề là: chiến dịch củng cố quyền lực mềm ấy có thành công hay không?

Giáo sư Joseph S. Nye Jr, chuyên gia hàng đầu về quyền lực mềm trên thế giới, trả lời một cách dứt khoát: Không.

Trong bài “China's Soft Power Deficit”, viết vào năm 2012, Nye cho quyền lực mềm của một nước chỉ phát huy tác dụng với một số điều kiện:

Thứ nhất, nó không gây tâm lý lo ngại và, từ đó, nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng ở các nước láng giềng (ví dụ: những điều đó không hề xảy ra ở Canada và Mexico trước quyền lực mềm của Mỹ).

Thứ hai, phải có sự nhất quán giữa lời nói và việc làm: khi hiện thực trong nước khác hẳn với những lời lẽ tuyên truyền trên mặt trận truyền thông quốc tế, quyền lực mềm sẽ mất hết tác dụng.

Olympics năm 2008 ở Bắc Kinh có vẻ như thành công rực rỡ, nhưng sự thành công ấy tan vỡ ngay tức khắc sau đó khi chính quyền Trung Quốc ra lệnh bắt bớ những người bất đồng chính kiến.

Shanghai Expo năm 2010 cũng thành công rực rỡ nhưng sự thành công ấy cũng bị dập tắt ngay tức khắc khi Trung Quốc bắt nhà hoạt động nhân quyền Lưu Hiểu Ba. Hình ảnh chiếc ghế trống trong buổi trao giải Nobel hòa bình cho Lưu Hiểu Ba trở thành một biểu tượng đầy quyền lực làm xóa nhòa tất cả các hoạt động tuyên truyền tốn hàng tỉ đô la trước đó.

Viện Khổng Tử được thành lập ở Philippines nhằm gây thiện cảm với người dân địa phương nhưng tất cả những tình cảm ấy, nếu có, đều biến mất khi Trung Quốc quấy nhiễu bãi đá cạn Scarborough vốn thuộc chủ quyền của Philippines.

Đánh giá một cách tổng quát, Nye cho các nỗ lực củng cố quyền lực mềm của Trung Quốc đã thất bại. Bằng chứng rõ rệt nhất là qua các cuộc thăm dò dân luận, cách nhìn về Trung Quốc chỉ tương đối mang màu sắc tích cực ở châu Phi và châu Mỹ La Tinh; còn ở Mỹ, châu Âu cũng như nhiều nước ở châu Á, đặc biệt Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc, nó hoàn toàn có tính chất tiêu cực. Điều đó, với Nye, hoàn toàn chính đáng: ở Trung Quốc hiện nay, dưới ách kiểm duyệt ngặt nghèo của chính phủ, ở đâu người ta cũng thấy sự nghèo nàn về tư tưởng.

Không có nước nào có thể làm cho người khác yêu mến, tin cậy và ngưỡng mộ với sự nghèo nàn, chật chội và giả dối như thế cả.

Đó là lý do tại sao các nước Tây phương, kể cả Mỹ, dù biết rõ âm mưu của Trung Quốc, vẫn cứ cho phép mở các Viện Khổng Tử ngay trên đất nước của họ. Không phải là một. Mà là nhiều viện. Xum xuê như trăm hoa đua nở.

Nhưng đó là ở Tây phương, còn ở các nước khác thì sao?

Theo Trefor Moss, trên The Diplomat ngày 4 tháng 6, 2013, chúng ta không nên vội vã đánh giá thấp các nỗ lực vận động quyền lực mềm của Trung Quốc. Kể từ năm 2000, Trung Quốc bỏ ra 74 tỉ đô la để xây dựng các dự án hợp tác và viện trợ ở 50 trên tổng số 54 quốc gia châu Phi. Kết quả là ở châu Phi, rất nhiều người nhìn Trung Quốc một cách đầy thiện cảm: Họ xem Trung Quốc như một đối tác tốt, một kẻ đến để cứu vớt họ và là một mẫu mực mà họ nên bắt chước. Dĩ nhiên, tất cả những thiện cảm này đều dễ dàng biến mất nếu Trung Quốc sử dụng bạo lực với họ. Nhưng khi điều này chưa xảy ra thì nỗ lực của Trung Quốc rõ ràng là có kết quả.

Riêng trong trường hợp của Việt Nam thì sao?

Theo tôi, sự hiện diện của Viện Khổng Tử tại Đại Học Hà Nội, tự bản thân nó, không đáng lo ngại cho bằng thái độ của nhà cầm quyền cũng như của cán bộ Việt Nam nói chung.

Trung Quốc sử dụng Viện Khổng Tử để làm gián điệp kỹ nghệ ư? Âm mưu này có thành công hay không là tùy thuộc mức độ cảnh giác cũng như khả năng tổ chức của các đại học Việt Nam. Nhưng ở cả hai khía cạnh này, qua kinh nghiệm lâu nay, chúng ta đều thấy rõ: hoàn toàn không đáng tin cậy.

Trung Quốc sử dụng Viện Khổng Tử để tuyên truyền cho Trung Quốc ư? Âm mưu này có thành công hay không là tùy thuộc vào mức độ phản tuyên truyền và công khai hóa thông tin từ phía Việt Nam. Ở Philippines, sự tuyên truyền của Trung Quốc qua Viện Khổng Tử mất hết tác dụng vì dân chúng biết rõ, rất rõ tham vọng bành trướng lãnh hải và các hành động quấy nhiễu của Trung Quốc ở bãi đá cạn Scarborough. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, nếu chính phủ cứ giấu giếm hết những chuyện như thế, cứ leo lẻo phụ họa với bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc về cái gọi là 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” và 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” thì đương nhiên Trung Quốc sẽ thành công.

Thành thực mà nói, trong cả hai âm mưu gián điệp và tuyên truyền, Trung Quốc đã thành công ngay cả trước khi thành lập Viện Khổng Tử.

Cái Viện ấy có nằm chình ình ngay giữa Hà Nội hay không thì cũng vậy. Có khi, với những người còn yêu nước, đó lại là điều hay: Nó hiện diện như một thách thức.


-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Phạm Chí Dũng: NHỮNG ĐÁM ĐÔNG VIỆT NAM

Những đám đông Việt Nam 
VOA Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ 
Phạm Chí Dũng 
28.10.2013

2

Đám đông tự phát 

Chiếc xe tải xám xịt của cảnh sát âm thầm luồn lách qua các ngả đường đông đúc. Trên xe là thi hài hai mẹ con sản phụ – cái chết thường thấy ở Việt Nam do tắc trách của giới bác sĩ.

Không khí bất chợt nhốn nháo. Người nhà nạn nhân và những người dân bên đường đã phát hiện ra chiếc xe. Họ hò hét và xô đẩy nhau leo lên thùng xe. Viên cảnh sát lái xe bị ép phải đi với tốc độ chậm và theo những tuyến đường do người dân chỉ định. Giao thông tắc nghẽn. Người đi đường kinh ngạc. Một số chạy theo xe cảnh sát. Chẳng mấy chốc, đám đông lên tới hàng ngàn người. Cuộc diễu hành quan tài bắt đầu…Câu chuyện trên mới xảy ra ở Thanh Hóa vào tháng 10/2013. Trong một cơn thịnh nộ có nguyên do và cả không rõ nguyên cớ, đám đông hộ tống xe cảnh sát đến trước nhà người bác sĩ liên quan trực tiếp đến cái chết của hai mẹ con sản phụ. Tại đây, những người phẫn nộ nhất đã la hét và đập phá, trong khi bác sĩ và vợ con phải trốn về quê…

Nhiều đám đông ở Việt Nam đang hình thành theo cái cách như thế. Vô số chuyện bất công trong xã hội lại là đầu đề cho những cuộc tụ tập đông người mà các cơ quan pháp luật rất dè chừng. Tụ tập đông người lại sinh ra manh mối để dẫn đến những cuộc biểu tình mà chính quyền luôn lo sợ.Thỉnh thoảng lại xảy ra một phản ứng đông người nhắm vào ngành y tế – nơi mặt bằng y đức đang trở nên thê thảm. Cách đây không lâu, cái chết của một cô gái ở Cà Mau đã khiến hàng trăm người bao vây bệnh viện và nhà bác sĩ. Cuộc bao vây nhanh chóng biến thành đợt tấn công tài sản và đòi tự mình trừng phạt lối hành xử vô trách nhiệm của giới “lương y như từ mẫu”. Khi lực lượng cảnh sát có phiên hiệu là 113 đến can thiệp, những người bức xúc nhất trong đám đông dân chúng còn tấn công luôn cả các nhân viên thi hành công vụ.

Những vấn nạn ngày càng dồn dập trong xã hội đã đóng góp vai trò hết sức tích cực trong cơ chế xóa nhòa tình yêu thương giữa con người với con người. Thay vì sự chia sẻ và đồng điệu như tâm cảm của tôn giáo, xã hội Việt Nam đã phân tầng một cách sâu sắc, đặc biệt giữa giới cầm quyền cai trị, những nhóm lợi ích tham lam với giới bị trị và người nghèo.

Một trong những dấu ấn không thể chìm lắng trong mối quan hệ không bằng lặng giữa hai giới trên là cuộc biểu tình quan tài ở Vĩnh Yên vào giữa năm 2013. Cái chết đột ngột của một thanh niên, bị người dân nghi ngờ gây ra bởi người nhà của một quan chức có tầm cỡ của địa phương này, đã làm bùng nổ không khí phẫn nộ chưa từng thấy nơi thị xã yên tĩnh. Có đến hàng ngàn người hoặc hơn thế khiêng quan tài kẻ xấu số dọc theo trên các tuyến đường, bất chấp hàng rào ngăn cản của lực lượng cảnh sát cơ động và chống bạo loạn.

Trong khi pháp y chỉ kết luận là nạn nhân chết đuối, đám đông biểu tình đòi phải làm rõ nguyên nhân cái chết và trừng trị kẻ thủ ác. Chỉ đến khi đó, một cuộc điều tra nội bộ mới được khởi sự. Kết quả của cuộc điều tra này đã cho thấy mối nghi ngờ của người nhà nạn nhân và dư luận là không hề sai. 

Đám đông định hướng 

Đám đông không chỉ sinh ra từ những cái chết y tế hoặc do mâu thuẫn xã hội. Giải tỏa đất đai và an sinh hậu giải tỏa mới là tiêu điểm tập trung đông người dân nhất.

Ban đầu, đó là những người dân thuần túy kéo đi khiếu nại và tố cáo về chính sách đền bù đất không thỏa đáng, về những hành vi ăn chặn tiền đền bù của cán bộ địa phương và những thứ vô cảm khác. Nhưng khi đã chính thức trở thành dân oan, những người khiếu kiện đã tạo nên một trong những tiền lệ cho luật biểu tình vẫn nằm trong vòng oan ức ở Việt Nam.

Không hẹn mà gặp, các dân oan đất đai rất thường tập trung tại những trụ sở công quyền ở Hà Nội và Sài Gòn. Thậm chí, đám đông được tổ chức ngày càng bài bản còn nghĩ ra một phương cách tranh đấu sáng tạo hơn: trận chiến binh chủng hợp thành được biến thái bằng sức mạnh được biểu thị tại tòa đại sứ và lãnh sự quán Hoa Kỳ.

Dĩ nhiên, lớp dân oan khiếu kiện đất đai đã tạo cảm hứng và không ít kinh nghiệm trận mạc cho những người bất đồng chính kiến.

Sau cao trào khiếu tố đất đai bùng nổ vào những năm 2007-2008, đến năm 2011, một đám đông khác mang màu sắc chính trị đối ngoại đã bùng lên ở Hà Nội và một phần ở Sài Gòn. Trong hai tháng giữa năm đó, có đến 11 cuộc biểu tình liên tiếp diễn ra với chủ đề chống sự can thiệp của Bắc Kinh vào khu vực biển Đông. Tuy con số ban đầu chỉ chưa đến một trăm người, song sau đó đã được nâng lên đến nửa ngàn người, bao gồm các độ tuổi khác biệt và cả thành phần khác nhau.

Sự biến đổi sắc thái chính trị mới là điều làm cho nhà cầm quyền lo sợ nhất. Một đám đông tụ tập thông thường về những chuyện bức xúc xã hội có thể được xử lý nhanh chóng bằng vào “công tác nghiệp vụ”. Song phản ứng và cao hơn nữa là phản kháng về chính trị thì không dễ gì dập xóa được. Đó cũng chính là lý do sau khi lắng đọng vào cuối năm 2011, đến đầu năm 2012 đám đông chính trị lại một lần nữa bùng lên cùng với sự kiện Đoàn Văn Vươn chống cưỡng chế thu hồi đất ở Hải Phòng.

Đến lúc lúc này, đám đông đã mang một sắc thái mới: kết hợp giữa nạn nhân chịu bất công, những người hoạt động xã hội với những người muốn giương cao ngọn cờ về tư tưởng chính trị. Ngay cả báo chí trong nước cũng hết sức nhiệt tình tham gia và trở thành một đám đông rất đặc biệt: 2.000 bài viết về vụ Đoàn Văn Vươn đã ghi dấu như một kỷ lục về sự bất mãn đối với thái độ vô cảm và đặc lợi của chính quyền địa phương nói riêng và sâu xa hơn là với chính quyền trung ương.

Cũng trong năm 2012, giới quan sát ghi nhận sự kết nối vừa tự nhiên vừa khá bài bản, như một sự đồng cảm giữa các dân oan đi đòi đất với những người hoạt động chính trị và cả với các tín đồ tôn giáo. Đám đông ở Việt Nam cũng vì thế đã được nhân lên khá nhiều lần. Những cuộc tụ tập đông người không chỉ là vài chục như trước đây, mà có thể lên đến vài trăm người.

Đó cũng là lúc mà xã hội dân sự – điều bị giới tuyên giáo đảng xem là “thủ đoạn của diễn biến hòa bình” – đã manh nha bộc phát.

Nếu cuộc biểu tình đòi trả tự do cho nữ sinh viên Phương Uyên tại tòa án Long An vào tháng 8/2013 quy tụ đến hàng trăm người thuộc các thành phần chính trị mà nhà nước không hề ưa thích, thì vụ xét xử luật sư công giáo Lê Quốc Quân ở Hà Nội vào đầu tháng 10/2013 đã tập hợp đến hàng ngàn giáo dân, biểu thị sức mạnh đòi trả tự do cho giáo hữu của họ. 

Vượt qua sợ hãi 

Hãy trở lại với những đám đông lên đến hàng ngàn người ở Vĩnh Yên và Thanh Hóa. Trong đám đông đó, người nhà nạn nhân tất nhiên chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Số đông còn lại, tất nhiên là những kẻ tỏ mò, a dua hoặc quá khích dưới con mắt luôn thiếu thiện cảm của chính quyền.

Song những đoạn video lại cho thấy phần lớn người dân diễu hành một cách ôn hòa trên các đường phố không đơn thuần vì lý do ham vui. Một cuộc phỏng vấn bỏ túi do nhóm “phóng viên vỉa hè” thực hiện đã cho thấy nhiều người dân tự nguyện tham gia vào đám đông bởi họ mang tâm tư liên đới với những vấn nạn và bất công xã hội nhan nhản hàng ngày và ở khắp mọi nơi. Cũng trong nhận thức nhiều người dân, tụ tập dù chỉ trong im lặng vẫn thể hiện cho tinh thần đồng cảm giữa những người chung cảnh ngộ để cùng hướng đến một lối thoát nào đó.

Tâm lý sợ sệt đã dần được thay thế bởi lòng can đảm, dù chỉ là sự can đảm nhất thời và đôi khi vô thức. Trong cách nhìn của nhiều người dân, cảnh sát chỉ có thể ngăn chặn được một ít người tụ tập, còn với đám đông lớn hơn hẳn thì lại là một vấn đề khác hẳn.

Đơn giản là những người đi đường đã chuyển từ thái độ tò mò quan sát sang hành động hòa vào đám đông, đi theo đám đông, đồng cảm với không khí của đám đông về những uẩn ức tích tụ trong lòng quá lâu mà không thể phát ra.

Đó chính là cách mà người dân biểu thị thái độ bức xúc và bất mãn, biểu thị tinh thần phản đối và phản kháng đối với chính quyền.

Hiệu ứng đám đông được tạo ra từ đó. Nếu các cuộc bàn thảo bất tận của giới trí thức vẫn chủ yếu xoay quanh bàn trà, bàn rượu mà ít khi bước chân ra đường phố, thì với những người dân ít học thức hơn, câu chuyện lại giản dị hơn nhiều. Hiện thời ở nhiều đô thị miền Bắc, chỉ cần xảy ra một vụ việc nào đó với mâu thuẫn giữa quan chức nhà nước và nhân dân, lập tức đám đông dễ dàng xuất hiện. Những va chạm giữa cảnh sát giao thông với người đi đường là minh họa rất điển hình cho sự xuất hiện đột biến ấy.

Hình ảnh tụ tập và mang tính kết nối giữa một số người đầu tiên đã khích lệ nhiều người đến sau tham dự vào đám đông mà không còn sợ bị sách nhiễu hoặc bắt bớ. Ở Bắc Giang, khi hai người dân bị cảnh sát bắt vì nghi đã đánh đến chết những kẻ trộm chó, có đến 800 người dân trong xã đồng ký đơn “nhận tội”. Thật rõ ràng, người ta đã nhìn thấy một mối kết đoàn nào đó giữa đồng loại và không còn quá sợ sự trả thù của chính quyền. 

Đám đông vĩ đại 

Tháng 10/2013. Một đám đông khác của dân chúng, lên đến hàng chục ngàn ở Hà Nội và hàng trăm ngàn người ở các địa phương, đã làm nên sự vĩ đại bên sự ra đi vĩnh hằng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Cho tới nay, nhiều ý kiến trong giới quan sát và bình luận vẫn ngạc nhiên tự hỏi là tại sao lại có cả một rừng người thành kính đến như thế đối với người được xem là có uy tín xã hội chỉ sau Chủ tịch Hồ Chí Minh? Họ thành kính thật sự hay còn vì nguyên do nào khác?

Xã hội Việt Nam đang xảy ra một hiện tượng tâm lý chưa từng có: trong quá nhiều thất vọng về đảng và nhà nước, người dân tự tìm đến với nhau để nương tựa vào một niềm tin còn sót lại, dù rằng niềm tin ấy đã chết.

Có lẽ đó cũng là một lý do vì sao tang lễ của tướng Giáp lại có nhiều người viếng đến thế. Đó không chỉ là tình cảm của dân chúng đối với người được xem là biểu tượng hiếm hoi bởi sự trung trinh về chữ Tâm và chữ Hiếu đối với nhân dân và dân tộc, mà còn là sự đồng quyện tự nhiên trong tâm khảm những người đến viếng. Ở đó, trước linh cữu người đã khuất, rừng người còn sống tìm thấy một không khí đồng cảm và sợi dây vô hình gắn bó họ với nhau, khác hẳn với tình trạng băng hoại đạo đức xã hội chỉ cách nhà tang lễ vài trăm thước.

Và cũng ở đó, rừng người đến viếng còn muốn biểu thị thái độ coi thường và khinh bỉ đối với lớp quan chức hậu bối – những kẻ mang thân tội ghê gớm khi đã đẩy đất nước vào thảm cảnh tê liệt đạo đức và kinh tế như ngày hôm nay.

Rất nhiều người dân muốn bày tỏ cái tôi trung trinh của họ: Chỉ khóc cho người vì dân vì nước; còn với cái chết của những kẻ vô tích sự và “ăn của dân không chừa thứ gì” – như cụm từ tán thán của bà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, đó lại là tiếng reo mừng đến nghẹt thở.

Lòng khinh bỉ lại có thể biến thành nỗi phẫn uất không thể kềm chế. Nếu cứ nhìn vào cái cách mà hàng chục ngàn tín đồ công giáo ở Nghệ An và hàng triệu giáo hữu ở nhiều vùng trên cả nước biểu thị tinh thần phản kháng đối với chính quyền trong và sau vụ Mỹ Yên vào tháng 9/2013, có thể thấy ngay là phẫn uất có thể biến thành hành động phản kháng vào một thời điểm nào đó không xa, đặc biệt trong hoàn cảnh sự ứng phó của chính quyền và lực lượng cảnh sát không đủ “kềm chế”. Khi đó, đám đông hoàn toàn có thể biến thành một lực lượng tự phát và có thể tạo ra những phản ứng không lường trước đối với các chính quyền địa phương.

Ở Tunisia vào năm 2010, sau vụ tự thiêu do quá phẫn uất của một người bán hoa quả, điều đáng ngạc nhiên là đám đông đã chỉ được hình thành bởi sự lan truyền thông tin của các em bé. Trẻ con lại dẫn đến mối quan tâm của người lớn. Vào cuối ngày đầu tiên, thay vì về nhà theo thói quen, nhiều người lớn đã chuyển sang một thói quen mới: tập hợp với nhau, giữa những người không quen biết, để đòi tổng thống phải từ chức.

Khi đám đông đã lên đến hàng triệu người, toàn bộ lực lượng cảnh sát trở nên bất động. Còn quân đội thường giữ thái độ trung lập.

Như một quy luật, xã hội càng nhiễu nhương và hỗn loạn, giới quan chức đảng và chính quyền càng ra sức trục lợi và cưỡng bức người dân,  đám đông dân chúng càng có lý do để bạo   dạn hơn và liều lĩnh hơn. Tâm lý sợ hãi cũng vì thế được chuyển hóa từ thận trọng sang giễu cợt, cho đến khi bùng vượt qua ranh giới kìm nén.

Kịch bản xã hội – chính trị như thế có rất nhiều triển vọng sẽ diễn ra, vào những năm tới.

Ở Việt Nam.

Ngay tại Hà Nội. 

P.C.D

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

 
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

LÊ HIẾU ĐẰNG: BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN "BỎ BÓNG ĐÁ NGƯỜI"

Ông Lê Hiếu Đằng: 
Báo Quân đội Nhân dân 'bỏ bóng đá người'

Bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Ðằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, là đề tài được truyền thông Việt ngữ khắp nơi bàn tán sôi nổi trong mấy ngày gần đây. Bài viết mà ông Đằng nói ông gửi cho “bạn bè, đồng đội, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên SVHS Việt Nam”, kêu gọi họ hãy dấn thân hành động để đoàn kết dân tộc và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Phỏng vấn ông Lê Hiếu Ðằng

Với bài viết mang tựa đề “Màn tung hứng vụng về” trên báo Quân đội Nhân dân số ra hôm nay, thứ Sáu 23 tháng 8, tác giả đã mạnh mẽ đả kích những nhận định của ông Đằng. Nội dung chỉ trích bài “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên kỳ cựu có trên 40 tuổi Đảng, là “đầy những lỗi tư duy, lập luận phiến diện, hàm hồ, ấu trĩ”.

Trong một cuộc điện đàm với Ban Việt ngữ VOA, ông Lê Hiếu Đằng nói ông đã trình bày rõ ràng tất cả những gì muốn nói trong bài viết, và giờ đây sẵn sàng tranh luận công khai, nhưng không muốn đáp những chỉ trích của báo Quân đội Nhân Dân. 

“Quan điểm của tôi là nếu anh muốn tranh luận công khai thì anh hãy tạo điều kiện, diễn đàn đàng hoàng. Tôi và một số bạn bè tôi sẽ tranh luận công khai. Còn nếu anh chơi kiểu gọi là "bỏ bóng đá người" thì tôi không có nói, không tranh luận làm gì, bởi vì các trang mạng người ta cũng đã thấy cái việc đó không đúng, người ta nói rồi thì tôi nói cũng lặp lại những ý đó thôi. Mà tôi là người trong cuộc thành ra không hay lắm, không khách quan… thì thôi cứ để cho dư luận, công luận người ta phê phán thôi, phải không. Chuyện đó tôi nói rất rõ ràng rồi: tôi đấu tranh rất ôn hòa, công khai minh bạch chứ ai kêu gọi vũ trang hay lật đổ gì đâu!”.

Tác giả Phạm Trung, người viết bài trên tờ Quân đội Nhân dân, nói bài viết của ông Đằng có thể bị các nhóm mà tờ báo nhà nước mô tả là “dân chủ” trong ngoặc kép, khai thác để gây xáo trộn và đổ máu tại Việt Nam. Ông Lê Hiếu Đằng:

“Bây giờ cái khuynh hướng bạo lực ấy không ai chấp nhận được. Thành ra trên trang mạng có những ý kiến quá khích, chửi bới tụi tôi, nhưng mà chúng tôi không để ý. Bây giờ cái thời đại này là cái xu thế là phải đoàn kết để xây dựng đất nước. Cái xu thế đó đang lên thành ra cực đoan của cả hai bên đều không thể chấp nhận được, thành ra tôi để ngoài tai những việc đó, không đáng cho mình nói. Những điều mà tôi muốn nói tôi nói rất rõ rồi. Từng câu từng chữ từng ý rất rõ. Tôi viết tôi phân tích từng điểm một mà, chính trị, rồi mặt xã hội rồi mặt độc lập và chủ quyền dân tộc, tôi nói rất rõ rồi không cần phải nói gì thêm”.

Báo Quân đội Nhân dân, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, còn nói rằng bài viết của ông Lê Hiếu Đằng là một lời hiệu triệu, sẽ “lôi kéo, kích động gây xáo trộn xã hội dẫn tới cảnh nồi da xáo thịt, thây chất đầy đồng, máu chảy thành sông ” như cảnh đã diễn ra ở các nước Syria, Libya, và Ai Cập.

  
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

CON TRAI ANH ĐIẾU CÀY KỂ LẠI 7 PHÚT BÊN CHA TRONG TRẠI TÙ SỐ 6


Blogger Điếu Cày ngưng tuyệt thực 


Blogger Điếu Cày và thân nhân khẳng định nội dung đoạn video này hoàn toàn là một sự giả dối, cắt ghép hình ảnh.
 
Trong cuộc trao đổi với Trà Mi VOA Việt ngữ trên đường từ trại giam thăm bố trở về, con trai Điếu Cày cho biết thêm chi tiết.
 
Nguyễn Trí Dũng: Hôm nay ngày 2/8, mình vừa mới được gặp bố và mới bước ra tức thì. 
VOA: Cuộc thăm nuôi kéo dài trong bao lâu?
 
Nguyễn Trí Dũng: Chỉ trong 7 phút thôi. Họ canh đúng 5 phút thì họ đuổi ra, nhưng hai bố con ráng bám lao với nhau để mà nói chuyện thêm được 2 phút nữa.
 
VOA: Trong cuộc gặp hôm nay, anh thấy hình ảnh của blogger Điếu Cày có giống những gì trên truyền hình nhà nước đưa ra mới tối qua không?

Nguyễn Trí Dũng: Không giống một tí xíu nào cả, nhưng bố mình nói là ông đang hồi phục trở lại và ông đã ăn trở lại, vì họ đã phải cho người xuống giải quyết khiếu nại cho ông và xin ông ăn trở lại. Ông ăn trở lại ngày 27/7 đúng ngay ngày mà họ cho Viện Kiểm Sát nhân dân Nghệ An, ông Thanh Nga, Trưởng phòng 4 Phòng Giam giữ và Cải tạo xuống gặp ông Hải lần thứ hai để giải quyết vấn đề. Lần thứ nhất, ông Nga đã biết nhưng cố tình lờ đi và không giải quyết.
 
VOA: Có thể hiểu là blogger Điếu Cày quyết định ăn trở lại khi những khiếu nại của ông đã được giải quyết phần nào? 

Nguyễn Trí Dũng: Mục đích cuộc tuyệt thực là để đánh động dư luận và thứ nữa là để họ phải có động thái khẳng định rằng đơn khiếu nại của ông Hải đã đi ra ngoài. Còn việc giải quyết đến đâu là điều mà mình cũng đang hy vọng nhưng không nhiều. Bố mình muốn mọi người biết rằng đơn khiếu nại không chỉ của riêng ông mà của tập thể tù nhân chính trị Đội A, Trại giam 6, Thanh Chương-Nghệ An về vấn đề đàn áp tù nhân trong trại giam phải được tiếp nhận. Đó là mục đích lớn nhất, khi bố mình đạt được mục đích này, ông đã ăn trở lại.
 
 
VOA: Họ khẳng định đã nhận thư, nhưng chưa nói tới việc giải quyết?
 
Nguyễn Trí Dũng: Họ đã giải quyết một vấn đề trước mắt đó là việc thôi biệt giam ông Hải. Họ cho một người nữa vào ở cùng phòng với ông Hải để nói là ‘không biệt giam ông Hải’.
 
Bố mình cũng có đề cập đến việc họ quay camera, họ đã thực hiện từ rất lâu rồi. Họ lắp cả máy quay lén tại phòng giam của bố mình thường xuyên. Trong cùng tháng 7 vừa qua, họ đã có 3 cuộc tổng kiểm tra phòng, kiểm kê tất cả những đồ ăn trong phòng mà gia đình mình gửi vào. Cả 3 lần đó, họ đều không thể chứng minh được là bố mình đã ăn những đồ ăn đó vì tất cả đều còn nguyên. Họ không thể có được bằng chứng gì. Bố mình cũng nói những việc (quay lén) đó họ đã chuẩn bị từ trước rất lâu, chứ không phải chỉ trong ngày 26/7 như truyền hình họ đưa ra.

Chữ ký trong giấy khám sức khỏe của ông Hải như trên TV đưa hoàn toàn là chữ ký giả mạo, không phải là chữ ký của ông Hải.

Đoạn phim chiếu cảnh ông ngồi viết vào giấy (sau lúc khám sức khỏe) không phải là ông ký vào đơn khám sức khỏe gì của ông hết, mà đó là lúc ông viết yêu cầu họ không được sử dụng hình ảnh của ông vì ông phát hiện họ dùng camera quay lén gắn trong phòng và chụp tất cả đồ dùng cá nhân của ông. Họ lợi dụng hình ảnh đó để đưa một giấy khám sức khỏe ngày 26/7 khống, hoàn toàn không phải của ông Hải.

VOA: TV nhà nước đưa hình ảnh nói ông Hải được khám sức khỏe ngày 26/7, chính ông khẳng định không có chuyện đó xảy ra?

Nguyễn Trí Dũng: Đúng, chính xác như vậy. Không hề có chuyện đó xảy ra.

VOA: Điếu Cày có cho biết lần khám sức khỏe gần đây nhất của ông là vào ngày nào không?

Nguyễn Trí Dũng: Vào ngày 16/7.
 
 
VOA: Chữ ký trên giấy khám sức khỏe truyền hình nhà nước đưa ra không phải của Điếu Cày. Đó là xác nhận của gia đình hay của chính blogger Điếu Cày?
 
 
Nguyễn Trí Dũng: Đó là xác nhận của gia đình. Còn xác nhận của bố mình là ông không hề được khám sức khỏe ngày 26/7.

VOA: Anh nói hình ảnh TV nhà nước đưa ra hôm qua hoàn toàn không giống hình ảnh anh trực tiếp gặp bố anh hôm nay. Có những điểm khác cơ bản nào mà anh nhận ra?

Nguyễn Trí Dũng: Cơ bản nhất là từ ngày 20/7, ông Hải đã không thể đi đứng được bình thường, phải có người dìu ra, dìu vào thì làm sao ông có thể đi đứng, nói chuyện bình thường như trong đoạn video mà họ nói là quay ngày 26/7 như vậy được? Hình ảnh ông đứng đợi cơm (trong đoạn video) họ có thể quay bất cứ lúc nào trong suốt 5,5 năm ông Hải ở tù. Như mọi người cũng thấy trên video đó, ông Hải không hề cầm đũa hay cầm muỗng lên ăn bất kỳ cái gì.

Hôm nay trong cuộc gặp với gia đình, ông Hải đã xác nhận rằng cho tới ngày 27/7 khi ý muốn của ông đạt được, ông đã không hề ăn bất kỳ một cái gì hết. Thậm chí họ kiểm tra 3 lần trong tháng 7 xem trong đồ tiếp tế của gia đình, ông có ăn gói mì, gói cháo nào không, tất cả vẫn còn nguyên. Cho nên cuối cùng họ phải đưa lên những thông tin vu khống như vậy. 

VOA: Hiện giờ, nguyện vọng chính của ông Hải là gì?

Nguyễn Trí Dũng: Bố mình muốn cảm ơn tất cả mọi người. Ông đã đạt được mục đích là đưa được đơn ra ngoài và bắt buộc cơ quan chức năng phải khẳng định là nhận đơn của ông. Thứ hai, ông muốn mọi người biết là sau song sắt nhà tù, tất cả tù nhân ở đó đều không đưa được thông tin ra ngoài. Nguyện vọng tiếp theo của bố mình là cho mọi người biết được hiện trạng của tù nhân trong trại giam, nhất là những người tù chính trị, tù nhân lương tâm.
Blogger Điếu Cày được biết đến như một trong những người tiên phong trong các hoạt động chống Trung Quốc xâm lấn Biển Đông.

Cuộc tuyệt thực của ông phản đối việc bị ngược đãi và vi phạm nhân quyền trong trại giam đã thu hút sự chú ý của công luận trong và ngoài nước với nhiều lời lên án từ cộng đồng quốc tế về tình trạng vi phạm nhân quyền của Việt Nam và kêu gọi Hà Nội phải phóng thích nhà báo tự do từng được tổ chức Theo dõi Nhân quyền vinh danh Giải thưởng Hellman/Hammett.
Nguồn: VOA
-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

PHILIPPINES DỰ KIẾN BIỂU TÌNH KHẮP THẾ GIỚI CHỐNG TRUNG CỘNG

Người dân Philippines biểu tình trước lãnh sứ quán Trung Quốc tại quận tài chính Makati, Manila, 11/5/2012.

Philippines định biểu tình khắp thế giới phản đối Trung Quốc 
Một liên đoàn mới được lập ra gồm nhiều nhóm người Philippines dự định sẽ tổ chức biểu tình tại Manila và nhiều thành phố thế giới vào ngày 24/7 để phản đối những vụ xâm lấn của Trung Quốc vào vùng biển mà Philippines có chủ quyền.
 

Theo lời ông Rafael Alunan III, một trong những người lập ra liên đoàn này, thì riêng tại Philippines, các cuộc biểu tình sẽ tập trung trước lãnh sự quán của Trung Quốc tại Makati.
Liên đoàn tuyên bố ngày 27/7 là “ngày phản đối trên toàn thế giới,” ông Alunan nói trong cuộc họp báo hôm 17/7.

 

Ông nói tiếp, liên đoàn của ông phản đối thái độ hiếu chiến và trắng trợn coi thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc, và yêu cầu Trung Quốc hãy ứng xử như một người láng giềng tốt.
 

Liên đoàn của ông lấy tên là Biển Tây Philippines, WPS, có thành viên là các cựu giới chức chính phủ, thủ lĩnh thanh niên, công dân mạng, và công dân Mỹ gốc Philippines; mệt mỏi và chán nản trước thái độ của Trung Quốc.

(Philippine Daily Inquirer, InterAksyon)

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

GS. TƯƠNG LAI: LÃNH ĐẠO VIỆT NAM QUÁ QUỴ LỤY TRUNG QUỐC

GS. Tương Lai:
Lãnh đạo Việt Nam quá quỵ lụy Trung Quốc

Một chuyên gia cố vấn cho hai đời Thủ tướng tại Việt Nam nhận định giới lãnh đạo Việt Nam đã trở nên quá quỵ lụy Trung Quốc, rơi ra khỏi quỹ đạo dân chủ và tụt hậu sau lưng các nước còn lại trên thế giới, một thế giới mà Việt Nam hiện đang rất cần phải hội nhập để có thể tăng trưởng và phát triển.

Trong bài bình luận đăng trên nhật báo The New York Times của Mỹ ngày 7/6, Giáo sư Tương Lai (Nguyễn Phước Tương), một nhà nghiên cứu xã hội học-văn hóa được nhiều người biết đến, đã mạnh mẽ phê phán nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp dân chúng trong các cuộc biểu tình yêu nước và nhu nhược trước sự xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tác giả bài viết, người từng cố vấn cho cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, nói rằng bi kịch lớn nhất của Việt Nam chính là ảo tưởng về một hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thường được nhà nước viện cớ để dung chấp chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc, để trấn áp dân chủ, kiểm duyệt – bịt chặn thông tin, và khủng bố tinh thần của người dân.

Theo giáo sư Tương Lai, các bản án nặng nề dành cho hai sinh viên yêu nước Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên hồi tháng trước với các cáo buộc tội “nói xấu Trung Quốc” đã chạm tới tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc của người dân Việt Nam và phơi bày sự thông đồng mờ ám của chính quyền với những kẻ ngoại bang xâm lược.

Bài bình luận viết rằng trước âm mưu nuốt chửng Biển Đông bằng bản đồ đường lưỡi bò đầy tham vọng của Trung Quốc, các bước chân giận dữ của người dân Việt Nam đã bất chấp sự đàn áp, cùng nhau xuống đường bày tỏ lòng yêu nước trong các cuộc tuần hành quy tụ từ giới trí thức, giới trẻ thành thị đến những người dân oan, những người nông dân bị bần cùng hóa bởi chính sách nhà nước tịch thu đất đai mà không đền bù thỏa đáng.

Tác giả nói sự căm phẫn của người dân trỗi dậy giữa lúc các nhà lãnh đạo Việt Nam đang tự phơi bày sự nhút nhát, yếu hèn trước Trung Quốc xâm lược.

Trong một cuộc phỏng vấn trước đây với VOA Việt ngữ, giáo sư Tương Lai nhấn mạnh:

“Chúng tôi là những người yêu nước. Chúng tôi thấy hành động gây hấn, khiêu khích của nhà cầm quyền Trung Quốc là một nguy cơ lớn đối với nền độc lập dân tộc vì chủ quyền lãnh thổ-lãnh hải quốc gia đang bị đe dọa nghiêm trọng. Là một người yêu nước không thể nào ngồi yên trước hành động xâm lược của Trung Quốc. Cho nên, chúng tôi phải lên tiếng.”

Giáo sư Tương Lai cho rằng cải cách kinh tế của Việt Nam bị ngăn trở bởi không đi kèm với cải cách chính trị. Theo ông, các lãnh đạo Việt Nam chưa bao giờ xây dựng được một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự thực thụ.

Vẫn theo nhà nghiên cứu này, vì cố duy trì một hệ thống chính trị suy tàn và một hệ tư tưởng giáo điều, vận mệnh kinh tế của Việt Nam bị suy sụp và chính phủ Việt Nam tự biến mình thành mục tiêu bị quốc tế chỉ trích vì đàn áp dân chủ và các vi phạm về nhân quyền.

Tác giả tố cáo giới lãnh đạo Việt Nam đã quay lưng lại với nhân dân Việt Nam. Giáo sư Tương Lai nói ông cùng với một số trí thức đã từng đệ trình rất nhiều thỉnh nguyện thư kêu gọi bảo vệ nhân quyền và dân chủ, nhưng các đề nghị đó đều bị đáp trả bằng sự thóa mạ, phỉ báng từ truyền thông của nhà nước.

Nhà xã hội học Tương Lai kêu gọi lãnh đạo Việt Nam cần phải công nhận sức mạnh hợp quần của các cuộc biểu tình yêu nước trước sự xâm lấn của ngoại bang và rằng nhu cầu về dân chủ và nhân quyền sẽ dẫn tới những thay đổi ngoạn mục, khó lường trước được.

Ông khuyến cáo rằng nhà nước Việt Nam càng sử dụng bạo lực và đàn áp bao nhiêu thì càng phơi bày sự tàn bạo của chính họ bấy nhiêu.

Giáo sư Tương Lai khẳng định:

“Chúng tôi làm tất cả những việc này là để hỗ trợ cho cuộc đấu tranh ngoại giao mà nhà nước đang tiến hành. Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng không có lý do nào để nhà cầm quyền bất bình với việc làm hết sức quan minh, chính đại và chính đáng của chúng tôi. Đáng lý chính quyền, trong khi phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc qua đường ngoại giao, phải rất tán thành hành vi phản đối quyết liệt từ dân. Bởi vì tin vào dân, dựa vào dân mới có sức mạnh để đấu tranh với những hành động ngang ngược, hiếu chiến ấy chứ!”

Giáo sư Tương Lai nói một người lãnh đạo hiểu thấu đáo việc này, nhanh chóng hồi đáp nguyện vọng của người dân, và đặt lợi ích quốc gia lên trên tất cả sẽ được sự ủng hộ của quần chúng và sự đồng cảm của bạn bè quốc tế.

Bài viết của giáo sư Tương Lai trên nhật báo The New York Times kết thúc bằng lời cảnh báo rằng sự suy tàn của nhà cầm quyền Việt Nam là điều khó tránh khỏi nếu họ quay lưng lại với người dân, cố chấp duy trì mô thức quản trị phản dân chủ, và đưa đất nước vào con đường tăm tối không lối thoát.

-->đọc tiếp...