Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viện Khổng Tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viện Khổng Tử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Huỳnh Thục Vy: VỀ VIỆC THÀNH LẬP HỌC VIỆN KHỔNG TỬ Ở VIỆT NAM

 

Về việc thành lập Học viện Khổng Tử ở Việt Nam

Huỳnh Thục Vy
Bản gốc tiếng Anh: Vietnam’s Confucius Institute Distraction,  
The Diplomat, November 24, 2013

Người dịch:  Hung Do

Gần đây, một trong những đề tài gây tranh cãi sôi nổi trong giới trí thức Việt Nam là việc thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, trong cuộc gặp với người đồng nhiệm Trung Quốc – Lý Khắc Cường, đã công bố quyết định cho phép thành lập Học viện Khổng Tử đầu tiên ở Việt Nam đặt tại Đại học Hà Nội.

Như thường lệ, trong tình cảm mang màu sắc chủ nghĩa dân tộc, bất cứ động thái nào của chính quyền Việt Nam liên quan đến mối quan hệ với người đàn anh bá đạo Trung Quốc đều gây nên những lo lắng và sự phản đối của người dân Việt Nam. Nhưng tôi e rằng trong thực trạng bất công của mối quan hệ Việt Trung hiện nay, sự lo lắng nhắm vào việc thành lập học viện Khổng Tử như là sự bá quyền về văn hoá cho thấy tình trạng dư luận Việt Nam bị đánh lạc hướng.

Học viện Khổng Tử là một cơ sở giáo dục nằm dưới sự điều hành của Nhà nước cộng sản Trung Quốc, hoạt động nhằm các mục tiêu chính sau: truyền bá ngôn ngữ Trung Hoa; phổ biến văn hoá Khổng Nho; và xúc tiến các chương trình hợp tác trao đổi văn hoá giữa Trung Quốc và các quốc gia khác. Ba mục tiêu này chỉ nằm trong một mục tiêu lớn hơn và quan trọng hơn nhiều, đó là sự triển khai “quyền lực mềm” của Trung Quốc khắp thế giới. Nếu học viện này được đưa vào Việt Nam nhằm mục tiêu triển khai quyền lực mềm, điều này không đáng lo ngại bằng việc Trung Quốc áp đặt quyền lực cứng lên đất nước Việt Nam thông qua nhà cầm quyền Việt Nam từ mấy chục năm qua,  chưa kể những viện trợ cho phe cộng sản thời chiến tranh. Vấn đề lớn hơn phải cân nhắc là quyền lực mềm đó có bản chất thế nào, phương pháp thực hiện quyền lực mềm đó ra sao, tính công bằng trong mối quan hệ song phương có đảm bảo không và quyền lực mềm đó có tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp đặt quyền lực cứng hay không…

Việc học một ngoại ngữ, trong trường hợp này là tiếng Trung, đối với sinh viên - thanh niên Việt Nam, không những không đáng lo mà còn đáng khuyến khích, việc học ngôn ngữ và mở rộng kiến thức về một quốc gia khác luôn cần thiết. Thực chất, với con số hàng chục ngàn người Trung Quốc đang có mặt tại Việt Nam và với các mối quan hệ toàn diện giữa hai nước Việt Trung do hai nhà nước cộng sản thực hiện từ mấy chục năm qua, việc biết tiếng Trung mang lại cơ hội việc làm đáng mong muốn cho người Việt Nam. Điều đó tạo nên động lực tự nhiên của việc học ngôn ngữ này. Nếu không có học viện Khổng Tử dạy thì người ta sẽ đi học ở các trung tâm ngoại ngữ khác.

Việc thâm nhiễm văn hoá Khổng Nho, cũng không đáng bàn, vì Việt Nam là một quốc gia với nền văn hoá truyền thống chủ đạo là văn hoá Khổng Nho, việc tiếp tục  truyền bá văn hoá này hay không, không mang nhiều ý nghĩa. Tất nhiên, những hệ luỵ tồi tệ mà văn hoá Khổng Nho đã để lại trên đất nước này quá rõ ràng. Nhưng điều cần suy ngẫm và hành động ngay là làm thế nào để đưa những tư tưởng và văn hoá mang tính khai sáng và tự do của phương Tây vào Việt Nam, để tạo nên sự đột phá về tư duy, để tạo điều kiện tốt cho công cuộc chuyển đổi dân chủ như cách phương Tây hoá  mà người Nhật đã làm; chứ không phải là ngồi  lo lắng về việc người ta đang rót thêm nước Khổng Nho vào cái cốc vốn đã đầy thứ nước này.

Thứ ba, là về việc thúc đẩy các chương trình hợp tác văn hoá giữa hai nước. Với sự phụ thuộc chính trị của đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam đối với đảng và Nhà nước cộng sản Trung Quốc, tôi cho rằng, không có học viện Khổng Tử thì chương trình “hợp tác văn hoá” này vẫn được thực hiện từ lâu, nghiêm trọng hơn sự hợp tác văn hoá này chủ yếu diễn ra theo một chiều nghiêng về phía Trung Quốc. Và  hiện tại không chỉ  có sự hợp tác văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, mà sự thể đã được đẩy tới mức đáng lo ngại gấp trăm lần hơn. Đó là sự gắn kết và phụ thuộc cả về chính trị, kinh tế và xã hội của Việt Nam đối với Trung Quốc. Trong khi phương Tây không có gì để lo lắng về quyền lực mềm của Trung Quốc vì thực trạng nội bộ thảm hại của  đất nước to lớn này lẫn sự hung hăng của họ đã vang dội khắp năm châu, thì nhà cầm quyền Việt Nam lại hèn nhát, bỏ ngõ cánh cửa quốc gia cho Trung Quốc muốn dùng quyền lực nào cũng được, chứ không phải chỉ mỗi quyền lực mềm. Một học viện Khổng Tử, thiết nghĩ, cũng chỉ là thêm một sự kiện nhỏ vào một bối cảnh lớn đã trở nên trầm trọng từ lâu.

Có thể xem qua một vài ví dụ điển hình về sự bá quyền toàn diện mà Trung Quốc đã áp đặt lên Việt Nam dưới sự trợ giúp ngoan ngoãn của chính quyền Việt Nam. Trong thời chiến, Trung Quốc đã rộng tay trao cho chính quyền cộng sản miền Bắc Việt Nam những khoản viện trợ khổng lồ để đánh miền Nam. Hiện nay, Trung Quốc đang tiếp tục viện trợ cho chính quyền Việt Nam những khoản tiền không thể xác định, nhằm giữ cho Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc và nhằm tiếp sức cho chính quyền Việt Nam có đủ lực để giữ nguyên hiện trạng độc tài.  Gần 300 ngàn héc ta rừng đầu nguồn, trong đó có hơn hai trăm ngàn ha thuộc mười tỉnh biên giới xung yếu đã được giao cho người Trung Quốc, Hồng Kông thuê với thời hạn 50 năm. Hơn 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… của Việt Nam, đều do Trung Quốc đảm nhiệm theo hình thức tổng thầu EPC. Cùng với các hợp đồng tổng thầu này là việc hàng chục nghìn người lao động phổ thông Trung Quốc sang Việt Nam làm việc, lấy mất cơ hội việc của người lao động Việt Nam trên chính đất nước mình. Việt Nam trở thành nơi tiêu thụ của máy móc, công nghệ lỗi thời, hàng hoá kém chất lượng và hoá chất độc hại chết người từ Trung Quốc. Quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam hiện đang nằm trong sự kiểm soát thô bạo của Trung Quốc. Các văn hoá phẩm Trung Quốc như tiểu thuyết, phim ảnh, tài liệu chính trị- văn hoá tràn ngập thị trường Việt Nam…

Nếu sự hiện diện của  học viện Khổng Tử quan trọng và ảnh hưỏng lớn đến quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc  ở Việt Nam thì chắc chắc từ nhiều năm qua hàng chục học viện Khổng Tử đã được thành lập tại Việt Nam mà không có sự phản đối nào từ giới trí thức hay người dân thường có thể ngăn cản được.  Một nhà cầm quyền phụ thuộc ngoại bang đến độ ngư dân của mình bị tàu Trung Quốc bắn chết cũng không dám có hành động phản đối và có hành động ngăn chặn thực tế, thì liệu họ có dám cãi lời khi việc thành lập học viện này thực sự quan trọng đối với người đàn anh này?

Vì thế, thiển nghĩ, sự kiện thành lập học viện Khổng Tử gần đây chỉ nhằm đánh lạc hướng dư luận khỏi những sự kiện quan trọng hơn như: Quốc hội Việt Nam sắp thông qua một bản Hiến pháp phản động, không những không pháp chế hoá các quyền tự do và nhân quyền phổ quát mà còn cố gắng xâm phạm các quyền này; nhiều trẻ sơ sinh đột tử do bị tiêm vaccine kém chất lượng dẫn đến sự phản kháng của người dân kêu gọi Bộ trưởng Y tế phải từ chức; tình trạng chính quyền độc tài bảo trợ cho các chủ dự án cướp đất của nông dân gây nên làn sóng phẫn nộ khắp cả nước; và chế độ công an trị trao quyền lực cho lực lượng công an lộng hành, đánh chết nhiều người dân vô tội…  Chính quyền Việt Nam trước nay vẫn là bậc thầy trong việc định hướng dư luận theo hướng có lợi cho họ, mà học viện Khổng Tử chỉ là một trong những trường hợp như thế. 

H.T.V. 

* Blogger Huỳnh Thục Vy, 28 tui, là con gái ca nhà văn bt đng chính kiến Huỳnh Ngc Tun. Các em ca cô cũng là các blogger viết và ph biến các bài viết đi lp vi quan đim ca chính quyn Vit Nam. Vì vy cô đã tr thành đi tượng b sách nhiu và trng pht thường xuyên.
* Bài viết th hin quan đim, ý kiến ca riêng tác gi, không nht thiết là ca Defend the Defender.

Nguồn: BVN

 

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

TS. Nguyễn Hưng Quốc: VIỆN KHỔNG TỬ VÀ QUYỀN LỰC MỀM CỦA TRUNG QUỐC


Viện Khổng Tử và quyền lực mềm của Trung Quốc 
Nguyễn Hưng Quốc
05.11.2013

Ở Việt Nam, trong suốt mấy tuần vừa qua, dư luận, ít nhất là trong giới trí thức, khá xôn xao về quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho phép thành lập Viện Khổng Tử tại trường Đại Học Hà Nội. Tất cả đều đồng thanh bày tỏ sự lo ngại và bất bình: Họ cho đó là dấu hiệu của cuộc xâm lược văn hóa, từ phía Trung Quốc, và của sự đầu hàng trước cuộc xâm lược ấy, từ phía Việt Nam.

Trước khi bình luận, có mấy điều chúng ta cần lưu ý:

Thứ nhất, Viện Khổng Tử được chính phủ Trung Quốc thành lập vào tháng 6 năm 2004 với số tiền trên 500 triệu Mỹ kim, hiện nay đã có trên 400 cơ sở trên khoảng hơn 100 quốc gia (chưa kể khoảng 400 viện khác đang nằm trong dự án và cũng không tính các Lớp học Khổng Tử, Confucius Classrooms, thường là một bộ phận của Viện Khổng Tử, Confucius Institute, nhưng cũng có khi tồn tại riêng rẽ ở những nơi Viện Khổng Tử chưa được thành lập). Ở Mỹ có trên 70 viện; ở Anh, trên 20 viện; ở Úc, Đức, Pháp, Nga, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, mỗi nước trên 10 viện; v.v..Về số lượng, các Viện Khổng Tử hiện nay đã gần ngang ngửa với Aliances Françaises của Pháp và bằng tổng số các trung tâm ngôn ngữ và văn hóa của cả ba học viện British Council của Anh, Instituto Cervantes của Tây Ban Nha, và Goethe-Institut của Đức cộng lại dù cả ba đều có một lịch sử khá lâu đời, trên nửa thế kỷ.
 
Về tốc độ, đó là học viện phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Thứ hai, trên nguyên tắc, Viện Khổng Tử hoạt động với ba mục tiêu chính: Một, truyền bá tiếng Hoa (và chữ Hán theo lối giản thể được sử dụng tại Trung Quốc từ sau năm 1949); hai, truyền bá văn hóa Trung Quốc; và ba, thúc đẩy các chương trình hợp tác và trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và các nước. Đằng sau ba mục tiêu này là một mục tiêu khác, lớn và quan trọng hơn: Tuyên truyền cho hình ảnh một nước Trung Quốc có truyền thống văn hóa lâu đời, hiền lành, yêu chuộng hòa bình, không hề là một đe dọa đối với bất cứ một nước nào khác.

Nhìn vào các mục tiêu ở trên, Viện Khổng Tử không khác mấy với các học viện ngôn ngữ và văn hóa nổi tiếng trên thế giới, từ British Council của Anh, Aliances Françaises của Pháp, Instituto Cervantes của Tây Ban Nha, hay Goethe-Institut của Đức. Tất cả đều nhằm, qua việc dạy ngôn ngữ và văn hóa của nước mình, tạo sự thông cảm và thắt chặt các quan hệ quốc tế với các nước khác.

Tuy nhiên, trên thực tế, Viện Khổng Tử có nhiều đặc điểm khiến giới quan sát phải nghi ngờ và e ngại.

Một, Viện Khổng Tử không phải chỉ giới hạn trong lãnh vực ngôn ngữ hay văn hóa. Ví dụ tại Úc, Viện Khổng Tử tại trường Đại học RMIT dạy cả về Đông Y, tại trường Đại học Queensland dạy cả về khoa học kỹ thuật. Ở tất cả các nơi, khi dạy về ngôn ngữ và văn hóa, các bài giảng đều ít nhiều liên hệ đến chính trị của Trung Quốc hiện nay. Hơn nữa, theo nhiều nguồn tin, Viện Không Tử có những chính sách hoàn toàn mang màu sắc chính trị, ví dụ, về tuyển dụng nhân viên, họ cấm tuyệt đối những người từng tham gia vào Pháp Luân Công hoặc những tổ chức chống lại chính phủ Trung Quốc; về hoạt động, họ cũng cấm mời Đức Đà Lai Lạt Ma cũng như bất cứ một viên chức nào từ Tibet và Đài Loan đến nói chuyện ở các Viện Khổng Tử. Thậm chí cấm cả việc bàn luận về Tibet trong viện.

 
Hai, cấu trúc của các Viện Khổng Tử cũng khá đặc biệt: Bao giờ nó cũng có hai giám đốc, một là người địa phương và một là người từ Trung Quốc sang. Theo Michael Kahn-Ackermann, cựu giám đốc của Viện Goethe, đó chính là điểm khác biệt lớn giữa Viện Khổng Tử so với tất cả các học viện về ngôn ngữ và văn hóa khác trên thế giới.

Ba, về phương diện tổ chức, một mặt, trong khi các học viện về ngôn ngữ và văn hóa khác khá độc lập với chính phủ, Viện Khổng Tử hoàn toàn nằm trong tay chính phủ Trung Quốc; mặt khác, trong khi các học viện khác tồn tại như một cơ sở giáo dục hay văn hóa độc lập ở ngoại quốc, Viện Khổng Tử bao giờ cũng liên kết và nằm TRONG một trường đại học hoặc trung học nào đó ở địa phương. Ví dụ, ở Việt Nam, sắp tới, Viện Khổng Tử sẽ nằm trong hệ thống Đại học Hà Nội. Ở các nước khác cũng vậy. Có điều, tuy là một bộ phận của các cơ sở giáo dục địa phương, khoảng một nửa ngân sách và phần lớn giáo viên cũng như toàn bộ tài liệu giảng dạy lại do chính phủ Trung Quốc cung cấp.

Chính điều này gợi lên nhiều nghi ngại cho thế giới. Nghi ngại về ba chuyện: Về phương diện học thuật, dưới ảnh hưởng của chính quyền Trung Quốc, người ta không còn tự do và độc lập trong tư tưởng; về phương diện chính trị, các viện ấy chỉ đóng vai trò tuyên truyền cho chính phủ; và đặc biệt, về phương diện an ninh, rất có khả năng những cán bộ hoặc giáo viên trong các viện ấy làm công tác tình báo kỹ nghệ để ăn cắp các phát kiến về khoa học kỹ thuật và kinh tế trong các trường đại học.

Ba đặc điểm nêu trên cho thấy Viện Khổng Tử không đơn giản là một cơ sở giáo dục về ngôn ngữ hay văn hóa. Nó còn nhắm đến các mục tiêu kinh tế (khuyến khích làm ăn với Trung Quốc – chưa kể chuyện làm gián điệp) và cả các mục tiêu chính trị, trong đó có những cuộc vận động liên quan đến quyền lực mềm (soft power). Trong cái gọi là “quyền lực mềm” ấy, nội dung quan trọng nhất mà Trung Quốc nhắm tới là tạo nên một hình ảnh hiền lành, yêu chuộng hòa bình và công lý của Trung Quốc, nhằm xóa tan những nỗi sợ của mọi người đối với tham vọng bá quyền của Trung Quốc.

Tất cả những điều ấy, hầu như ai cũng biết. Từ nhiều năm nay, Trung Quốc đã đổ ra hàng nhiều tỉ đô la cho chiến dịch củng cố quyền lực mềm như thế. Họ viện trợ một cách cực kỳ hào phóng cho nhiều quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ La Tinh và châu Á. Họ tổ chức Olympics 2008 và Sanghai Expo năm 2010. Trong hai năm 2009 và 2010, họ bỏ ra 8 tỉ 9 Mỹ kim cho lãnh vực truyền thông đại chúng, trong đó có những kênh truyền thanh và truyền hình phát 24 giờ một ngày nhắm vào khán thính giả Tây phương. Chương trình phát thanh quốc tế bằng tiếng Anh cũng làm việc liên tục ngày và đêm.

Các Viện Khổng Tử chỉ là một trong cả một chiến dịch rộng lớn và rầm rộ ấy.

Vấn đề là: chiến dịch củng cố quyền lực mềm ấy có thành công hay không?

Giáo sư Joseph S. Nye Jr, chuyên gia hàng đầu về quyền lực mềm trên thế giới, trả lời một cách dứt khoát: Không.

Trong bài “China's Soft Power Deficit”, viết vào năm 2012, Nye cho quyền lực mềm của một nước chỉ phát huy tác dụng với một số điều kiện:

Thứ nhất, nó không gây tâm lý lo ngại và, từ đó, nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng ở các nước láng giềng (ví dụ: những điều đó không hề xảy ra ở Canada và Mexico trước quyền lực mềm của Mỹ).

Thứ hai, phải có sự nhất quán giữa lời nói và việc làm: khi hiện thực trong nước khác hẳn với những lời lẽ tuyên truyền trên mặt trận truyền thông quốc tế, quyền lực mềm sẽ mất hết tác dụng.

Olympics năm 2008 ở Bắc Kinh có vẻ như thành công rực rỡ, nhưng sự thành công ấy tan vỡ ngay tức khắc sau đó khi chính quyền Trung Quốc ra lệnh bắt bớ những người bất đồng chính kiến.

Shanghai Expo năm 2010 cũng thành công rực rỡ nhưng sự thành công ấy cũng bị dập tắt ngay tức khắc khi Trung Quốc bắt nhà hoạt động nhân quyền Lưu Hiểu Ba. Hình ảnh chiếc ghế trống trong buổi trao giải Nobel hòa bình cho Lưu Hiểu Ba trở thành một biểu tượng đầy quyền lực làm xóa nhòa tất cả các hoạt động tuyên truyền tốn hàng tỉ đô la trước đó.

Viện Khổng Tử được thành lập ở Philippines nhằm gây thiện cảm với người dân địa phương nhưng tất cả những tình cảm ấy, nếu có, đều biến mất khi Trung Quốc quấy nhiễu bãi đá cạn Scarborough vốn thuộc chủ quyền của Philippines.

Đánh giá một cách tổng quát, Nye cho các nỗ lực củng cố quyền lực mềm của Trung Quốc đã thất bại. Bằng chứng rõ rệt nhất là qua các cuộc thăm dò dân luận, cách nhìn về Trung Quốc chỉ tương đối mang màu sắc tích cực ở châu Phi và châu Mỹ La Tinh; còn ở Mỹ, châu Âu cũng như nhiều nước ở châu Á, đặc biệt Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc, nó hoàn toàn có tính chất tiêu cực. Điều đó, với Nye, hoàn toàn chính đáng: ở Trung Quốc hiện nay, dưới ách kiểm duyệt ngặt nghèo của chính phủ, ở đâu người ta cũng thấy sự nghèo nàn về tư tưởng.

Không có nước nào có thể làm cho người khác yêu mến, tin cậy và ngưỡng mộ với sự nghèo nàn, chật chội và giả dối như thế cả.

Đó là lý do tại sao các nước Tây phương, kể cả Mỹ, dù biết rõ âm mưu của Trung Quốc, vẫn cứ cho phép mở các Viện Khổng Tử ngay trên đất nước của họ. Không phải là một. Mà là nhiều viện. Xum xuê như trăm hoa đua nở.

Nhưng đó là ở Tây phương, còn ở các nước khác thì sao?

Theo Trefor Moss, trên The Diplomat ngày 4 tháng 6, 2013, chúng ta không nên vội vã đánh giá thấp các nỗ lực vận động quyền lực mềm của Trung Quốc. Kể từ năm 2000, Trung Quốc bỏ ra 74 tỉ đô la để xây dựng các dự án hợp tác và viện trợ ở 50 trên tổng số 54 quốc gia châu Phi. Kết quả là ở châu Phi, rất nhiều người nhìn Trung Quốc một cách đầy thiện cảm: Họ xem Trung Quốc như một đối tác tốt, một kẻ đến để cứu vớt họ và là một mẫu mực mà họ nên bắt chước. Dĩ nhiên, tất cả những thiện cảm này đều dễ dàng biến mất nếu Trung Quốc sử dụng bạo lực với họ. Nhưng khi điều này chưa xảy ra thì nỗ lực của Trung Quốc rõ ràng là có kết quả.

Riêng trong trường hợp của Việt Nam thì sao?

Theo tôi, sự hiện diện của Viện Khổng Tử tại Đại Học Hà Nội, tự bản thân nó, không đáng lo ngại cho bằng thái độ của nhà cầm quyền cũng như của cán bộ Việt Nam nói chung.

Trung Quốc sử dụng Viện Khổng Tử để làm gián điệp kỹ nghệ ư? Âm mưu này có thành công hay không là tùy thuộc mức độ cảnh giác cũng như khả năng tổ chức của các đại học Việt Nam. Nhưng ở cả hai khía cạnh này, qua kinh nghiệm lâu nay, chúng ta đều thấy rõ: hoàn toàn không đáng tin cậy.

Trung Quốc sử dụng Viện Khổng Tử để tuyên truyền cho Trung Quốc ư? Âm mưu này có thành công hay không là tùy thuộc vào mức độ phản tuyên truyền và công khai hóa thông tin từ phía Việt Nam. Ở Philippines, sự tuyên truyền của Trung Quốc qua Viện Khổng Tử mất hết tác dụng vì dân chúng biết rõ, rất rõ tham vọng bành trướng lãnh hải và các hành động quấy nhiễu của Trung Quốc ở bãi đá cạn Scarborough. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, nếu chính phủ cứ giấu giếm hết những chuyện như thế, cứ leo lẻo phụ họa với bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc về cái gọi là 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” và 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” thì đương nhiên Trung Quốc sẽ thành công.

Thành thực mà nói, trong cả hai âm mưu gián điệp và tuyên truyền, Trung Quốc đã thành công ngay cả trước khi thành lập Viện Khổng Tử.

Cái Viện ấy có nằm chình ình ngay giữa Hà Nội hay không thì cũng vậy. Có khi, với những người còn yêu nước, đó lại là điều hay: Nó hiện diện như một thách thức.


-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KHỔNG TỬ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

Nhân Viện Khổng Tử sắp thành lập ở Việt Nam,
điểm qua vài ghi nhận về các Viện Khổng Tử ở Bắc Mỹ 
và Australia trên báo The Nation

H. H. 

“Các Viện Khổng Tử [VKT] kiểm duyệt những cuộc tranh luận chính trị và hạn chế tự do trao đổi ý tưởng. Vậy thì tại sao các trường đại học Mỹ lại đỡ đầu chúng?”. 

Câu hỏi in đậm trên đầu bài báo của The Nation (xem ở đây) có lẽ khá dễ trả lời: Nhà nước TQ chi đậm cho các VKT của họ, đổi lấy những thoả thuận pro-Trung được ký kết với các đại học Mỹ và và giữ kín với công chúng. Một thí dụ: Trường Stanford nhận 4 triệu đôla từ Hanban (Hán ban – Hội đồng tiếng Hán quốc tế), cơ quan trách nhiệm tối cao của các VKT, trong đó: 1 triệu cho các hội thảo, 1 triệu cho các học bổng nghiên cứu sau đại học, 2 triệu chi tiêu cho các giáo sư.

Chương trình của VKT tại các đại học Bắc Mỹ và Australia chủ yếu là dạy tiếng Trung và văn hoá Trung Hoa, ngoài ra nó bảo trợ nhiều hoạt động ngoại khoá đa dạng bao gồm triển lãm, nói chuyện, hội thảo, chiếu phim và lễ hội Trung Hoa, tài trợ các dự án nghiên cứu liên quan đến TQ.

Được biết số VKT trên khắp thế giới hiện là khoảng 400, không kể các “lớp học về Khổng Tử” với số lượng khoảng 600 tại các trường trung và tiểu học. 

Các VKT trên toàn cầu có quy chế hết sức chặt chẽ, được kiểm soát thống nhất từ Bắc Kinh bởi Hanban.

Mặc dù các tài liệu chính thức nói Hanban là bộ phận của Bộ Giáo dục TQ, nhưng thực ra nó là một hội đồng gồm quan chức 12 bộ ngành (Ngoại giao, Giáo dục, Tài chính, Văn hoá, Phòng Thông tin của Hội đồng Nhà nước, Cục Báo chí Xuất bản…) do Phó Thủ tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị Lưu Duyên Đông (Liu Yandong) trực tiếp lãnh đạo. Nó là công cụ của ĐCS mang danh một tổ chức giáo dục quốc tế.

Hanban giành quyền cung cấp sách giáo khoa, giảng viên, chương trình, và chỉ định người TQ làm đồng giám đốc (cùng với một người của đại học sở tại). Hanban làm mọi việc để các VKT rọi một “ánh sáng đúng” về TQ, hay nói trắng ra như Uỷ viên Bộ Chính trị Lý Trường Xuân (Li Changchun) thì VKT là “một phần quan trọng của thiết chế tuyên truyền hải ngoại của TQ”.


clip_image002
Lý Trường Xuân và Lưu Duyên Đông bắt tay các sinh viên VKT tại Đại hội VKT lần thứ 5 ngày 10/12/2010 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Bắc Kinh. Ảnh: VTV

Trong các thoả thuận của VKT với các trường ĐH Mỹ có điều 5, yêu cầu hoạt động của VKT phải tuân theo phong tục, luật lệ của TQ cũng như của nước sở tại. Tờ Nation nêu câu hỏi: Làm sao có thể chấp nhận điều này ở một nước như Hoa Kỳ trong khi luật pháp TQ kết tội hình sự các phát biểu về chính trị và niềm tin, là những gì được bảo vệ bởi Tu chính án số 1 Hoa Kỳ. Vậy nếu các ĐH Mỹ chấp nhận điều 5 trong thoả thuận với VKT, họ sẽ là đồng loã về tội phân biệt đối xử khi tuyển dụng (discriminatory hiring) hay vi phạm quyền tự do ngôn luận. 

Một chi tiết tinh vi trong chương trình học của VKT đã được một vạch ra: quy định sử dụng chữ Trung văn chuẩn do nhà nước TQ ban hành sẽ tự nhiên đào thải mọi văn bản không được nhà nước chuyển tự, từ cổ văn cho đến các văn bản của ngưòi Hoa ngoài đại lục như Đài Loan, Hồng Kông…

clip_image003
Lưu Duyên Đông trong hội nghị Tổng bộ các VKT tháng 12/2011. Ảnh: Hanban News

Các VKT áp dụng những “vùng cấm” mà chính quyền Bắc Kinh áp đặt cho đời sống công cộng: không bàn về Đạt Lai Lạt Ma, không mời Đạt Lai Lạt Ma đến trường, không nói đến Tây Tạng, Đài Loan, đến quân đội TQ, đến sự đấu đá trong cấp lãnh đạo TQ, cùng rất nhiều húy kỵ như vụ thảm sát Thiên An Môn, việc bỏ tù các người bất đồng, phong trào dân chủ, các nhà văn bị vào sổ đen, sự thao túng đồng nhân dân tệ, ô nhiễm môi trường, phong trào đòi tự trị ở Tân Cương… Gần đây, có chỉ thị rõ ràng từ Bắc Kinh cấm 7 đề tài thảo luận trong các lớp tiếng Trung quốc tế trong đó có vấn đề những giá trị phổ quát, tự do báo chí và những sai lầm lịch sử của ĐCSTQ.

Các VKT còn công khai vận động chính trị như: VKT ở ĐH North Carolina, ở ĐH Sydney đã vận động để ngăn cản Đạt Lai Lạt Ma đến nói chuyện. Khi đến Sydney, vị này đã phải nói ngoài khuôn viên trường ĐH và trong lúc ấy, VKT tài trợ cho một buổi thuyết giảng của một GS người Hoa từng tuyên bố công khai Tây Tạng là bộ phận của TQ. VKT ở ĐH Waterloo huy động sinh viên biểu tình ủng hộ chính quyền TQ đàn áp cuộc nổi dậy của Tây Tạng. VKT ở ĐH McMaster và ĐH Tel Aviv đã gặp rắc rối với chính quyền địa phương vì những hoạt động chống Pháp Luân Công.

Cũng vừa mới đây, trang mạng tiếng Anh chính thức của Hanban công bố những yêu cầu tuyển giảng viên tiếng Trung hải ngoại, trong đó nói rõ “những người dự tuyển không được có hồ sơ tham gia Pháp Luân Công hay những tổ chức bất hợp pháp khác hay có tiền án, tiền sự”. Tờ Nation hài hước: cứ theo những chuẩn này, một người như Lưu Hiểu Ba, Khôi nguyên Nobel Hoà Bình, sẽ không bao giờ có cơ may được làm giảng viên tiếng Trung tại VKT!

Những hoạt động tuyên truyền chính trị cuả VKT bị phản ứng ở nhiều nơi trên thế giới. Một video về chiến tranh Triều Tiên nhan đề “Cuộc chiến chống đế quốc Mỹ gây hấn và trợ giúp Nam Hàn” vừa bị rút khỏi trang mạng của Hanban sau khi các GS Trường Kinh tế London lên tiếng chất vấn về các học liệu của VKT dặt ở trường này từ 2007.

Tháng 6 năm 2011, một kiến nghị với hơn 4000 chữ ký được gửi lên Nghị viện bang New South Wales (Australia) đòi rút các lớp học của VKT đặt tại một số trường công lập. Lý do là chính quyền đã thừa nhận rằng những đề tài có ý kiến trái ngược như vụ thảm sát Thiên An Môn và hồ sơ nhân quyền TQ sẽ không được thảo luận trong chương trình của VKT. Bản kiến nghị tuyên bố rằng chính quyền ngoại quốc không được quyết định những gì được dạy trong các trường học của bang New South Walesvà không được đưa tuyên truyèn vào chương trình học.Tháng 10 năm 2011, nghị sĩ Jamie Parker của Đảng Xanh lại đưa ra một kiến nghị có khảng 10.000 chữ ký ủng hộ những yêu cầu trên.

Gần đây có hai sự cố liên quan đến các VKT ở ĐH MacMaster và Waterloo, Canada.

Năm học này, trường McMaster kết thúc thoả thuận với VKT sau khi có khiếu kiện về việc phân biệt đối xử trong tuyển dụng tại Toà án Nhân quyền Ontario. Một giảng viên tiếng Trung, cô Sonia Zhao, thưa VKT ở trường này vì trong hợp đồng mà VKT yêu cầu cô ký, có khoản đòi hỏi cô từ bỏ Pháp Luân Công thì mới được tuyển dụng. Cô tuyên bố: “Trong thời gian huấn luyện tại Bắc Kinh, họ đã bảo tôi đừng nói đến chuyện Tây Tạng hay các đề tài nhạy cảm khác… Nếu học viên cứ cố nài, thì cô chỉ việc tìm cách chuyển đề tài hoặc nói cái gì mà ĐCS thích.”

Một vụ khác nổ ra ở ĐH Waterloo, ông hiệu trưởng trường này không được biết các hợp đồng mà giảng viên VKT đã ký và không kiểm soát được nội dung của những hợp dồng ấy. Có lẽ điều đó giải thích vì sao có cuộc vận động của viên giám đốc người TQ huy động sinh viên bảo vệ hành động của TQ ở Tây Tạng. Năm 2008, khi TQ đàn áp cuộc nổi dậy của Tây Tạng, cô Yan Li, nguyên là phóng viên Tân Hoa Xã, đã tập họp sinh viên VKT ở ĐH Waterloo để “cùng hành động chống lại truyền thông Canada” đã phản ánh mạnh mẽ cuộc trấn áp. Yan Li lên lớp giảng về tình hình Tây Tạng theo ý cô, sử dụng một bản đồ TQ bao gồm Tây Tạng. Thế là sinh viên tung ra một chiến dịch chống lại truyền thông Canada, họ coi tivi, báo chí, mạng… đã xuyên tạc tình hình để bênh vực phe nổi dậy ở Tây Tạng. Chiến dịch thành công đến nỗi tivi phải lên tiếng xin lỗi vì đã trình bày tình hình chưa khách quan! 

Viết đến đây tôi rùng mình khi liên tưởng (chắc không xa sự thực): một ngày nào đó, một cô giảng viên xinh đẹp người TQ của VKT tại Hà Nội giảng cho học viên Việt Nam về Trường Sa, Hoàng Sa, sử dụng chiếc bản đồ “đường lưỡi bò”!!! Chuyện gì sẽ xảy ra???

H. H.
-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

TRUNG QUỐC "THỂ HIỆN MỘNG BÁ QUYỀN" QUA VIỆN KHỔNG TỬ Ở VIỆT NAM?


Trung Quốc ‘thể hiện mộng bá quyền’
qua Viện Khổng Tử ở Việt Nam? 

VOA Tiếng Việt 
24.10.2013 

Tin cho hay, ý tưởng thành lập Viện này ở Việt Nam đã được nhen nhóm từ năm 2009, nhưng theo nhận định của giới quan sát, những mối căng thẳng ở biển Đông đã làm cho dự án này bị trì hoãn.
 

Nhưng Bắc Kinh đã tỏ ra dịu giọng hơn trong chuyến thăm của ông Lý vì theo đánh giá của các chuyên gia, ‘Trung Quốc muốn tỏ ra rằng họ không hiếu chiến’ trong bối cảnh nước này ‘đang bị cô lập trong vấn đề tranh chấp lãnh hải’.
Tiến sỹ Nguyễn Nhã, nhà sử học có nghiên cứu về Trung Quốc, cho rằng Viện Khổng tử là ‘một trong những ý đồ của Bắc Kinh muốn sử dụng ảnh hưởng về văn hóa để thể hiện quyền lực mềm đối với Việt Nam’.

Ông nói: “Ngay cả Trung Quốc, thời kỳ Cách mạng văn hóa cũng đã đạp đổ hoàn toàn cả Khổng học cũng như Nho giáo. Bây giờ họ muốn dựng lại để tạo ảnh hưởng đối với các nước lân bang hay là các nước mà họ muốn gây ảnh hưởng”.

Báo chí trong nước đưa tin, Viện Khổng Tử ‘giảng dạy tiếng Hoa; đào tạo giáo viên Hoa ngữ; tổ chức thi trình độ tiếng Hoa; chiếu phim Trung Quốc; tư vấn du học; tổ chức các hoạt động trao đổi văn hóa, hữu nghị’.

Trong khi đó, blogger Paulo Thành Nguyễn cho rằng Viện Khổng tử là một trong những công cụ để Trung Quốc ‘thể hiện mộng bá quyền’.

Người từng lập cơ sở kinh doanh với ‘cam kết không bán hàng hóa Trung Quốc’ còn nói thêm rằng Trung Quốc đã truyền bá văn hóa của nước này ở Việt Nam ‘qua con đường phim ảnh từ lâu rồi’.

Ông nói: “Đó là một trong những mục đích để thể hiện bá quyền về văn hóa và giải trí. Tất cả đều lồng vào thông điệp mà Trung Quốc muốn gửi đến người dân Việt Nam để thông quá đó để rao giảng về văn hóa của họ”.
Về tác động của quyền lực mềm của Trung Quốc đối với Việt Nam, người được coi là cha đẻ của thuyết quyền lực mềm, Giáo sư tại Đại học Harvard Joseph Nye từng nhận định với VOA Việt Ngữ rằng ‘Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là Khổng giáo, trong một thời gian dài’.

‘Ngoài ra, Trung Quốc còn tìm cách truyền bá tư tưởng của mình. Người Trung Quốc cho rằng quá trình thích nghi của Đảng Cộng sản trong khi thực thi nền kinh tế thị trường là điều hấp dẫn đối với Việt Nam’, ông Nye nói.

Theo Tiến sỹ Nhã, sự mở rộng văn hóa của Trung Quốc ‘không phải là hướng có lợi cho Việt Nam’.

Ông nói: “Trung Quốc đã muốn và thể hiện quyền lực mềm trong kinh tế, và theo tôi, Trung Quốc đã khá thành công. Hàng hóa của Trung Quốc tràn lan và sự nhập siêu của Việt Nam thì quá lớn. Như thế theo tôi cũng là một sự lệ thuộc. Chỉ khi nào mình cân bằng được thì lúc đó mình mới thực sự thể hiện sự độc lập, tự chủ của mình”.

Trong một bài viết trên blog của mình, blogger Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Hán – Nôm ở Hà Nội, cho rằng giới lãnh đạo Việt Nam ‘có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc’.
Nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam – Trung Quốc viết: “Việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh. Có những công trình tu bổ hoặc xây mới mang đậm dấu ấn Trung Quốc. Có hàng loạt các ngôi chùa từ Nam chí Bắc trùng tu, trang trí theo kiểu Trung Quốc”.

“Để những học viện Khổng Tử như thế tồn tại ở Việt Nam đòi hỏi những nhà lãnh đạo về tư tưởng và văn hóa phải có sự hiểu biết sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng. Nếu không, nó sẽ là cuộc xâm lăng về mặt văn hóa”, ông Diện viết.

Theo tờ Nhân dân Nhật Báo của Trung Quốc, hiện có khoảng hơn 400 Viện Khổng Tử do Trung Quốc tài trợ đặt tại các trường đại học trên toàn thế giới, trong đó có cả Mỹ và nhiều nước châu Phi.
Nguồn: VOA 

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

TẢN MẠN VỀ KHỔNG TỬ VÀ VIỆN KHỔNG TỬ SẮP MỞ Ở VIỆT NAM

Tản mạn về Khổng Tử
và Viện Khổng Tử sắp mở ở Việt Nam
Phùng Hoài Ngọc

Người ta không sợ ông Khổng, hay cái Viện Khổng tử, mà người ta sợ cái kẻ (cả phía TQ lẫn phía VN) đang muốn lợi dụng Khổng giáo cho mục đích riêng họ. Và Khổng giáo cùng Viện Khổng tử bị lên án là vì (vô tình) trở thành công cụ cho những kẻ này. Đạo Khổng có những nội dung bất cập, đồng thời có nhiều điểm hay, nhưng chắc chắn nó chưa đầy đủ. Trong khi người dân Việt Nam còn đang rất thiếu hiểu biết về tự do, dân chủ, pháp quyền (những khái niệm xa lạ với Khổng giáo) mà nhà nước không những đã không tạo điều kiện để làm tăng sự hiểu biết của người dân về những vấn đề trên, lại đi lo vun đắp cái tinh thần Khổng giáo, là điều mà truyền thống Việt Nam cũng đã thấm nhuần lắm rồi, lại xuất phát từ chủ trương của một anh thực dân (mới nổi lên) là Trung Quốc, thì việc ấy chẳng phải cũng đáng lo lắm sao ? (P.H.N).

Suốt gần ngàn năm qua trong nhiều hoàn cảnh bị cai trị trực tiếp mà người Việt học Khổng tử vẫn không bị Hán hoá, bây giờ có cần phải lo lắng một cái Viện Khổng tử chăng?   

Ngày xưa người Việt học Hán ngữ và Khổng tử vì không thể không học. Tuy nhiên thời ấy các cụ nhất định phiên âm Hán ngữ ra âm Hán-Việt để xài, quyết không học nguyên vẹn tiếng Hoa, nhằm giữ vững tự chủ tự lập, tránh khỏi bị đồng hoá. 

Khi thấy chữ Hán không đủ phục vụ nhu cầu cần thiết, các cụ soạn ra chữ Nôm để ghi âm nốt một phần tiếng Việt cho đủ dùng. 

Tìm hiểu vai trò của Khổng tử ở Trung Quốc và Việt Nam, tưởng chúng ta cũng nên điểm qua vài nét về Khổng học. 

Khổng tử sống vào cuối thời Xuân thu (sinh 551 trước CN, mất 479 tr CN). 

Thời Xuân thu (770 – 455 tr.CN) xã hội Trung Hoa đang bước vào giai đoạn sơ kỳ phong kiến. Thể chế xã hội chia hai bậc cai trị chính thức: hoàng đế và chư hầu . Hoàng đế nhà Chu ngày càng tỏ ra không đủ sức cai quản lãnh thổ ngày càng rộng lớn với cả trăm nước chư hầu (chư : các, số nhiều). Đã vậy còn nảy sinh một bậc chen giữa là “vương ”, có lúc lên tới 14 vị (còn dùng chữ bá không chính thức kèm với vương,bá tức là “bác”, anh của cha, nhưng giữ quyền cao hơn cha, tức là lạm quyền. Vậy người dân mới bực mình dùng chữ “bá” với ý mỉa mai, bực bội như bá đạo, bá quyền, bá chiếm…Bá vương lấn lướt tung hoành bất chấp hoàng đế. Dân chúng chịu một cổ ba tròng. Đây là giai đoạn loạn lạc, đời sống bất an do các chư hầu đua nhau “tranh bá đồ vương”, họ vơ vét của cải thuế khoá, tuyển lính để chứng tỏ lực lượng mình hùng hậu, nhằm tham dự các đại hội chư hầu bầu chọn “bá vương”. Nếu đạt được tước “vương” thì sẽ tiếp tục lôi kéo chư hầu và bá vương khác, nhắm cái đích cuối cùng là tranh “đế”. Trong hoàn cảnh như vậy, kẻ sĩ hay võ sĩ thấy cần phải chọn đúng minh chúa mà theo (làm chính trị thời ấy như đánh bạc). Đất nước bất an thì lòng người cũng ly tán, lối sống bừa bãi, tệ nạn xã hội phát triển, chả biết đâu là chuẩn mực văn minh… 

Trong bối cảnh ấy, nhiều trí thức học giả thấy cần phát huy vai trò của mình để vãn hồi trật tự, sao cho giữ được cuộc sống thanh bình an lạc ngày xưa. Lão Tử đưa ra học thuyết “Đạo đức kinh” (kinh: đường mòn, vạch sẵn mà đi) không ngoài mục đích trên… Kế đến nhà giáo Khổng tử xuất hiện. Tuy làm quan cho vua Lỗ, tham mưu cho một ông vua, Khổng tử lại không được nhà vua tin cậy nên ông thấy cần phải biên soạn bài giảng mở lớp dạy học, phổ biến tư tưởng cho mọi người. Ông lại chọn một số môn đệ cùng đi qua nhiều nước chư hầu khác thuyết giảng. Nói chung tư tưởng của ông chỉ được các vua hầu khen chứ không sử dụng…Khổng tử nêu gương các minh chúa tiền nhân từ giai đoạn đầu nhà Chu trở về trước (đến các vua truyền thuyết Nghiêu -Thuấn- Vũ) làm điểm xuất phát cho học thuyết. Hạt nhân của Khổng học là chữ “Lễ”, từ đó học thuyết được phát triển khá phong phú, toàn diện. 

Trước khi soạn bài giảng, ông sưu tầm tài liệu và biên soạn thành sách. Do khiêm tốn ông đều nói rằng “cổ nhân dạy”, thực ra đó là tư duy của chính ông, chiêm nghiệm của chính mình về thời cuộc. Điều đặc biệt là cách hành xử của ông trong cuộc sống thường nhật, ông giảng bài làm sao thì thực hành đúng như vậy. 

Bộ sách Khổng tử gồm: Ngũ kinh có 5 sách: Kinh Lễ, Kinh Thượng thư, Kinh Xuân thu, Kinh thi và Kinh Dịch. Tứ thư có 4 sách: Đại học, Trung dung, Luận ngữ(bài giảng của ông và có phần học trò phát triển) và Mạnh tử thư là trước tác của Mạnh tử (385–303 tr.CN, Mạnh tử ra đời sau Khổng tử gần một trăm năm) tập trung vào đối tượng vua chúa để khuyên răn, được coi là phát triển sâu sắc tư tưởng của Khổng tử. Do đó đời sau gọi đầy đủ là học thuyết Khổng-Mạnh, nhưng nếu gọi vắn tắt là “Khổng học” cũng không sai mấy và được chấp nhận.. . Đến thời nhà Hán (203 tr.CN– 220) sau khi thống nhất giang sơn, họ Lưu chủ yếu đã xoá bỏ hai cấp “bá vương” và “chư hầu” để xây dựng chế độ phong kiến quân chủ tập trung (quy trọn vào chữ “đế”), họ bắt đầu vận dụng học thuyết Khổng tử làm nền tảng giáo dục, từ đó kéo dài suốt gần hai ngàn năm, tạm tính đến 1911. 

Sách Khổng tử ngày nay chỉ thấy có ba cuốn còn ít nhiều giá trị là Luận ngữ, Kinh thivà Kinh Dịch. Người Việt đã từng biên dịch phát hành nhiều lần, nhà nho Viêt Nam có đủ khả năng truyền bá những gì cần thiết về Khổng học cho hậu sinh. 

Ngày nay, các nước mở tung cửa tri thức cho con người lựa chọn. Chúng ta có cần phải lo lắng một cái Viện nhỏ đặt trong một cái trường đại học không thuộc hàng đầu ở Hà Nội không ? Người ta chỉ ngạc nhiên vì sao phải cần hai Thủ tướng mới ký kết được một cái văn bản nho nhỏ ấy đặt trong “Tuyên bố chung” ? Thay vì chỉ cần hai Bộ giáo dục hay Bộ văn hoá, thậm chỉ hai trường đại học ký kết với nhau cũng được. Còn một điều lạ nữa: viện Khổng tử không dám tự nhiên tồn tại độc lập ngoài mặt tiền, mà chịu nép mình vào trong khuôn viên một trường đại học cỡ trung bình ở Hà Nội (Đại học Hà Nội nguyên là trường Cao đẳng SP Hà Nội mới nâng cấp). Có lẽ họ còn e dè, nghe ngóng tình hình và thái độ phản ứng mặn hay nhạt của dân Hà Nội, dân Việt Nam chăng? 

Khổng học đã lặn sâu vào nền văn hoá Việt với nhiều mức độ, trên nhiều lớp người khác nhau. Nhiều lần tôi ngẫu nhiên tiếp xúc mấy cụ già không biết chữ, nói chuyện đời, các cụ bật ra những câu văn Khổng tử khiến tôi giật mình. Sau đoán rằng các cụ “học Luận ngữ” qua một số tích chèo, tuồng đồ và cải lương hay qua chuyện trò khi nhâm nhi rượu trà với các cụ đồ nho làng… 

Bàn về vai trò của một học thuyết trong lịch sử. 

Sáng lập và chủ trương một học thuyết là nhu cầu khát vọng của nhà trí thức. Khi họ viết ra, hầu như chỉ muốn giãi bày với thiên hạ, họ không hình dung được về sau thiên hạ sẽ sử dụng ra sao. Việc sử dụng học thuyết trong một chế độ cai trị bạo ngược vô pháp vô thiên lại là việc khác. Một chế độ độc tài toàn trị trong lịch sử loài người từ thời xưa đến nay vẫn ưa dùng một học thuyết (nào đó) để làm bình phong, làm ngọn cờ.. Thành ngữ thời phong kiến nói “Ngoại nho nội pháp” (ngoài miệng nói nho giáo trọng chữ Nhân, thực tế coi trọng dùng Pháp gia tức hình phạ. Bao nhiêu chế độ độc tài đều dùng hai lực lượng tay trái- tay phải này: Ban tuyên truyền mị dân rao giảng học thuyết (có biên tập, cắt xén) và “Công cụ vũ lực đàn áp khủng bố” mỗi khi mị dân bất thành (mị: làm cho si mê vì nịnh khéo, làm cho ngủ say). 

Tô đã từng đọc thấy một số bài báo của một số ít người, thậm chí của một số học giả nho học có tiếng ở Việt Nam, phê phán Nho học rất nặng nề. Rằng Nho giáo kìm hãm đất nước Trung Quốc và Việt Nam vào vòng lạc hậu lâu dài, rằng Khổng học trở thành công cụ cho giai cấp phong kiến thống trị đè nén áp bức nhân dân. v.v… Tôi nghĩ, nhà thống trị họ muốn làm gì thì làm, quen thói bá đạo bá quyền, họ chỉ cần học thuyết để mị dân thôi. Họ hiểu đúng đắn hay sai lạc học thuyết ấy cũng chẳng sao. Họ vận dụng hay xếp xó cũng không sao. Họ cũng lập ra Viện, Khoa triết học này nọ nghiên cứu học thuyết ông A, ông B hoặc là ghép bừa bãi hai ông thành học thuyết A-B nhưng chẳng thực hành được gì đáng kể nếu chưa nói là đã thực hành sai be bét. Khi thấy học thuyết A-B mất giá thì họ đẻ ra Tư tưởng C, họ ghép lung tung cho có như một bức bình phong nham nhở, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng bi quan than thở rằng “chính trị”ở xứ ta là một “món lẩu thập cẩm” quả không sai. 

Chúng ta biết rằng đến thế kỷ 18, phương Tây mới trỗi dậy, vượt qua mặt phương Đông nhờ các thành tựu khoa học kỹ thuật và tư tưởng cộng hoà, và tất nhiên không thể thiếu vai trò các nhà lập thuyết. Như vậy, trước đó phương Đông chúng ta có cái khoa học xã hội – nhân văn nào hay hơn Khổng học đâu? Lỗi là ở các giai cấp thống trị phương Đông không mở mang giao thương với phương Tây sớm hơn, chứ đâu phải lỗi tại Khổng tử khiến cho chế độ phong kiến TQ trì kéo 2000 năm, Việt Nam non 1000 năm! 

Văn Miếu- Quốc tử giám nghìn năm trầm mặc ở giữa thủ đô Thăng Long- Hà Nội, dân chúng và trí thức chẳng hề phàn nàn (họ chỉ phàn nàn cái bức tượng một ông Tây đứng giơ tay chỉ trỏ ở một vườn hoa gần bờ Hồ Hoàn Kiếm vài chục năm qua mà đặt thơ lục bát giễu nhại chơi). Người Việt Nam, kể cả nhà nước ngày nay vẫn tự hào về Văn Miếu- Quốc tử giám, coi đó như biểu tượng văn hoá nghìn năm của mình, cái cổng vào là Khuê văn các (bên trong cổng chính) được chọn là biểu tượng logo Hà Nội, hễ có khách quốc tế thì thế nào cũng dẫn họ đến đó chiêm ngưỡng. Tôi chưa biết một quan điểm nào phê phán quần thể kiến trúc đó. 

Liên hệ đến Karl Marx, dù ông là kẻ thù của chủ nghĩa tư bản (theo cách nhìn của những người cộng sản), nhưng nước Anh tư bản thâm niên cổ thụ vẫn tôn trọng ông trong công viên nghĩa trang Highgate với mộ phần cả gia đỉnh và tượng đài Marx trang nghiêm ở đó. Có thể, người ta coi ông là nhà phản biện vĩ đại không tự nguyện, vô hình trung giúp chủ nghiã tư bản tự cải thiện mình. Có thể, người ta gạn đục khơi trong, chọn ra được những trước tác triết học của Marx có ích cho tư duy nhân loại. Họ chỉ không cần kỷ niệm cái giải pháp thất bại thảm hại đầy hệ luỵ của ông là “dùng bạo lực chuyên chính vô sản lật đổ chủ nghĩa tư bản” mà thôi. 

Viện Khổng tử, vì thế chỉ là cây cầu truyền bá ngôn ngữ, văn hoá nói chung, đại thể như một “Trung tâm văn hoá Trung Hoa”. Giả sử không có Viện đó thì hiện nay ở nước ta vẫn lai rai nghiên cứu học tập ngôn ngữ và văn hoá TQ (trong đó có Khổng học), tuỳ theo đa dạng nhu cầu của nhân dân và nhà nước… 

Một người bạn đồng nghiệp góp bàn chí lý rằng: Người ta không sợ ông Khổng, hay cái Viện Khổng tử, mà người ta sợ cái kẻ (cả phía TQ lẫn phía VN) đang muốn lợi dụng Khổng giáo cho mục đích riêng họ. Và Khổng giáo cùng Viện Khổng tử bị lên án là vì (vô tình) trở thành công cụ cho những kẻ này. Đạo Khổng có những nội dung bất cập, đồng thời có nhiều điểm hay, nhưng chắc chắn nó chưa đầy đủ. Trong khi người dân VN còn đang rất thiếu hiểu biết về tự do, dân chủ, pháp quyền (những khái niệm xa lạ với Khổng giáo) mà nhà nước không những đã không tạo điều kiện để làm tăng sự hiểu biết của người dân về những vấn đề trên, lại đi lo vun đắp cái tinh thần Khổng giáo, là điều mà truyền thống VN cũng đã thấm nhuần lắm rồi, lại xuất phát từ chủ trương của một anh thực dân (mới nổi lên) là TQ, thì việc ấy chẳng phải cũng đáng lo lắm sao? 

Do đó tôi nghĩ rằng chẳng cần phải lo ngại Viện Khổng tử sắp mở ở Việt Nam nhưng chúng ta vẫn thường xuyên nâng cao cảnh giác. 

Mời đọc tham khảo (trích bài viết của tác giả Huỳnh Văn Út trên Trần Nhương blog): 

“Viện Khổng Tử thuộc Trường Đại học McMaster University Canada bị đóng cửa từ tháng 7/2013 sau năm năm hoạt động. Học viện này bị chỉ trích là được chỉ đạo bởi Tổng Lãnh sự Trung Quốc tại Canada để làm công tác tình báo nhằm chi phối và gây ảnh hưởng tới các quan chức bản xứ. Người Anh cho rằng sự tồn tại của Viện Khổng Tử ở Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn (LSE- London School of Economics and Political Science) là một điều kỳ quặc vì Khổng Tử vốn trọng Nho học và xem khinh buôn bán. Tờ China Daily đưa ra một thống kê cho rằng có 64 Viện Khổng Tử đang hoạt động trong các trường đại học ở Mỹ (Cũng tờ báo này lại mâu thuẩn khi đưa ra một thống kê rằng có 81 Viện Khổng Tử ở Mỹ). Năm 2012 có 51 trong số 600 giảng viên người Trung Quốc làm việc trong các Viện này buộc phải về nước vì vi phạm luật di trú của Mỹ”. 

Thế đấy, Viện Khổng tử sắp mở, hàng ngàn lao động TQ bất hợp pháp đang tồn tại trên đất VN, phim Tàu bá chiếm hầu hết đài truyền hình trung ương và địa phương suốt ngày đêm, cái nào cũng đáng ngại cả. 

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

RFI: VIỆN KHỔNG TỬ HAY LÀ CUỘC XÂM LĂNG VĂN HÓA?




.
Viện Khổng Tử hay cuộc xâm lăng văn hóa Trung Quốc? 

Thanh Phương thực hiện

Trong bản tuyên bố chung Việt Nam- Trung Quốc nhân chuyến viếng thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại Hà Nội giữa tháng 10 vừa qua, hai quốc gia đã thông báo «nhất trí» thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam.  

Thật ra, Viện Khổng tử đã được Trung Quốc thành lập ở rất nhiều nước khác trên thế giới. Việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam đã được chính phủ Hà Nội quyết định từ năm 2009, nhưng thông báo chính thức về việc thành lập viện này đã một lần nữa gây lo ngại cho giới nhân sĩ trí thức Việt Nam về nguy cơ xâm lăng văn hóa của Trung Quốc, trong bối cảnh mà phim ảnh Trung Quốc từ nhiều năm qua tràn ngập các đài truyền hình Việt Nam và văn hóa Trung Qu ốc chi phối ngày càng nhiều đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt là trong kiến trúc đền chùa. 

Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội nêu lên những nguy cơ tiềm ẩn từ Viện Khổng tử sẽ được thành lập ở Việt Nam :

Nghe băng ghi âm cuộc phỏng vấn tại đây:  

RFI: Xin kính chào tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. Thưa ông, những nước như Pháp hay Đức cũng đã có những trung tâm văn hóa ở Việt Nam như Alliance française hay Viện Goethe. Nhưng vì sao việc thành lập Viện Khổng tử của Trung Quốc lại gây lo ngại như vậy?

TS Nguyễn Xuân Diện: Việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam không phải chỉ mới được đặt ra trong chuyến viếng thăm của thủ tướng Lý Khắc Cường, mà từ năm 2009, ông Tập Cận Bình, khi ấy là phó chủ tịch Trung Quốc, khi đi thăm Việt Nam đã thúc giục Việt Nam thành lập Viện Khổng tử để tăng cường hợp tác văn hóa, giáo dục. 

Theo tôi biết, trên thế giới hiện đã có hơn 40 nước có tổng cộng hàng trăm Học viện Khổng tử. Riêng Thái Lan thì đã có 13 Học viện Khổng tử. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có nét tương đồng nhau về mặt văn hóa và gần đây là người ta có nhắc đến tương đồng về chính trị, nhưng đến bây giờ mới xúc tiến mạnh việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam. Theo tôi biết, học viện này sẽ được đặt trong Đại học Hà Nội (Đại học Ngoại ngữ cũ).

Từ khi nhận được tin này, những nhà nghiên cứu, những nhân sĩ, trí thức rất là lo lắng. Lo lắng nhiều hơn là vui mừng. Nhiều nước đã đặt các học viện, các trung tâm văn hóa ở Việt Nam, nhưng những học viện, những trung tâm đó không gây lo ngại nhiều như Học viện Khổng tử này. Lý do là vì trong người dân Việt Nam luôn thường trực một tinh thần phản kháng, một sự tự đề kháng đối với văn hóa Trung Quốc, mặc dù là tư tưởng của Khổng tử, các thiết chế, mô hình Nhà nước theo kiểu Nho giáo của Khổng tử đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ rất lâu rồi.

Chúng tôi rất lo lắng bởi vì Viện Khổng tử này chắc chắn không phải được lập nên để tuyên truyền về giáo lý, tinh thần triết học hay cuộc đời và sự nghiệp của Khổng tử, cũng như về Nho học : Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Tam Tòng Tứ Đức...

RFI: Theo ông biết thì Viện Khổng tử của Trung Qu ốc ở Việt Nam sẽ hoạt động như thế nào?

TS Nguyễn Xuân Diện: Thực chất đây sẽ là một trung tâm văn hóa và ngôn ngữ, nhằm giới thiệu, quảng bá về văn hóa Trung Quốc : thi ca, âm nhạc, ẩm thực, trà đạo..., và sẽ có những giao lưu văn hóa giữa các nghệ sĩ Việt Nam và Trung Quốc. Đằng sau đó luôn là những hoạt động tư vấn về du học, tức là kéo thanh niên Việt Nam đến Trung Quốc du học ngày càng nhiều. Đây cũng sẽ là trung tâm dạy Trung văn, tức là tiếng Hoa.

Đó là những hoạt động bề nổi, còn đằng sau nó chắc chắn sẽ là những hoạt động tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về mặt văn hóa và tư tưởng về một nước Trung Hoa hiện đại. Chính vì vậy nhiều nhà quan sát cho rằng việc thành lập Viện Khổng tử chính một sự thể hiện quyền lực mềm của Trung Quốc, hoặc có người gay gắt hơn thì nói rằng đấy là bước đầu đặt cơ sở cho việc bành trướng văn hóa.

Điều này thật đáng lo ngại, bởi vì sức ép và sự tuyên truyền văn hóa của văn hóa Trung Quốc hiện đại lên Việt Nam hiện nay rất là mạnh mẽ. Nhân dân đã không được những người làm công tác văn hóa dẫn dắt, cho nên, họ có sự sùng bái văn hóa Trung Quốc rất là quá đáng. 

Ví dụ ngôi chùa đạt nhiều kỷ lục ở Việt Nam và Đông Nam Á là chùa Bái Đính ở Ninh Bình. Ngôi chùa ấy chẳng có dáng dấp gì mang bản sắc Việt Nam, mà thực chất là một ngôi chùa Tàu, mà hàng năm lại thu hút hàng triệu du khách. Các phim ảnh Trung Quốc thì chiếu tràn lan trên các kênh truyền hình trung ương và địa phương. Rồi thì việc dựng các tượng sư tử Trung Quốc ở các đình chùa, đền miếu, cũng như ở trụ sở các tổng công ty. Rồi thì hàng hóa, đèn lồng Trung Quốc cũng tràn lan. 

Chính những điều đó khiến người ta lo rằng là với Viện Khổng tử, Trung Quốc coi như đã đặt một bàn chân xâm lăng văn hóa đối với Việt Nam. Chưa bao giờ sức mạnh văn hóa Việt Nam suy yếu nhiều như hiện nay. Khi nào mà chúng ta không chống lại được xâm lăng về văn hóa, thì chúng ta sẽ không còn gì là nền tảng của nước Việt Nam nữa và sẽ bị đồng hóa. Đây sẽ là một điều vô cùng nguy hiểm. Xâm lăng về văn hóa còn nguy hiểm hơn là xâm lăng về quân sự. Cho nên tôi thấy rất lo ngại.

RFI: Nhưng trong sự xâm lăng văn hóa này phải chăng cũng có sự tiếp tay của các lãnh đạo văn hóa, đã cho chiếu quá nhiều phim ảnh Trung Quốc trên truyền hình quốc gia, đến mức giới trẻ Việt Nam bây giờ thuộc sử Tàu hơn là sử Việt ?

TS Nguyễn Xuân Diện: Đúng là bây giờ trẻ con cấp 1, cấp 2, cấp 3 thuộc sử Tàu hơn là sử Việt. Văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng rất nhiều đến ngôn ngữ thường ngày của các em. Sóng truyền hình Trung Quốc tràn lan như vậy. Không những thế các bộ phim của cũng thế. Chúng ta thấy rằng là năm 2010, phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tức là phim Đường tới thành Thăng Long, từ kịch bản, đạo diễn, cho đến diễn viên và vai quần chúng, cũng như bối cảnh, hậu kỳ, trang phục đều là do người Trung Quốc làm.

Bộ phim mang tính phản văn hóa như vậy cho nên các nhà nghiên cứu, các học giả đã yêu cầu không được chiếu bộ phim đó trong đại lễ 1000 năm Thăng Long. Về sau người ta mới phát hiện bộ phim đó không chỉ mang tính phản văn hóa, mà còn phản quốc, vì những nội dung lịch sử đã bị bóp méo và làm sai lạc.

Chúng tôi lo ngại vì giới lãnh đạo văn hóa Việt Nam hiện nay hiễu một cách rất là ấu trĩ và vô cùng hạn chế về văn hóa Trung Quốc. Vì vậy, họ không phát động được trong cán bộ, công chức trên toàn quốc về việc phải có một sự đề kháng như thế nào đối với văn hóa Trung Quốc.

Hậu quả là vào những dịp Tết trong những năm gần đây, có khi cả thành phố, thị trấn thắp toàn đèn lồng Trung Quốc. Hà Nội gần đây đã phải phát động việc dẹp bỏ các tượng đá sư tử ở các đền chùa. Như vậy tức là họ cũng đã thấy được một phần rồi, nhưng những cái mà họ thấy được, nhưng so với những cái mà những người lãnh đạo cần phải có là chưa tương xứng. Chính vì vậy, những người tha thiết với truyền thống, với văn hóa Việt Nam đang rất là lo lắng.

RFI: Thưa tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, để cưỡng lại sự xâm lăng về văn hóa đó, liệu chúng ta có thể phát động một chiến dịch giống như chiến dịch kêu gọi người Việt dùng hàng Việt, để tẩy chay hàng Trung Quốc, cho dù chúng ta vẫn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp của văn hóa Trung Quốc ?

TS Nguyễn Xuân Diện: Cách đây vài năm Bộ Chính trị đã phát động phong trào người Việt dùng hàng Việt. Lúc ấy báo chí cũng làm rùm beng một vài sự hưởng ứng đó. Nhưng bây giờ chuyện ấy đã chìm đi rồi. Người ta cũng không nghĩ đến chuyện giữ gìn những phong trào đó hay phát động một lần nữa.

Nhưng trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ đã ngấm ngầm một phong trào muốn tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, trước hết là hàng thực phẩm và thuốc chữa bệnh, nhưng đó cũng chỉ là những phong trào tự phát, chứ không phải là được phát động sâu rộng, được truyền thông Nhà nước cổ vũ, khuyến khích.

Tôi nghĩ rằng nên khơi dậy một tinh thần dân tộc và một tinh thần bài Hoa đúng mức. Bài Hoa đây không phải là bác bỏ hết những gì có nguồn gốc từ Trung Quốc, một nền văn minh lớn của nhân loại. Nằm cạnh một nền văn minh lớn như thế, Việt Nam cần tiếp thu, thừa hưởng những giá trị văn hóa, những tác phẩm lớn của Trung Quốc mà đã mang tầm mức nhân loại.

Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải giới thiệu trong dân chúng, nhất là cho lớp trẻ, những nét đẹp của văn hóa Việt Nam, những giá trị thẩm mỹ thuần Việt, những tác phẩm văn học, mỹ thuật Việt Nam, những văn hóa chùa, làng...

Muốn đem lại một sự đề kháng đối với sự xâm lăng văn hóa của bên ngoài, thì trước hết cần phải khơi dậy, giáo dục sự hiểu biết cho lớp trẻ về văn hóa của cha ông. Trong mạnh, thì ngoài mới không xâm lăng vào được. Khi người ta yêu quý những nét văn hóa đẹp đó, thì người ta mới dốc sức gìn giữ nó, tạo nên một lớp áo giáp bảo vệ trước sự xâm lăng từ bên ngoài.

Mặc dù Việt Nam đã bị Trung Quốc đô hộ cả ngàn năm, liên miên bị Trung Quốc xâm lược như vậy, mặc dù người Trung Quốc đã truyền chữ Hán vào Việt Nam, thiết lập chế độ cai trị, áp đặt văn hóa lễ nghi, nhưng đã không thể đồng hóa Việt Nam.

Lý do là vì văn hóa Việt Nam trong mấy nghìn năm qua được dựa trên một nền tảng vững bền của văn hóa Việt gốc ở Đông Nam Á, mà điểm son mà văn hóa làng, chống lại được sự xâm lăng về mặt văn hóa, giữ được những giá trị văn hóa và chính những giá trị văn hóa đó trở lại làm nên sức mạnh của dân tộc, đánh thắng được những trận lừng lẫy trong lịch sử.
 

RFI: Xin cám ơn tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện.

-->đọc tiếp...