Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến trúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiến trúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

NHỮNG CÂY CẦU NGÓI - Tạp văn của Thanh Tùng



Những cây cầu ngói...

Thanh Tùng
"Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài", câu ca xưa nói vậy! Vùng Sơn Nam hạ vốn lắm sông nhiều ngòi, ao, đầm nên có lẽ ngày xưa mật độ dựng cầu dày đặc: cầu tre, cầu gỗ, cầu gạch, cầu đá nhưng bề thế nhất, đẹp nhất có lẽ là cầu ngói hay còn gọi là cầu thượng gia hạ kiều, thượng gia hạ trì.
Hiện nay, theo mình biết thì cả nước chỉ còn vài cây cầu dạng này: chùa Cầu (Lai Viễn kiều) ở Hội An do người Nhật dựng, cầu ngói Thanh Toàn (Huế, có lẽ đây là cây cầu rực rỡ nhất vì lợp ngói hoàng và thanh lưu ly), cầu ngói chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định), cầu ngói chợ Thượng (Thượng Nông, Bình Minh, Nam Định) - mấy cầu này khá lớn, còn dáng vẻ cổ kính, còn cầu ngói Phát Diệm thì tuy dài, to hơn nhưng đã được làm mới với dầm bằng, trụ, mố bằng bê tông - cốt thép, còn cầu Nhật Tiên kiều và Nguyệt Tiên kiều chùa Thầy thì chỉ là cầu nhỏ, trong phạm vi chùa, không có tác dụng giao thông nhiều). Mới đến được cầu ngói chợ Lương, cầu ngói Phát Diệm, Nhật Nguyệt tiên kiều.
Làng mình xưa có cây cầu ngói, theo văn bia do Trạng Trình chắp bút thì do hoàng hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ vua Mạc Đăng Dung bỏ tiền và hưng công xây dựng trên con sông khá rộng và sâu, vắt qua đường liên huyện, ở đầu làng. Tương truyền cầu xưa có 11 gian, trụ cầu bằng đá xanh được đẽo tròn (to như trục đá kéo lúa xưa), sàn bằng gỗ lim, hai bên có lan can cho người đi đường ngồi nghỉ chân, mái lợp ngói mũi. Cánh đồng ở đây cũng được gọi là đồng Cầu. Cạnh một đầu cầu là một và miếu nhỏ thờ ông ăn mày mà dân hay gọi là ông Đông Đống. Trước miếu có đôi câu đối: "Tràng giang bảng lảng thiên hạ vị. Ốc rã phì nhiêu địa khả đô" (ghi theo lời kể của một ông giáo trong làng). Dân làng vẫn truyền câu ca: "Phá cầu rồi lại là cầu. Có năm (hay trăm nén bạc) ở đầu cầu kia". Lần tu sửa gần nhất là cụ lang Cường trong làng bỏ tiền ra dựng lại, thu gọn 11 gian xuống còn 9 gian. Cụ lang cũng cho dựng quán đá ở cách đồng dưới, cạnh tỉnh lộ mới, lấy chỗ cho người đi làm đồng, người đi đường nghỉ chân! Quán đá này bị phá năm 1952, nghe nó bị đại bác của Pháp bắn sập!
Theo một số người trong độ tuổi 50 - 60 tuổi thì khi qua cầu hồi ấy họ còn ngồi nghỉ chân, ngắm sông, cánh đồng rất thoáng mát. Một số gia đình ở gần đó, đêm mùa hè còn hay ra đây ngủ. Tới năm 1973 - 1974, cầu bị dột nát, hư hại một phần nhưng không ai sửa chữa, gặp trận bão lớn năm đó khiến đổ nát, dân làng ra phá tan tành, lấy đá trụ cột về làm trục đá kéo lúa. Thế là tan tành cây cầu vài trăm năm.
Hồi nhỏ thấy còn vài trụ đá chơ vơ trên mặt nước, nhưng vài năm gần đây xã cho dân thuê khúc sông cổ làm ao đầm nuôi cá, làm trang trại thì tuyệt tích cây cầu. Hồi mới biết bên Hải Anh còn cầu chợ Lương, có dịp ra Bắc, phải bò tới nơi. Thấy cầu còn dáng dấp cổ kính, được giữ gìn mà buồn cho quê nhà.
"Phá cầu rồi lại làm cầu. Có năm/trăm nén bạc ở đầu cầu kia"...Có lẽ cây cầu đã vĩnh viễn chìm xuống sông, và chìm vào lòng người mất rồi!
Nhưng tại sao cứ vẩn vơ buồn, tiếc nuối trong khi không còn thực sự sống ở đó? Những người sinh sống hiện tại ở đấy họ đâu có thèm đoái hoài? Tại sao những địa phương khác vẫn giữ được di tích lịch sử, vẫn cổ mà họ giàu có hơn, đàng hoàng hơn, trong khi mình đã bằng ai, đang ngổn ngang, rối bời nửa quê nửa tỉnh hoặc nói rộng ra tại sao nước Nhật hiện đại nhất nhì thế giới mà đền chùa, di tích vẫn trang nghiêm thanh tịnh còn mình thì dở dói dở dòi?
Hay bởi vì lòng tiếc nhớ không nguôi những nét đẹp đã thành qui chuẩn được đúc kết, thấm bao mồ hôi xương máu của cha ông hàng trăm năm khi nhìn về những nét mới, cái đã thành hình thì nhôm nhoam, bựa bã hoặc không biết bao giờ mới thành hình bởi còn đang trên đường "tiến lên, ta quyết tiến lên hàng đầu"?!
Cầu ngói hay còn gọi là cầu thượng gia hạ kiều/trì hiện còn mà mình đã tới, ( ảnh chụp từ 2004 - 2008):
 Cầu ngói chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định)


 Cầu ngói chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định)

 Cầu ngói chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định)

 Cầu ngói chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định)

 Cầu ngói chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định)

Cầu ngói Phát Diệm thì tuy dài, to hơn nhưng đã được làm mới với dầm bằng, trụ, 
mố bằng bê tông - cốt thép. Hè 2004

 Cầu ngói chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định)

 phía Đông sang đền Tam Phủ thì có lẽ là Nhật Tiên kiều (chùa Thầy).


-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Thăm những làng Việt cổ: LÀNG SO - XỨ ĐOÀI ĐẸP NHẤT ĐÌNH SO

Làng So xứ Đoài
Nguyễn Xuân Diện

Nghi môn đình So. Ảnh: Internet

Xứ Đoài đẹp nhất đình So 

Dân gian tứ chiếng có câu: Cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài. Dân gian xứ Đoài lại có câu: Đẹp đình So, to đình Cấn (đẹp đình So, to đình Cấn, bẩn đình Ngọc Than, tan hoang đình Phú Mỹ, cũ kỹ đình Yên Nội). Như vậy là vẻ đẹp của đình So đã được dân gian công nhận. Đình So là ngôi đình đẹp vào hạng nhất trong những đình làng của xứ Đoài.

Đình So là đình của làng So (tên chữ của làng là Sơn Lộ), trước gọi là trang Sơn Lộ, nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai. Làng So là nơi dừng chân của vua chúa khi đi thăm Phủ Quốc năm xưa. Nhà chúa có ngự đề bài thơ Nôm ở chùa Nhạc Lâm (chùa So), nay vẫn còn treo, như sau:

Mảng vui Thiên Phúc cảnh thiên thành
Ngoạn thưởng âu đây thức tính tình
Thái thản nhân cơ trông vợi vợi
Đùn đùn đạo ngạn bước thênh thênh
Trời xuân vặc vặc hoa kê cửa
Gió thuỵ hiu hiu nguyệt giãi mành
Trong thuở tỉnh phương buồm thuận tới
Tiệc vầy ngâm ngợi khúc long bình.

Vào làng So, đến đình So mà ngắm nghía thật lâu mới thấy được rằng đình không chỉ đẹp trong kiến trúc mà đẹp cả trong phong cảnh, phong thuỷ, đáng làm một mẫu hình tiêu biểu cho kiến trúc cổ. Đình nằm gối lên núi rùa, trước mặt là đê sông Đáy đã được nắn lại tạo thành một hồ nước hình bán nguyệt như tấm gương khổng lồ in bóng soi cả ngôi đình đồ sộ. Hai bên đình, phía trái là núi Rồng (còn gọi là núi Cả), phía bên phải là núi Phượng, tạo cho đình nằm gọn giữa một cỗ ngai lớn. Hiện chưa biết đình So được khởi dựng từ bao giờ, nhưng theo văn bia Tu sáng Hoa đình bi ký hiện còn dựng tại đình, được khắc vào năm Dương Đức thứ 3 (1674) thì đình này được tu bổ và tôn tạo vào năm Quý Mão (1663). Văn bia cho biết ngày khởi công tu tạo là ngày 27 tháng 7 năm Quý Mão, hơn hai tháng sau công việc hoàn thành. Ngôi đình đã trải qua 4 lần trùng tu nữa vào các năm 1743, 1924, 1928, 1953. Quy mô hiện nay của đình là kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc trên diện tích 1.100m2. Tổng cộng tất cả toà ngang dãy dọc của đình là 55 gian, với 64 cột lớn nhỏ. Riêng nhà Tả văn chỉ dùng để viết văn tế thần. Hành lang của đình được chia cho 28 giáp trong làng, mỗi giáp một gian để làm chỗ hội họp riêng và sửa soạn lễ lạt của các giáp khi ra việc làng. Đình So có tòa nghi môn đẹp, hoành tráng, uy nghi, và có bậc đá 29 cấp dẫn xuống hồ bán nguyệt. Kiến trúc và điêu khắc của tam quan có thể được xem là một mẫu mực về sự cân đối, vừa vững chãi vừa bay bổng thanh thoát. Đình thờ Tam vị Nguyên soái Đại vương, là những vị tướng của Đinh Tiên Hoàng. 



Thần tích chép rằng: Vào mùa xuân năm Canh Thìn (930), có ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả ở hương Vạn Kỳ, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc nhà vốn rất nghèo, làm nghề đánh cá trên sông. Hai ông bà rất thích làm việc thiện, một việc thiện dù nhỏ cũng làm. Một hôm hai ông bà chài lưới trên sông Như Nguyệt, kéo được 15 dật vàng. Từ đấy hai ông bà làm ăn cứ khấm khá mãi lên nên cuộc sống rất khá giả. Hiềm nỗi hai ông bà đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa có con trai. Ông vẫn thường nói: Tiền rừng gạo bể mà không có con thì sống không được vui và bàn với bà đi tìm nơi cầu tự. Hai ông bà nghe nói ở đền Hữu Linh, trang Sơn Lộ là nơi linh ứng cầu gì được nấy, bèn cùng nhau sắm sửa lễ vật đến đó cầu tự. Sớm hôm sau ông bà làm lễ tạ rồi xuống thuyền cùng với hai người vạn chài xuôi dòng sông Hát. Thuyền đang đi, trời bỗng nhiên tối sầm lại như đêm và một trận gió lớn ập đến. Lúc này thuyền chở ông bà đến địa phận trang Sơn Lộ, hai người ngẩng đầu nhìn lên trời thấy có đám mây vàng hướng vào bà mà hạ xuống. Lã thị hoảng sợ, nằm miên man. Sau đó bà có mang. Tháng 2 năm Quý Tỵ (933), bà sinh được 3 người con trai. Ba đứa trẻ lớn lên thành những chàng trai khoẻ mạnh rồi theo Đinh Tiên Hoàng đi dẹp loạn. Quân sĩ kéo từ Hoa Lư thắng trận về đến trang Sơn Lộ thì nghỉ lại và tập hợp trai tráng trong vùng tiếp tục chiến đấu dẹp loạn 12 sứ quân. Đinh Tiên Hoàng lên ngôi bèn sắc phong 3 ông là Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại Vương. Trải qua các triều đại, Tam Thánh đều được sắc phong mỹ tự và cho trang Sơn Lộ đời đời thờ phụng.

Làng So có lá cờ thần rộng tới 24 mét vuông, cứ mỗi khi cờ bay trên nền trời xanh in bóng mặt hồ nước lung linh cùng với tiếng trống sấm vang lên là làng đang có hội. Lễ hội đình So, làng So được diễn ra vào ngày hai dịp mùa xuân và mùa thu. 

Lễ hội mừng ngày Thánh Sinh 

Hội mùa xuân, là lễ hội mừng ngày Thánh sinh  nhằm ngày 8 tháng 2. Ngày này dân làng tổ chức rước bài vị từ Miếu Ông và Miếu Bà, là song thân của các Thánh về đình để chung hưởng sự thành kính của dân làng. Theo ghi chép trong sách cổ thì hội diễn ra trong 3 ngày nhưng không khí chuẩn bị cho ngày lễ này thì rộn dịp trước đó khá lâu.

Trong lễ hội mừng ngày Thánh sinh thì vui nhất, và hồi hộp nhất vẫn là cuộc thi lợn anh. Từ trước đó hàng năm mỗi giáp chọn lấy một con lợn đen tuyền, rồi giao cho một nhà trong giáp nuôi. Nhà ấy cha mẹ song toàn, gái trai đầy đủ, hiếu hạnh. Sau khi chọn được lợn mới ra đình xin chân nhang về để làm lễ trình ở nhà. Kể từ đó, con lợn ấy được gọi là lợn anh. Không ai được gọi là con lợn, mà cũng không ai được đánh mắng nữa. Lợn anh được nuôi dưỡng theo một chế độ đặc biệt, chuồng trại phải sạch sẽ, thức ăn phải thanh sạch. Khi lợn anh lớn một chút người ta đem thiến đi.

Vào ngày mồng 7 tháng 2, lợn anh của 28 giáp trong làng đều được tắm rửa sạch sẽ bằng nước thơm, ăn bằng thức ăn tinh khiết và được đưa vào cũi để rước ra đình. 28 giáp là 28 cái cũi, trên mỗi cũi đều được cuốn một tràng hoa  bưởi, đủng đỉnh để tiến ra sân đình. Các cũi lợn được xếp thành hai hàng dọc theo sân đình, trước sự chứng kiến của Thánh và hội đồng lý dịch cùng đông đảo dân làng. Làng chọn ra những lợn anh to nhất để cân xem anh nào to nhất, nặng nhất để trao giải thưởng. Lợn anh của giáp nào được giải thì không chỉ người nuôi được vui mừng và hãnh diện mà cả giáp ấy đều thấy phấn chấn tự hào. Giải thưởng gồm hai bậc: giải dân và giải giáp. Giải dân do làng thưởng, còn gọi là giải đất, vì người nuôi sẽ được cấp 3 sào đất ở cánh bãi để canh tác và lấy hoa lợi mà không phải nộp thuế má gì. Đất ấy người này sẽ được giữ cho đến khi nào có ai đó nuôi được lợn anh có số cân nặng hơn lợn anh được giải, dù chỉ một vài cân. Giải giáp thì do giáp thưởng, và khi giáp mổ con lợn ấy thì nhà chủ nuôi sẽ được biếu một cái tràng hoa (tức là cái khoanh cổ lợn). Các cụ bảo vào một năm, cũng gần đây thôi, giáp nọ có lợn anh nhỏ hơn giáp kia, đáng ra là không được giải, nhưng dùng thế lực áp đảo để lấy giải nhất. Khi khiêng lợn về đến nhà thì lợn xổng ra khỏi cũi rồi lại đi ra đình.

Ngày này, sau bữa trưa tại các giáp, là đến cuộc hát thờ ở đình. Thường làng đón các giáo phường ở Phủ Quốc về hát hầu Thánh. Các ả đào đứng trước điện, tay cầm lá phách hát các bài hát thờ như Thét nhạc, Bắc phản, hát Giai, Độc phú… trong tiếng hoà âm của các nhạc khí. Giáo phường được mời đến hát nhất định sẽ hỏi cho bằng được tên huý của các Thánh thờ trong đình để khi hát đến những chữ ấy thì tránh đi. Hát cửa đình So có các chữ không được nói tới là Hiển, Lã, Hiện, Suý, Lang. Hiển là tên huý của ông cụ thân sinh ra các Thánh; còn Lã là tên họ của cụ bà Lã thị. Hiện là tên huý của ba anh em nhà Thánh; Suý và Lang là tước phong của Thánh. Các cô đầu hát đến những câu có chữ ấy thì hát thật nhỏ, và tránh đi; ví như chữ Hiển thì đọc là Hởn, chữ Lã thì đọc là Lữ. Nếu cô đầu không nhớ ra, cứ thế hát thẳng không kiêng thì người cầm chầu sẽ gõ liên hồi vào tang trống và cho ngừng cuộc hát. Bấy giờ người quản ca của giáo phường phải đến nói khó với các cụ trong làng để xin cho làm lễ tạ với thánh và xin các cụ chiếu cố cho. Khi ấy, người đào nương sẽ biện cơi trầu, đến trước điện làm lễ tạ lỗi với Thánh và các quan viên. Cô đầu sẽ hát từ chiều đến tối, có khi đến tận canh khuya, trước là để hầu thánh, sau là để giúp vui cho quan viên.

Theo nghi thức về việc mở lễ hội được ghi trong bản thần tích do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, thì hội  mở trong 3 ngày mới thôi. Ngoài hát xướng còn có các trò chơi đánh cờ, đấu vật. Ngày lễ mừng thánh sinh, các cô gái làng đi lấy chồng xa về làng rất đông vui và đua nhau làm lễ và cung tiến rất nhiều vào đình. 

Lễ mừng thắng trận, khao quân 

Về mùa thu, lễ hội đình So nhằm ngày 10 tháng 7. Đây là lễ hội kỷ niệm Thánh giải vây, thắng trận, tế cáo thiên địa và khao thưởng quân sĩ. Lễ mừng khao quân là một lễ vui vẻ trong dân. Ngày này, sẽ dâng tế vật là một con trâu. Làng có 28 giáp, mỗi năm, có một giáp phải lo việc sắm sửa lễ vật. Như vậy, nếu năm nay giáp này chuẩn bị tế vật thì phải 28 năm sau nữa thì mới lại đến lượt sắm lễ. Con trâu phải được thui khéo, da vàng xộm, quỳ trên cái giá gỗ, mõm hếch lên, còn sừng thì lấy giấy đỏ cuốn vào. Nội tạng của con trâu đã được lấy ra, làm sạch, nên con trâu tế được dân làng gọi là trâu trong. Cảnh tượng hiến tế trâu trong thật long trọng tôn nghiêm. Sau khi tế xong, đồng dân cùng hưởng lộc, rồi chiều và tối thì tập trung nghe hát ở đình hoặc các miếu quán trong làng. Đào kép cũng có khi vừa hát xong ở miếu này lại xách đàn sang miếu khác.

Những người già trong làng vẫn còn nhớ dịp “đóng đám năm Bảo Đại tam niên”. Ấy là năm 1928. Năm ấy vì đình làng sửa đình nên rước bài vị gửi ở nơi khác, khi công việc hoàn thành thì làm lễ hoàn cung. Bấy giờ làng có mua đèn lồng về mắc lên mái đình, đao đình, và trên các con rồng con nghê trên mái đình, để đêm đến sáng lung linh rất đẹp. Hội làng được tổ chức rất to, phần lễ thì trang nghiêm hoành tráng, phần hội thì vui vẻ, linh đình. Về trò chơi có trò bắt chạch trong chum, bắt dê. Làng còn cho mời đội cồng chiêng Mường ở Lương Sơn về để hoà âm trong lễ tế ở đình.Làng đóng đám 7 ngày 7 đêm, mà đêm nào cũng có hát ả đào, mới từ ấp Thái Hà ngoài tỉnh về. Hội kéo dài trong 3 ngày. 

Lễ chay kỷ niệm ngày Thánh hoá 

Ngày thánh hoá là ngày 10 tháng Chạp. Ngày nay là lễ cúng chay. Công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được tiến hành từ trước đó cả tháng trời. Những người chuẩn bị cho lễ chay bao giờ cũng là đám con trai khoảng 18, 19 tuổi. Họ phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới đến tập trung ở nhà ai đó để chọn gạo làm bánh. Gạo được chọn thật kỹ càng từng hạt, không có hạt gãy, hạt chẩm. Bấy giờ mới đồi xôi, rồi cho vào cối giã như giã bánh dầy. Nhân của bánh bằng đỗ xanh rang kỹ, nghiền nhỏ, trộn với nước mật. Hương liệu là thảo quả thơm ngát. Nhân này được bao bọc bằng xôi giã. Cuối cùng là lấy lá chuối bọc bên ngoài. Lễ vật dâng trong ngày Thánh hoá bao giờ cũng là lễ chay, được làm từ nguyên liệu thanh khiết và với tấm lòng thành kính nhất. Được biết bánh cuốn dâng Thánh có thể để được trong thời gian rất lâu, và người dân làng cho rằng đó chính là thứ lương thực của quân sĩ của thánh năm xưa.

Vào ngày này, dân không tổ chức hội mà chỉ có lễ chay. Không có tổ chức rước xách và các trò chơi dân gian, cũng không có hát thờ. Tất cả các công việc chuẩn bị cho lễ cúng chay được thực hiện trong niềm thành kính nhất để tưởng niệm đến công lao và ân đức của Thánh. 

Lễ hội đình So ngày một đơn giản đi so với trước kia. Vẫn có bánh chay dâng Thánh, nhưng không có trâu trong nữa, và tục nuôi lợn anh thì chỉ còn trong câu chuyện của những người già. Hát thờ ở cửa đình cũng không còn nữa. Người dân vẫn bày tỏ lòng thành kính lên Tam vị Nguyên soái Đại vương bằng các nghi thức tế lễ, nhưng phần vui hội thì gần như vắng bóng.

Và hằng năm, mỗi khi tiếng trống sấm vang dội và lá cờ đại rộng tới 24 mét vuông được kéo lên, bay giữa trời và lồng trong bóng nước hồ bán nguyệt, là khi làng mở hội, thì trong lòng người già làng So, những ký ức xa xăm về  hội xưa lại vọng về, nao nao nhớ đến dịp đóng đám năm 1928, nhớ đến cái ngày làng thi lợn anh và rước trâu trong ra đình, thật oai hùng và trang trọng.

Nguyễn Xuân Diện               

-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

MỘT KIẾN GIẢI VỀ NGUỒN GỐC NGÔI ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM


Một kiến giải về nguồn gốc ngôi đình làng Việt Nam
Trần Thị Kim Anh
Vấn đề nguồn gốc và thời điểm xuất hiện ngôi đình làng từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa để tâm tìm hiểu. Mở đầu là nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên, trong một công trình nghiên cứu công phu về thành hoàng Lý Phục Man vào năm 1938, ông đưa ra giả thuyết: Đình vốn là hành cung của vua rồi sau mới thành đình làng.
Vào năm 1998, trong tập sách ảnh Đình Việt Nam của Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự, ở mục Nguồn gốc, các tác giả cho rằng “có chứng cứ về ngôi đình từ thời Lê Sơ”, và qua một số chứng lý cùng việc so sánh ngôi đình với ngôi nhà rông, họ đi đến kết luận: “Mặc dù còn thiếu chứng cứ, ta tin rằng Đình – ngôi nhà chung của làng xã đã xuất hiện từ lâu đời, nếu không phải là thời tiền sử thì cũng là thời sơ sử của dân tộc. Tất nhiên là ở thời đó chưa được gọi là Đình - một từ vay mượn của Trung Hoa”. Ngoài ra các tác giả còn khẳng định, đình làng có hai chức năng: thờ thành hoàng làng (tôn giáo) và hội họp, giải quyết các công việc của làng xã (hành chính), tuy nhiên không phải ngay khi mới xuất hiện ngôi đình đã hội đủ cả hai chức năng đó cùng một lúc.
Gần đây nhất là nghiên cứu của Đinh Khắc Thuân (ĐKT). Trong sách Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia (2001) , ở mục Nguồn gốc ngôi đình, qua phân tích một số chứng lý, ông đi đến kết luận: Đình làng xuất hiện sớm nhất là vào thời Lê sơ thế kỷ XV, khi làng xã đã phát triển và định hình là một đơn vị hành chính độc lập, để đáp ứng nhu cầu thờ cúng thần linh và hội hè đình đám của làng xã.
Cho đến nay, cách lý giải của ĐKT được coi là có tính thuyết phục hơn cả. Tuy nhiên, trong khi thời điểm ra đời của ngôi đình làng là vào thời Lê sơ nhận được sự đồng thuận ý kiến của hầu hết giới nghiên cứu thì vấn đề nguồn gốc ngôi đình làng vẫn còn nhiều ý kiến băn khoăn. Để góp phần tiếp tục tìm hiểu nguồn gốc của ngôi đình làng, trong bài viết này chúng tôi xin được đưa thêm một kiến giải khác.
Ngôi đình làng như chúng ta đã biết, là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của làng xã trong thời trung cận đại. Đây là nơi thờ Thành hoàng làng để cầu mong được chở che, ngăn tai giáng phúc, là nơi diễn ra lễ hội Nhập tịch Tàng câu của làng, nơi kỳ lão chức sắc hội họp bàn bạc và giải quyết việc làng, nơi tất cả đinh nam trong làng cùng thực hiện lễ Hương ẩm tửu mỗi khi có việc tế tự cầu cúng. Nơi tiếp đón quan lại triều đình khi có việc công hoặc khách khứa của làng… Điều này cho thấy ngôi đình làng là một địa điểm công cộng quan trọng không thể thiếu của cộng đồng làng xã xưa kia. Tuy nhiên nó lại đặt ra một câu hỏi: nếu đình làng chỉ mới xuất hiện vào cuối thế kỷ XV thì trước đó trong các ngôi làng Việt, đã có những hoạt động như vậy hay chưa, và nếu có thì người ta thực hiện tất các công việc đó ở đâu?
Địa điểm và một số hoạt động cộng đồng làng xã trước khi ngôi đình xuất hiện.
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu chứng minh trước khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, các tín ngưỡng dân gian ngự trị trong đời sống tinh thần người Việt. Cũng như nhiều dân tộc bộ lạc khác trên thế giới, để chấn an mình trước những hiện tượng tự nhiên không thể lý giải, để được che chở, để có cuộc sống bình yên, người Việt cổ từ lâu đời đã thờ cúng các vị Nhiên thần như các thần núi sông, cây đá, đặc biệt, do là vùng đất nhiều sông nước, người dân sống bám dọc theo các triền sông nên thủy thần là vị thần được thờ phụng khắp nơi . Việc thờ cúng ban đầu diễn ra ngoài trời, ngay tại gốc cây, bờ nước, về sau khuynh hướng nhân hóa thần linh phát triển, người chết có những biểu hiện thiêng bắt đầu được thờ cúng, nhiều vị đã trở thành phúc thần bảo hộ cho cộng đồng, người ta đã dựng lên những ngôi miếu ngôi đền nhỏ để thờ. Dần dần những nơi này trở thành địa điểm sinh hoạt cộng đồng, không chỉ cầu cúng xin được chở che, đừng gây tai giáng họa mà các hoạt động khác trong cộng đồng như xử lý các vi phạm luật lệ của cộng đồng, ăn thề, xử các vụ tranh chấp nhỏ … cũng diễn ra tại đây trước sự chứng kiến của thần linh và dân làng.
Sau khi Phật giáo du nhập và phát triển, các ngôi chùa cũng là nơi diễn ra một số hoạt động cộng đồng. Kể cả thời kỳ đầu, khi ngôi chùa làng chưa phổ biến như từ thời Trung hưng về sau, thì tại những địa phương có chùa, sân chùa cũng là một địa điểm dành cho hoạt động cộng đồng, nhưng chủ yếu là lễ hội vui chơi hát xướng vào các dịp lễ tiết. Cho đến nay ở những ngôi chùa cổ vùng Kinh Bắc vẫn còn dấu vết về các hoạt động này như chùa Dâu, chùa Nành...
Vào đầu công nguyên, khi bị nhà Hán xâm lược, văn hóa Hán dần xâm nhập vào nước ta, tín ngưỡng thờ Xã thần du nhập theo chân các cư dân Hán. Các đàn thờ xã thần (xã đàn) được lập lên tại các làng xóm. Xã ban đầu chỉ là một cái nền đất đắp cao, xung quanh trồng một số loài cây làm biểu tượng cho sự no đủ . Hàng năm vào các tháng trọng xuân và trọng thu, người ta tổ chức cúng tế tại đây để báo đáp công sinh dưỡng vạn vật của đất đai. Về sau tín ngưỡng xã thần diễn biến dần, chuyển hóa thành tín ngưỡng thờ thần đất (thần thổ địa) – vị thần có quyền lực chở che coi sóc cho một địa phương, mang nhiều chức năng xã hội hơn. Dần dần miếu thờ Thổ địa được dựng lên thay thế Xã đàn. Cùng với những miếu thờ thần linh bản địa khác, miếu Thổ địa trở thành một trong những địa điểm sinh hoạt cộng đồng của làng. Vào các dịp lễ tết, dân chúng tụ tập đến trước những đền miếu này làm lễ tế thần, ca hát vui chơi. Bài từ của Tôn Quang Hiến người thời Đường với những câu: “Mộc miên hoa ánh tùng từ tiểu / Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu / Đồng cổ dữ Man ca / Nam nhân kỳ trại đa“ [Hoa gạo ánh lên bên ngôi đền nhỏ/ Chim Việt líu lo trong nắng xuân / Tiếng trống đồng hòa cùng bài hát Man / Người Nam cầu cúng nhiều] có thể là minh chứng cho các hoạt động cộng đồng và địa điểm diễn ra các hoạt động này của người Việt thời xa xưa.
Cùng với tín ngưỡng thờ thổ địa, vào thời Bắc thuộc, một số nghi lễ phương Bắc cũng được du nhập vào nước ta . Như đã nói trên, đình làng sau này là nơi diễn ra lễ Nhập tịch Tàng câu – một lễ hội thường niên quan trọng của hầu hết các làng xã Bắc bộ và Bắc trung bộ cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên trước thế kỷ XV hầu như chưa tìm được tài liệu nào ghi nhận về lễ này ngoài một chiếu chỉ ban lệnh bãi trò chơi Tàng câu và cỗ bàn khao mừng vào mùa xuân tháng Giêng năm Đinh Dậu niên hiệu Hội Tường Đại Khánh năm thứ 8 (1117 - thời Lý) . Nội dung chiếu chỉ này cho thấy lễ Nhập tịch Tàng câu đương thời được tổ chức như một trò chơi và cùng với nó là cỗ bàn khao mừng đầu xuân. 
Lễ Nhập tịch Tàng câu theo chúng tôi, nguyên là nghi thức triều đình vua tôi cùng vui uống rượu đầu xuân có từ thời Hán, về sau du nhập vào nước ta và dần được chuyển hóa vào nghi thức hội làng cùng uống rượu. Tuy nhiên, Sách khảo giáo phường thức lại giải thích về lễ này đại để như sau: Đời đời truyền kể rằng, khi Pháp môn tề tập hội họp tụng kinh Phật, bị rất nhiều quỷ thần quấy rối, không thể lập đàn tụng kinh được, do đó mới xin đức Phật lập Địa tạng đàn, nhập tịch tàng câu, cùng quỷ thần vui chơi mới tụng kinh được. Từ đó về sau tự cổ chí kim, dùng lễ này để cầu phúc cầu thần cho được dài quốc mạch, xin thần bảo hộ làng xóm đất nước nhân dân … Như vậy phải chăng lễ hội này còn có thể có nguồn gốc từ Phật giáo? (Đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu sâu sắc đầy đủ về các diễn biến của lễ hội này). Theo đó có thể thấy lễ này đã tồn tại trước khi có sự xuất hiện của ngôi đình làng, và hẳn là khi chưa có ngôi đình, nó đã được thực hiện tại sân miếu hoặc sân chùa. 
Đầu thế kỷ XV, tục thờ Thành hoàng làng cũng bắt đầu phát triển. Trên thực tế, tín ngưỡng Thành hoàng đã được truyền đến nước ta vào thời Đường - Tống, tuy nhiên cho đến thế kỷ XIV, vẫn chỉ có Đô thành hoàng, chưa có Thành hoàng làng. Để tín ngưỡng Thành hoàng trở thành tục thờ Thành hoàng làng đậm màu sắc Việt thì phải tính từ thế kỷ XV sau khi nhà Minh chiếm được nước ta. Với mưu đồ nhanh chóng đồng hóa Đại Việt, nhà Minh đưa vào nhiều chế độ chính sách về văn hóa nhằm cải đổi tập tục của người Việt. Một số chính sách về thờ cúng tế tự được ban hành, trong đó mệnh lệnh lập thêm Thành hoàng ở các phủ châu huyện được thực thi, kể từ đó tín ngưỡng Thành hoàng phát triển mạnh ở nước ta và đây chính là thời kỳ Thổ địa và Phúc thần địa phương được nâng cấp thành Thành hoàng làng. Như vậy vào đầu thế kỷ XV, tín ngưỡng Thành hoàng của Trung Quốc bắt đầu được diễn biến thành tục thờ Thành hoàng làng ở Việt Nam.
Vậy là cho đến trước khi có dấu vết tồn tại của ngôi đình (cuối thế kỷ XV), lễ Nhập tịch Tàng câu, tục thờ thành hoàng và các sinh hoạt cộng đồng khác của người Việt như xử lý việc làng, bao gồm xử các tranh chấp kiện cáo nhỏ trong làng, các hành vi vi phạm lệ làng, giải quyết các vấn đề về thuế má quan dịch, và đương nhiên cả việc tập họp dân làng để nghe các lệnh lệ của triều đình… đều đã tồn tại và được thực hiện từ lâu đời tại các địa điểm công cộng của làng như các đền miếu thờ thần linh thổ địa và sân chùa, trên thực tế, nhu cầu về một địa điểm dành cho tất cả các hoạt động này không đến mức buộc phải có. Vậy điều gì thúc đẩy sự xuất hiện của ngôi đình làng?
Mô hình Thân minh đình thời thuộc Minh và Lê sơ
Vào cuối thế kỷ XV, qua ghi nhận trong bài Đại nghĩ Bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao ta được biết, lễ Nhập tịch Tàng câu vào giai đoạn này đã là một lễ hội thường niên ở đình làng:
Xuân nhật tảo khai gia cát hội
Hạ đình thông xướng Thái bình âm
Tàng câu mở tiệc năm năm
Miếu chu đối việt chăm chăm tấc thành.
Và theo nội dung bài ca cho biết, ở lễ hội này, người ta tế thần, chúc tụng, vui chơi, hát xướng, yến hưởng… Tóm lại là hầu hết các hoạt động vốn có trong cộng đồng thường được thực hiện ở đền miếu trước khi có sự xuất hiện của ngôi đình thì nay, vào cuối thế kỷ XV đã được diễn ra tại đình làng. Điều đó có nghĩa là trước thời Lê chưa thấy sự xuất hiện của ngôi đình, nhưng chỉ sau dăm chục năm, ngôi đình đã hiện diện tại hầu khắp các làng xã và mang trong nó rất nhiều chức năng xã hội quan trọng. Điều này cho phép suy luận, có thể đình làng được diễn biến từ một hiện tượng văn hóa hoặc được ra đời theo một mệnh lệnh nào đó ở thời kỳ này?
Trong quá trình nghiên cứu và dịch thuật các văn bản điển chế và pháp luật thời trung đại, chúng tôi lưu ý đến một sự kiện lịch sử của Trung Quốc, đó là vào niên hiệu Hồng Vũ (1368 – 1398), nhà Minh đã ban lệnh xây dựng Thân minh đình tại khắp các châu huyện trên toàn quốc. Thân minh đình - như tên gọi của nó - là một ngôi đình nhỏ được dựng lên tại các thôn làng để mỗi khi có lệnh lệ của nhà nước ban xuống, chức dịch phải tập trung dân làng tại đó để bố cáo giải thích tường tận (thân minh) cho họ về các lệnh lệ đó. Cùng với Thân minh đình, lễ Hương ẩm tửu với quy tắc “Quý tiện minh, long sái biện” [Sang hèn phân biệt, lớn bé rõ ràng] cũng được đưa vào thực hiện. Tại Thân minh đình, khi đến nghe giảng luật lệnh và thực hiện lễ Hương ẩm tửu, theo quy định, dân làng phải phân biệt chỗ ngồi theo thứ hạng. Các điều đã thân minh mà dân không thực hiện cũng sẽ bị đưa ra Thân minh đình để xử lý, dân có điều gì cảm thấy chưa thỏa đáng cũng tới Thân minh đình kêu, Thân minh đình đồng thời cũng là nơi để treo dán các cáo thị của triều đình, bêu tên tuổi những người vi phạm luật lệ, làm các điều trái với đạo lý.
Sau khi bị nhà Minh xâm lược và đặt thành quận huyện lệ thuộc, từ năm 1407, nước ta lại bị áp đặt chế độ cai trị chung theo chế độ cai trị của nhà Minh. Vậy phải chăng, vào thời kỳ này, cùng với sách vở trường học, nhà Minh cũng đã cho thực hiện việc dựng các Thân minh đình tại các thôn làng ở nước ta như ở các quận huyện khác của Trung quốc để ban bố và giải thích các giáo điều đặng cải hóa dân tục nhằm mục đích đồng hóa. Trên thực tế, hình thức Thân minh đình có thực sự được thực thi ở nước ta hay không thì hiện chưa tìm thấy tài liệu nào ghi lại cụ thể. Tuy nhiên, dấu vết của đình Thân minh còn được chứng minh gián tiếp qua hàng loạt các lệnh lệ trong luật pháp điển chế thời Lê được gọi là Thân minh lệnh. Đồng thời hình thức tập trung dân để giảng giải về các điều giáo hóa cũng được lưu lại qua các điều luật ở thời kỳ này. Chẳng hạn niên hiệu Cảnh Trị thứ nhất (1663) ban hành 47 điều giáo hóa bắt phải giảng rõ cho dân, lệnh ban như sau: “Các điều răn dạy trên đây các quan hai ty Thừa - Hiến phải bắt các quan châu phủ huyện chuyển tống đến các phường xã thôn trưởng để vào ngày Kỳ phúc Xã nhật đầu năm, bắt trai gái lớn nhỏ đến tập trung giảng đi giảng lại, dẫn dụ rõ ràng để các hạng ngu phu ngu phụ, con trẻ đều thấu hiểu rõ ràng.”.
Đặc biệt sự hiện diện của Thân minh đình còn được chứng minh bởi một tư liệu khác, đó là điều luật về tội Phá hủy Thân minh đình được đưa vào Bộ luật Gia Long ban hành ở thời Nguyễn đầu thế kỷ XIX trong mục Tạp phạm chương Hình luật. Nội dung điều luật này như sau:
Phàm kẻ nào phá hủy nhà cửa của đình Thân minh và phá hỏng bảng gỗ trong đình thì bị phạt đánh 100 trượng lưu đầy 3000 dặm (vẫn bắt tu sửa lại).
Giải thích:
Các làng trong châu huyện đều dựng Thân minh đình, dân có kẻ nào bất hiếu trộm cắp gian dâm thì đều ghi rõ họ tên tội trạng của kẻ làm điều xấu đó lên bảng gỗ để tỏ rõ sự trừng phạt răn dậy khiến kẻ đó cảm thấy xấu hổ nhục nhã, nếu biết hối cải sửa lỗi thì sẽ xóa bỏ đi. Các việc nhỏ như hôn nhân, điền thổ, cho lão làng khuyên bảo, giải hòa tranh chấp tại đây, đấy là quy chế làm rõ việc răn dậy vậy. Nếu kẻ nào dám phá hủy tức là loạn dân không tuân theo giáo hóa vậy, cho nên giữ nghiêm phép nước phạt đánh 100 trượng, lưu đầy 3000 dặm, và bắt đưa đi thật xa.
Điều lệ:
Phàm sắc dụ giáo hóa dân của triều đình, các doanh trấn phải đốc thúc thuộc viên viết rõ hoặc khắc lên bảng gỗ kính cẩn treo ở đình Thân minh để dậy bảo dân chúng.
Điều luật này đã cho thấy đầu thời Nguyễn có tồn tại Thân minh đình. Tuy nhiên theo chúng tôi, điều luật này chỉ áp dụng với những nơi có Thân minh đình, tức là những vùng đất mới ở phía Nam, bởi ở phía Bắc, từ thế kỷ XVII ngôi đình đã tồn tại vững chắc tại các làng xã với đầy đủ chức năng xã hội được quy định với Thân minh đình. Có thể trong quá trình Nam tiến, ngay từ thế kỷ XVI, ở những làng xóm thuộc vùng đất mới khai mở, các chúa Nguyễn đã đưa hình thức Thân minh đình vốn có ở phía Bắc vào các làng xã mới lập ở phía Nam để giáo hóa dân, và cho đến đầu thế kỷ XIX, ở phía Nam, tại một số nơi, khi ngôi đình bền vững theo kiểu phía Bắc còn chưa đủ điều kiện để hình thành, chính quyền vẫn cho sử dụng hình thức này trong mục đích giáo hóa. Ngoài ra điều luật này cũng cho biết rất rõ chức năng của Thân minh đình bao gồm: bêu danh kẻ xấu nhằm mục đích răn đe, xử lý các tranh chấp nhỏ trong làng, ban bố các sắc dụ của triều đình.
Sự có mặt của ngôi Thân minh đình ở thời Nguyễn đã gián tiếp cho chúng ta biết đến sự hiện diện của ngôi Thân minh đình ở thời Lê. Như vậy giả thiết đưa hình thức Thân minh đình vào nước ta để giáo hóa dân của nhà Minh là hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Cùng với Thân minh đình, lễ Hương ẩm tửu cũng được nhà Minh đưa vào làm công cụ quản lý hành chính và giáo hóa nhân dân. Theo quy định, lễ này được cử hành vào lễ tế Xã (lễ Kỳ Phúc) vào mùa xuân và mùa thu, phải có nghi thức đọc luật lệnh. Đọc luật lệnh xong lại tuyên đọc các văn thư hữu quan khác và các lời giáo huấn của bộ Hình biên phát. Dân làng đến tiệc phải chia làm ba hạng. Phàm những người tuổi cao có đức không phạm lỗi công tư gì là bậc thượng. Những người mắc lỗi chậm trễ trong việc sưu sai thuế má hoặc phạm các tội roi trượng, từng bị gọi lên quan là một bậc. Những người từng phạm tội gian dâm trộm cắp, dối trá, lừa đảo, sâu dân mọt nước, bày kế hãm hại quan trưởng, từng có trọng tội bị phạt trượng đồ lưu, là một bậc. Con em của ba hạng đó cũng tự phân biệt thành ba bậc theo thứ tự mà ngồi, không được lẫn lộn, nếu không ngồi đúng thứ bậc sẽ xử tội Vi chế .
Thời Lê sơ, để xây dựng một nhà nước hướng Nho, các điển lễ của Nho gia được luật hóa để đưa vào đời sống xã hội. Trong quá trình các điển lễ thâm nhập vào đời sống, khi vấp phải các yếu tố bản địa đã nảy sinh không ít phiền phức, nhất là với những nghi lễ mang tính xã hội rộng rãi như hôn lễ, tang lễ. Vả lại những điều luật đó lại được chuyển tải thông qua các văn bản chữ Hán, do đó để dân chúng hiểu được những lý lẽ phức tạp trong các văn bản đó không thể không cho quan lại địa phương giảng giải cặn kẽ cho dân. Vì vậy sau khi nhà Lê nắm quyền, để tiện cho việc quản lý và giáo hóa của nhà nước, mô hình Thân minh đình với lễ Hương ẩm tửu vẫn được tiếp tục duy trì.
Vậy là ngoài một số địa điểm sinh hoạt cộng đồng như miếu đền thờ thần linh Thành hoàng thổ địa vốn đã tồn tại trong các cộng đồng dân cư, cho đến thời Lê sơ, với những chức năng xã hội quan trọng như đã nói trên, Thân minh đình đã trở thành một địa điểm sinh hoạt cộng đồng không thể thiếu trong các làng xã.
Từ Thân minh đình đến ngôi đình làng.
Theo Đinh Khắc Thuân, kiến trúc ngôi đình thế kỷ XVI khá giản đơn, chỉ có một tòa nhà ba gian hai chái nằm ngang kiểu chữ “Nhất” với sân đình phía trước và trước sân có giếng, chưa có hậu cung, cũng chưa có tòa tiền tế để cúng thờ Thành hoàng. Rõ ràng là ngôi đình thế kỷ 16 được dựng lên chưa có chức năng thờ Thành hoàng, bởi thần đã có miếu để thờ, điều đó cũng có nghĩa là ở thời Mạc ngôi đình chưa mang chức năng tôn giáo. Cũng theo ĐKT, thực tế ngôi đình ở thời kỳ mới xuất hiện (thế kỷ XV - XVI) chỉ dùng làm nơi thực hiện lễ Kỳ phúc hàng năm và để tổ chức lễ hội, đồng thời, việc phân ngôi thứ để thụ lộc và hội họp đã xuất hiện ở đình làng từ thời kỳ này. 
Theo chúng tôi khi chỉ mang những chức năng hành chính, ngôi Thân minh đình đương nhiên chỉ được làm đơn giản, điều này lý giải về kiến trúc đơn giản của ngôi đình thời Mạc. Nhiều văn bia cũng cho biết, trước khi dựng ngôi đình kiên cố, ngôi đình cũ chỉ bằng tranh tre nứa lá. Đồng thời những nhận xét của ĐKT về lễ Kỳ phúc cũng như việc phân ngôi thứ để thụ lộc và hội họp ở ngôi đình thời Mạc đều hoàn toàn khớp với những gì diễn ra tại Thân minh đình với lễ Hương ẩm tửu thời thuộc Minh và Lê sơ như đã trình bày ở trên.
Do mỗi lần có việc, cả làng tụ họp rất đông, vì vậy Thân minh đình thường được dựng lên ở những nơi rộng rãi và thuận tiện qua lại. Về sau để lấy bóng mát, người ta cho trồng các loại cây lớn như cây đa, cây muỗm, sau nhiều năm tháng, cây đa dần trở thành một bộ phận gắn bó với ngôi đình. Khi Thân minh đình đã trở thành một địa điểm quen thuộc của làng, dần dần để tiện gọi, Thân minh đình chỉ còn được gọi ngắn gọn là “đình”.
Về sau mỗi khi làng vào đám (Nhập tịch Tàng câu), người ta rước Thành hoàng làng đến đây làm lễ tế, rồi nhiều làng để thuận tiện cho việc cúng tế, để ngôi đình trở nên uy nghiêm hơn đã cho nhập hẳn miếu Thành hoàng vào đình, mở thêm phần hậu cung làm chỗ thờ thần. Như vậy qua nhiều diễn biến của phong tục, tập quán, ngôi đình làng mới dần mang thêm chức năng tôn giáo.
Vào thế kỷ XVII - XVIII, cùng với sự phát triển mạnh của kinh tế văn hóa, tại hầu khắp các làng xã, người ta đua nhau xây dựng đình làng với kiến trúc to lớn vững chãi. Kể từ giai đoạn này, ngôi đình làng mới thực sự hoàn thiện cả về kiến trúc cũng như các chức năng xã hội của nó, trở thành một biểu tượng văn hóa đặc sắc của làng xã Việt Nam.
T.T.K.A

-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

QUAN SÁT CỘT ĐÁ "CHÙA MỘT CỘT" Ở CHÙA DẠM

Nguyễn Hùng Vĩ 

Lời dẫn của tác giả: Bài báo này được tác giả viết cách nay 14 năm và đã in ở Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 10 (184) 1999 (từ trang 102 đến trang 106) với 5 ảnh chụp hiện trạng cột đá lúc đó. Ở chỗ chèn ảnh, bài viết đã bị mất một đoạn trích dẫn các ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước. Nay tác giả đánh máy lại nguyên văn bản in vừa để lưu giữ làm tư liệu cá nhân vừa cung cấp tư liệu cho những ai cần tham khảo. Đến nay, việc tiếp xúc với nhiều tài liệu hơn đã giúp tác giả tiếp tục khẳng định giả thiết về công trình kiến trúc trên cột đá này là hợp lí và đang tiến hành làm các bản vẽ kĩ thuật đối chứng các tài liệu mới.
.
Cột đá chùa Dạm là một di vật quen thuộc đối với giới nghiên cứu văn hóa, lịch sử, nghệ thuật và tôn giáo.. Nhờ giá trị chủ yếu mà từ tháng 1 năm 1964, chùa Dạm được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử-văn hóa của Quốc gia. Thác bản của nó được phục chế với tỉ lệ 1:1 đặt trước mặt Viện Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội. Tính chất hoành tráng nhưng tinh tế của nó đã chinh phục lòng chiêm ngưỡng của chúng ta.

Tất nhiên, cũng như nhiều di vật nổi tiếng, việc nghiên cứu nó để lại nhiều ý kiến khác nhau đặc biệt là về chức năng và tác dụng của ...[Đoạn bị chèn ảnh mất]… Mỹ thuật Lý-Trần, Mỹ thuật Phật giáo của Chu Quang Trứ, nhà nghiên cứu mỹ thuật có nhắc tới cột đá nổi tiếng này. Trong khoa học, ý kiến khác nhau là chuyện thường tình. Người viết bài này sở dĩ gọi nó một cách quyết đoán là “Cột đá chùa Một Cột” là vì sau khi đọc những trong cuốn sách đang có uy tín này của ông. PGS Chu Quang Trứ ở bài Trông về chùa Dạm viết: “Có người cho cột đá chùa Dạm phải đỡ một tấm kiến trúc ở trên đỉnh nó, như kiểu chùa Một Cột (Hà Nội). Nhưng quan sát kĩ, ta thấy những cái hốc quanh đầu cột rải ra không đều, chỗ thì quá mau, chỗ lại quá thưa, tất cả 6 lỗ mà có tới một phần ba vòng thân cột không có lỗ nào. Dầu cho có một trí tưởng tượng đến mức cao độ cũng khó có thể vẽ nên một kiểu nhà xây trên cột này được”.

Để bài viết nhanh đi đến kết thúc, tôi có thể nói ngay rằng ý kiến của PGS Chu Quang Trứ là hoàn toàn sai. Lí do của sự sai là do ông chưa quan sátkĩ mà thôi. Có lẽ ông ngắm trực tiếp cột đá, nhưng khi nghiên cứu ông chỉ dựa vào ảnh chụp và đặc biệt dựa vào thác bản ở Bảo tàng Mỹ thuật, mà theo tôi phần ngọn cột đá được các nhà phục chế làm rất chi là cẩu thả nên sai trầm trọng nhiều chi tiết.

1. Những số liệu đo được:

Ngày 23 tháng 9 năm 1999, được sự giúp đỡ của PGS Đặng Văn Lung (Viện Văn học) và hai sinh viên chuyên ngành Hán Nôm (Khoa Văn học, Trường Đại học KHXH &NV) tôi đã tiến hành khảo sát và đo đạc trực tiếp cột đã này. Dầu đã qua non ngàn năm gội nắng mưa sấm sét nhưng những gì còn lại là có thể đo được tương đối chính xác. Trụ đá vẫn đứng thẳng trơ gan cùng tuế nguyệt tuy có bị sứt gãy một số chỗ.

Trước hết là dáng thẳng đứng của cột vẫn hoàn toàn bảo đảm khi ngắm các góc băng dây dọi. ta dễ dàng nhận ra mặt tiền của công trình nhờ đôi rồng chầu mặt trời trên phần trụ tròn. Hướng mặt của trụ là hướng tây (hơi chếch nam 5-7 độ) và có thể gọi là chính tây.

Từ mặt nền trở lên, trụ đá được chia làm bốn phần tương đương.

Phần dưới cùng là một khối hộp vuông mỗi bên có cạnh ngang là 1m65 (165cm) và 1m55 (155cm). Hộp có chiều cao từ mặt nền là 1m07 (107cm).

Phần trên tiếp theo gồm hai giật cấp liên tục từ khối vuông sang khối tròn bằng cách chem. các cạnh vuông đứng. Phần giật cấp một cao gần 0,70m (70cm). Phần giật cấp hai, vát sâu hơn để tạo khối gần thành trụ tròn, cao khoảng 0,30m (30cm). (Vì khi chém vát, có độ nghiêng nên khá khó đo, tuy nhiên, chịu khó thì vẫn đo được). Tổng cộng chiều cao cả hai giật cấp là khoảng 1,01m (101cm).

Phần trụ tròn có trang trí đôi rồng chầu mặt trời, lượn thoăn thoắt quấn quanh cột và phần đuôi ngoắc vào nhau xoắn xuýt, uyên chuyển, có chiều cao 1m07 (107cm).

Hiện trạng, phần phù điêu này ở mặt bắc bị hư hại nặng, còn ở mặt nam vỡ một ít. Phần còn lại hầu như nguyên vẹn. Giới hạn trên cùng của phần này là hai đường chân chỉ nổi song song còn thấy được ở mặt sau trụ. Bằng nhiều lần đo phần tròn của chu vi, phần thu vào so với khối vuông, chúng tôi qua tính toán gần đúng và ước lượng phần trụ tròn này có đường kính hơn 1,30 (130cm) mội ít. Và sau này chúng ta sẽ biết, nó trong điều kiện tròn tuyệt đối sẽ có đường kính chính xác là 1,347m (134,7cm).

Phần mà chúng tôi đặc biệt quan tâm là phận ngọn của trụ đá, nơi bắt đầu xuất hiện các lỗ dầm để tạo kết cấu đỡ công trình chùa. Trong tình trạng hiện nay, phần ngọn bị hư hại khá nặng. Chúng ta có thể nhìn thấy những vết vỡ lớn mà theo nhân dân truyền lại là do sét đánh. Quan sát trực tiếp, chúng tôi cho rằng các vết vỡ thư nhất là do công trình bị sập trong một thời gian nào đó và đồng thời do con người có thể đập nó. Hầu như trên đó, không để lại dấu vết lạ nào chứng tỏ sét đánh trực tiếp vào đầu cột đá này (dấu vết nóng chảy của cát chẳng hạn). Đồng thời mặt ngoài của nó không có trang trí. Tuy bị hư hại nhưng dấu vết gia công con lại của con người trên đó còn để cho ta có thể nghiên cứu khá mạch lạc nó với tư cách là một trụ đỡ công trình chùa Một Cột.

Trước hết, các lỗ ngoàm chính (6 lỗ). Phải nói ngay rằng các lỗ ngoàm này hoàn toàn nằm trên một mặt phẳng song song với mặt phẳng nền. Không có cái cao cái thấp như ở bảng phục chế nói trên. Chúng tôi lần lượt đo số liệu các lỗ ngoàm này. Để tiện chúng tôi đánh số từ lỗ 1 đến lỗ 6 theo chiều ngược chiều kim đồng hồ và lấy lỗ bên phải mặt chính diện (mặt tây) nhìn từ tâm cột ra làm lỗ 1.

Lỗ 1: Mặt ngoài trụ còn nguyên dấu, cong khá đều, lỗ hầu như còn nguyên vẹn. Số đo được là: chiều ngang miệng lỗ 16,5cm; chiều cao lỗ 30cm, chiều sâu mặt lỗ ngoàm chịu lực: 30cm, góc mặt (cạnh huyền) tối thiểu 24 độ (nếu mặt dài thẳng đứng).

Lỗ 2: Mặt ngoài trụ có phần gia công và có phần tự nhiên (dựa theo mép trên lỗ cột ta thấy rõ điều đó), lỗ còn nguyên vẹn. Số đo được là: chiều ngang miệng lỗ 16,6cm, chiều sâu chịu lực mặt lỗ (mặt dưới): 14cm. Chiều cao tối đa 30cm. Vì mặt đá có lẹm không tính được góc nghiêng tối thiểu. (Nếu có đủ dụng cụ đo vẫn có thể tính được), lỗ 1 và lỗ 2 nằm ở mặt chính diện (mặt tây).

Lỗ 3: Nằm trên đường sinh chia đôi mặt phía nam trụ. Mặt trụ từ lỗ 2 đến lỗ 3 hơi gồ hình trán trâu, có thể bởi các lõi cát kết cứng, khó gia công. Mặt ngoàm dưới và mặt trụ xung quanh bị sứt mẻ. Ngắm cái cách sứt vỡ ở mặt này, đối chiếu với dấu vết hư hại một cách khéo léo của mặt đối xứng, chúng ta đoán chắc được chiều đổ sập của ngôi chùa dựng trên đó. Lỗ này vẫn cho ta các số đo: chiều ngang: 15,5cm, chiều sâu còn lại 4cm, chiều cao: 28cm.

Lỗ 4: Nằm ở bên phải mặt đông cũng là mặt sau của công trình. Lỗ còn nguyên vẹn nằm trên mặt trụ còn khá nguyên và còn dấu vết gia công mài phẳng. Các số đo như sau: rộng 16,0cm, sâu: 16,0cm, chiều cao 34cm, góc chéo (cạnh huyền) vào: tối thiểu 250 (giả thiết mặt trụ thẳng đứng).

Lỗ 5: Nằm ở bên trái mặt đông. Phần trên lỗ bị vát do sứt mẻ. Các số đo là: chiều rộng: 16,5cm, chiều sâu: 12cm, chiều cao: 30cm. Vì sứt mẻ nên không tính góc nghiêng.

Lỗ 6: Nằm trên đường sinh chia đôi mặt phía bắc trụ (đối xứng với 3). Phần mặt này bị hư hại nặng. Chúng tôi cho rằng đây là phía mà công trình đã sập xuống. Số đo còn lại như sau: chiều rộng 16cm, chiều sâu 17cm, chiều cao còn lại 17cm.

Đó là 6 lỗ ngoàm chính, phản ánh 6 dầm đỡ chéo công trình, đầu dưới cắm vào trụ, đầu trên đỡ các dầm ngang chịu lực như ta thấy ở phục chế chùa Một Cột hiện nay ở Hà Nội. Trên phần ngọn này của trụ ta còn gặp các loại lỗ khác hết sức thú vị (rất tiếc là ở bản phục chế, điều này được thể hiện một cách ví dụ mà thôi, nên vừa quá sót lại vừa sai).

Trước hết là trên toàn bộ phần ngọn, chúng tôi thấy có tất cả 8 lỗ nhỏ hình chữ nhật khá đồng dạng, với kích thước là 5cm và 6cm x 4cm. Lỗ sâu nhất là 8cm và lỗ cao nhất là 4cm. Mặc dù không phân bố đều trên tất cả các mặt nhưng trên mỗi mặt, vị trí lỗ (7/8) đều có một tương tác cân bằng nào đó với các lỗ dầm. Mặt chính (tây) có một lỗ cân giữa hai lỗ dầm và cùng cao độ mặt lỗ dầm chịu lực (mặt dưới). Giữa lỗ dầm 2 và lỗ dầm 3 không có lỗ nhỏ. Giữa lỗ dầm 3 và lỗ dầm 4 có một lỗ nhỏ khá cân. Giữa lỗ dầm 4 và lỗ dầm 5 (mặt đông) có 4 lỗ phân bố cân lực với lỗ dầm và một lỗ lệch. Giữa lỗ dầm 4 và lỗ dầm 5 không có lỗ nhỏ. Giữa lỗ dầm 6 và lỗ dầm 1 có một lỗ nhỏ cân lực với dầm. Như vậy ta thấy rằng hai phần không có lỗ nhỏ đối xứng với nhau. Theo chúng tôi, các lỗ nhỏ này không được tạo ra một lần cùng với công trình mà có thể qua một thời kỳ tu sửa nào đó, người ta đục thêm để chống hoặc níu cho công trình khỏi xộc xệch qua thời gian. Nếu chống, người ta rèn các cây sắt, rồi 2 đầu bẻ hình chữ Z lệch để một đầu cắm vào trụ đá, một đầu cắm (theo lỗ đục) vào dầm gỗ chịu lực. Nếu để níu, người ta đóng một đoạn gỗ tròn vào lỗ, đóng khuy kim loại vào giữa rồi dùng dây sắt níu đều công trình xuống. Chúng tôi cũng thoáng nghĩ đến đây là những lỗ treo đèn hoặc treo cờ trong các hội tắm Phật, cũng như trong Lãm Sơn dạ yến nhưng điều này khó xảy ra nếu công trình trên là gỗ (mà chắc là thế). Ngoài ra, khó nói gì hơn về tác dụng của các lỗ này nếu nghiên cứu phân bố của chúng.

Điều thú vị tiếp theo là chúng tôi khi trèo lên trụ đá để đo đạc đá phát hiện tiếp các lỗ ngoàm phụ, hình chữ nhật, có chiều rộng 10cm, chiều cao không xác định vì bị vỡ phía trên và chiều sâu còn lại 3-4cm. Qua phân bố rất hợp lý của chúng, không thể gọi tên nào đúng hơn đây chính là các lỗ ngoàm con sơn. Hai lỗ ở mặt chính diện nằm cao cách đáy 2 lỗ dầm chính là 78cm và đều dịch vào giữa một thân gỗ ngoàm. Đây chính là nơi lắp các con sơn trợ lực kiểu xỏ kèo lá, ép với dầm ngang chịu lực của công trình. Có điều là, quan sát kỹ các lỗ ngoàm con sơn này, chúng tôi thấy phong cách đục lỗ không thống nhất với phong cách lỗ ngoàm chính. Lỗ đục vụng, các lốt đục không đều, trông có vẻ vất vả, lực tác dụng vào cột ít và không đồng đều. Chúng tôi nghi các lỗ này cũng được làm trong quá trình tu bổ công trình chứ không được tạo tác từ đầu?

Điều phát hiện cuối cùng khiến chúng tôi vui thích là khi trèo lên và trông thấy rãnh dầm chịu lực chính còn để lại trên nóc cột. Đây chính là dầm cuối cùng của chùa. Rãnh dầm chia đôi nóc trụ, theo hướng bắc nam, song song với mặt tiền của trụ đá. Phần còn đo được như sau: chiều rộng 23,0cm, chiều dài còn đo được 7cm, gờ bên còn đo được 3cm. Rãnh dầm đáy bằng phẳng và còn hết sức vuông thành sắc cạnh. Rất tiếc là, các tác giả phục chế cột đá đã bỏ qua một cách đáng tiếc chi tiết này. Đến đây chúng ta đã có thể hình dung dầm ngang chịu lực đầu tiên của công trình là một phiến gỗ (hoặc đá?) hình hộp có gáy 23,0cm và dóng thẳng lên trên đó chính là đòn nóc của ngôi chùa. Mặt trên của dầm hộp gỗ này với những lý do sau này bạn sẽ hiểu, chúng tôi cho là 46cm (hơn hai gang tay). Chỉ với một hộp dầm này, chúng ta đã có thể tính được sức chịu lực uốn của nó có thể đỡ nặng bao nhiêu theo khẩu độ vượt tùy ý. Đến đây, các bạn có thể dựng được một bộ dầm đỡ công trình gồm: 3 hộp gỗ chéo hình chong chóng, tạo hệ thống dầm ngang chịu lực, 6 dầm chống từ cột lên dầm ngang tạo hình các đài sen và có thể là thêm các kết cấu phụ (?). Tôi xin cùng các bạn đi đến điều bất ngờ lý thú của phần 2 bài viết này.

2. Các số đo và tín ngưỡng:

Sau khi đã đo đạc với các số liệu trên, tôi trở về Hà Nội và trong hai ngày chạy tìm thước thợ. Những gì đọc được ở văn bia trong cuốn Thơ văn Lý Trầnvà đặc biệt là đoạn trích về cách chọn đất làm chùa mà cụ Nguyễn Bá Lăng dẫn trong cuốn sách tôi rất mực yêu mến (bởi những bức ảnh đen trắng thật tuyệt) là cuốn Kiến trúc Phật giáo Việt nam khiến tôi nghĩ về ý nghĩa tín ngưỡng của các số đo mà tôi thu thập được trên thực trạng di tích. Là một công trình kiến trúc, hơn nữa là kiến trúc đậm tính tôn giáo, chắc hẳn các số đo phải tuân thủ các quy định tín ngưỡng. Trong hai ngày, tôi nhặt được một lượng thông tin làm công vụ rất tối thiểu nhưng đạt đến hiệu quả không thể ngờ. PGS.TS sử học Vũ Minh Giang nhắn qua PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc cho tôi những thông tin sau:

Thước đo trong lịch sử Việt Nam có sự biến động so với mét của phương Tây. Ngay bây giờ chỉ có thể tạm nói những thông tin: Thời Nguyễn Gia Long 1 thước bằng 0,42m. Thời Tự Đức 1 thước bằng 0,46m. Thời Thành Thái 1 thước bằng 0,40m. Thời Lý chưa khảo được nhưng ước tính khoảng bằng 0,40m.

Qua GS Trần Quốc Vượng, tôi gọi điện hỏi PGS.TS Trịnh Sinh và được ông cho biết thời Hán chuẩn hóa số đo nhưng đến Vương Mãng có cải cách khá đồng bộ, còn thước đời Tống chưa tra được. Và ông giới thiệu cho tôi PGS Nguyễn Duy Hinh nhưng tôi chưa kịp gặp để học hỏi. 

PGS Hoàng Văn Khoán cung cấp cho tôi một phiên bản (chép lại với tỉ lệ 1:1) chiếc thước Lỗ Ban của đình Viềng với những lời giải thích trên đó cùng một phiên bản (ảnh chụp tỉ lệ 1:1) chiếc thước Minh Mạng cùng các cung và lời giải thích bằng thơ chữ Hán năm chữ. Tôi đem dịch cả hai thước và thú thật lần đầu tiên tôi tiếp xúc với cái gọi là thước Lỗ Ban và hiểu được đôi điều vỡ lòng về nó. Sau khi hiểu nguyên lý của thước, điều bất ngờ lại nằm trong ngăn bàn nhà mình, đó là chiếc thước Lỗ Ban tàu bán rất nhiều ở các cửa hàng tạp phẩm. Trên thước có ghi chữ Lỗ Ban xích và thể hiện tương ứng bốn loại thước khác nhau trong đó có 2 loại thước mà theo sự mách bảo của bản thảo thước Viềng, tôi cứ hiểu đại là Lỗ Ban bát bộLỗ Ban cửu phân thập tam thức. Đây là tôi tạm gọi thế để chỉ công cụ tri thức dùng nóng trong lúc này. Có gì sai sau này học thêm vậy. Chúng ta thử quy đổi theo hệ số chiều dài bằng m hiện nay, tiếp tục thử quy ra thước đời Đường và đời Tống là triều đại Trung Quốc trước và tương đương triều Lý. Các số đo thường đẹp một cách đáng quan tâm:

Đối tượng
m (±số lẻ tín ngưỡng)
Lỗ Ban hiện tại
Lỗ Ban quy ra Đường, Tống
-Chiều ngang phần khối vuông
-Mặt Tây: 165cm
-Mặt Nam: 155cm
Thiên đức, Hỉ sự, Tiến bảo, Nạp phúc (cung Vượng).
Tiến bảo, Tài đức (cung Tài).
Thiên Đức, Hỉ sự, Tiến bảo, Nạp phúc (cung Vượng.)
Tiến bảo, Tài đức, Phúc tinh, Cập đệ (giữa cung Tài và Đinh).
-Chiều cao phần khối vuông
107cm
Đăng Khoa, Quý tử, Thiêm Đinh (cung Hưng).
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
-Chiều cao phần giật cấp
101cm
Hoành tài, Thuận khoa (cung Quan).
Thiên đức, Hỉ sự, Tiến bảo (cung Vượng).

-Chiều cao phần trụ tròn có hoa văn rồng
107cm
Đăng Khoa, Quý tử, Thiêm Đinh (cung Hưng).
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
-Chiều cao lỗ ngoàm dầm chống (gáy dầm chống)
16,5cm
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
Đại cát, Tài vượng (cung Nghĩa).
-Chiều rộng rãnh dầm ngang chịu lực (gáy dầm chịu lực)
23cm
Hoành tài, Thuận khoa (cung Quan).
Đăng Khoa, Quý tử (cung Hưng).
-Khoảng cách tâm 2 lỗ ngoàm dầm chống mặt tiền và mặt hậu còn đo được chính xác
70,5cm
Cô quả (cung Thất).
Thiên đức, Hỉ sự (cung Vượng).



Theo bảng đối chiếu trên, các nhà nghiên cứu lịch sử có thể có những suy nghĩ liên hệ nó với cuộc đời Ỷ Lan, Lý Nhân Tông cũng như mục đích xây dựng chùa Dạm. Có thể chính xác thế chăng khi đo trên mặt đá gồ ghề? Chả lẽ thước đời Lý lại là 2 loại Lỗ Ban mà một loại ứng với 39cm chẵn (0,39m) và một loại ứng với 43cm chẵn (0,43m)? Câu hỏi thứ nhất có thể trả lời bằng cách cầm thước đi đo cột đá, vì nó rất gần Hà Nội, nó đã còn 900 năm và nó đang còn. Câu hỏi thứ 2 thì trên thước nó đã cho những chỉ số hiển nhiên biết làm sao được. Riêng chúng tôi sắp tới sẽ đi đo tất cả những gì là kiến trúc mà nhà Lý còn để lại vì số đó quả không nhiều lắm. So sánh hai bản số liệu, chúng tôi nghiêng về phía cho rằng nhà Lý đã dùng thước đo Đường Tống. 

Bài viết hết phần 2 này, ở cả phía tín ngưỡng và các số liệu mô tả chỉ cho ta kết luận hiển nhiên rằng: những người tạo tác cột đá hành động theo tư duy kiến trúc thời đó và cột đá càng đích thị là cái chùa Một Cột còn đứng trơ gan khi chùa đã đổ sập về phía núi (phía Bắc). Nhưng vấn đề không dừng lại ở đây.

3. Suy luận đến đâu là vừa:

Tôi không chép lại đây những gì mà những văn bản khả tín trung đại đã ghi về Lãm Sơn. Để hiểu các văn bản đó một cách thông thường là không khó lắm (hiểu xuyên qua folklore mới khó) và ghi chép lại chỉ là chuyện công phu. Tôi cũng biết rằng, cho đến nay, sự kiện dựng chùa Một Cột, thậm chí dựng cột đá Lãm Sơn đi nữa  quan trọng đến thế nhưng chưa phát hiện một dòng ghi nào về nó. “Lập thạch trụ vu địa (đìa?) trung là chuyện ở Thăng Long trước làm chùa Dạm gần 40 năm. Nhưng có những chuyện cung cần nói thêm.

Cột đá này được tạo tác bằng chất liệu đá cát kết nguyên khối, loại đá này phổ biến từ núi Tiêu (núi sót cuối cùng) lên đến Lục Ngạn. Nhìn độ sâu của lốt đục và màu đá, ta thấy đây là loại cát kết điển hình, không non cũng chẳng già quá. Loại đá này có tỉ trọng 265 gram trên một cm khối. Ta thử làm một phép tính nhân thì sẽ được một khối lượng 12 m khối cho phần nổi của cột đá trên mặt đất. Nếu đây là một cột đá lăn từ núi xuống hoặc chở nơi khác đến (lý do đào ngòi Con Tên hướng phần chính nam ra sông Đuống, ngòi to, rộng, thẳng như tên bắn và chắc là sâu, hiện còn vết tích(?) thì chắc sẽ còn phần chân là 4m khối. Ta có một trọng lượng toàn bộ cột dễ đến hơn 42 tấn cả thảy. Để chở khopois lượng này bằng cách cốn bè với sông sâu là được, còn để kéo nó trên đất bằng phải ước lượng 840 người. Còn kéo lên núi với độ cao hơn 60m với nhiều giật cấp thì ông cha ta là đồng long gắng sức, muôn người như một. Đã diễn ra một kì tích ở đây. Chúng ta có thể tưởng tượng đến một đại công trường cổ với niềm vui cộng đồng, tâm lí hướng thần, hướng thượng và một niềm đam mê tôn giáo tuyệt vời. Nhìn các tháp Chăm chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Chúng tôi nghiêng về phía trụ đá này đã được dựng nên. Nhưng nếu nó vốn đứng đó 165 triệu năm trước thì sao? Ngăm hướng đi, nhịp điệu của những lốt đục trên phần khối vuông còn để lại chúng tôi nghi nó được tạo nên trong tư thế đứng thẳng và của những người cầm búa tay phải. Nhưng mà thôi, câu hỏi này quá dễ trả lời khi ta cần một mũi khoan bé nhỏ bên cạnh, không ảnh hưởng gì về mặt vật lý cũng như cảnh quan. Đến lúc đó, chúng ta sẽ rõ hơn nó là văn hóa cự thạch, văn hóa ling a, văn hóa trụ biểu hay văn hóa…chùa Một Cột và hay là một tích hợp tất cả, vừa đứt đoạn, vừa liên tục.

Còn như bây giờ, tôi mạnh dạn đọc nó theo nghĩa chính, nghĩa đen là cột đá chùa Một Cột núi Dạm. Khi tôi phát ngôn từ xem, mặc dù nó được cấu tạo cả về không gian thời gian là bằng phụ âm đầu x, nguyên âm chính e và phụ âm cuối m nhưng thông tin của tôi đến người nghe không phải là thế và tư duy của tôi cũng không nghĩ đến. Những lớp văn hóa khác tích lũy trong cột đá này cũng vậy. Trước hết phải gọi nó, hiểu nó như cái chức năng, tác dụng, ý nghĩa mà nó được chứa đựng.

Dựa trên hai mặt tây và đông (trước và sau) còn đo được chính xác, chúng tôi thấy khoảng cách lỗ ngoàm 1 và 2, 4 và 5 (từ tâm ngoàm đếm tâm ngoàm) đều là 70,5cm (lại là một con số tuyệt đẹp của thước Lỗ Ban: Thiên đức, Hỉ sự cung Vượng ). Chúng tôi cho rằng nếu phần này được gia công tuyệt đối tròn thì tât nhiên đường kính của trụ tròn theo tính toán sẽ là 134,7cm (các tài liệu trước đây cho rằng nó khoảng 130cm). tôi cho rằng đây mới là con số chính xác trong tư tưởng những người dựng cột. trên thực chất, họ đã chia trụ đá làm 6 cung bằng nhau thành một dàn dầm chóng cân đối hoàn toàn. Điều tương hợp giữa con số thực địa và con số trong đồ án khiến chúng ta không thể có cách lí giải nào khác. Bài viết chúng tôi tạm dừng ở đây vì phần còn lại dành cho các nhà kiến trúc. Và chính phần còn lại này (thử dựng một ngôi chùa Lý lên cột đá đó) có thể làm được nhưng khó khăn muôn vàn vì đơn giản là chúng ta hầu như không còn một kiến trúc gỗ nào nguyên vẹn từ Lý đến giờ để tham khảo. Chùa Một Cột Hà Nội đẹp hài hòa, tinh tế và tài hoa nhưng đó chỉ là dị bản sau nhiều lần dị bản của nguyeenbanr đã mất đi. Nó còn xa nguyên bản hơn cả cái phục chế cột đá chùa Dam đặt tại Bảo tàng Mĩ thuật Hà Nội.

Kết thúc bài viết này, tôi cảm thấy vui khi một tuần hè của mình trôi qua có ý nghĩa, đặc biệt là tâm lý hướng đến 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Tôi xin được nhận sự góp ý của những người quan tâm./.


Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 1999. 
N.H.V. 

Tài liệu tham khảo: 
-Chu Quang Trứ - Mỹ thuật Lý – Trần, Mỹ thuật Phật giáo. Nxb Thuận Hóa. 1998.
-Nguyễn Bá Lăng – Kiến trúc Phật giáo Việt Nam – Tập 1, Nxb Đại học Vạn Hạnh, Sài gòn 1972.
-Xem: Ngô Thừa Cát : Trung Quốc độ lượng hành sử - Thương vụ ấn thư quán 1957, tr. 90.


-->đọc tiếp...