Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

NNC HÀ VĂN THÙY TRAO ĐỔI VỀ BÀI VIẾT CỦA TIẾN SĨ TRẦN TRỌNG DƯƠNG

Tôi khẳng định Kinh Dương vương là thủy tổ người Việt Nam

Hà Văn Thùy

Lời dẫn của Hà Văn Thùy: Dăm năm trước, để phản bác ý tưởng “Từ những dấu vết ngữ pháp Việt trong cổ thư Trung Hoa có thể nhận ra tiếng Việt là cội nguồn của ngôn ngữ Hán” của GS. Lê Mạnh Thát, ông Trần Trọng Dương có bài “Lâu đài cất bằng hơi nước.” Là người có sử dụng tư liệu của học giả họ Lê cho bài viết “Tiếng Việt chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán,” tôi có bài “Lâu đài trên mây hay dự cảm sáng suốt” nói lại. Ông Trần Trọng Dương đáp lại bằng bài “Một lần và lần cuối thưa chuyện với ông Hà Văn Thùy,”  Khi biết tác giả là Thạc sĩ Hán Nôm rất trẻ, tôi nhận ra mình dại.
Mấy năm nay, với nguồn tư liệu dồi dào, tôi không chỉ khẳng định “Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa” mà còn phát hiện “Giáp cốt văn là sản phẩm của người Việt.” Đọc một số bài của Tiến sĩ Trần Trọng Dương mới đây, tôi mừng nhận ra một khuôn mặt mới, sắc sảo.

Tuy nhiên, với bài viết đang chấn động dân cư mạng và gây hoang mang cho bạn đọc này, tôi buộc phải lên tiếng, dù có dại thêm một lần.

Trong bài viết “Kinh Dương Vương – ngài lài ai?”* đăng trên tạp chí Tia sáng, Tiến sĩ Trần Trọng Dương cho rằng:  “(Kinh Dương Vương) chỉ là ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên trong tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc.” Bài viết dẫn nhiều tài liệu tham khảo với chứng lý chặt chẽ, khiến cho những học giả Hán Nôm dù với lòng tự hào dân tộc tràn ứ cũng khó lòng phản bác.  Chắc chắn không ít người sẽ tin theo tác giả!

Tuy nhiên, chỉ trong câu ngắn dẫn trên, sự nông cạn hàm hồ của vị tiến sĩ đã bộc lộ. Thứ nhất, tuy xuất hiện lần đầu trong Đường kỷ nhưng câu chuyện về Liễu Nghị không phải là sáng tác của đời Đường mà là một truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết, như ta biết, là “ánh xạ của những sự kiện có ý nghĩa lớn của quá khứ, được ghi lại trong ký ức cộng đồng rồi lưu truyền trong dân gian.” Cố nhiên, trong khi được kể lại qua truyền miệng, truyền thuyết sẽ có những dị bản với sai khác ít nhiều về tên nhân vật, về địa danh hoặc một số tình tiết… Tới lúc nào đó,  người ta sử dụng nó vào những mục đích khác nhau: nhà văn chế tác thành tiểu thuyết truyền kỳ, người viết sử liên kết với những chi tiết khác để phục dựng sự kiện xảy ra trong quá khứ.

Tại sao Tiến sĩ không nói “Ngô Sĩ Liên lấy từ truyền thuyết dân gian” mà lại nói lấy từ tiểu thuyết truyền kỳ của Trung Quốc? Giữa truyền thuyết dân gian và tiểu thuyết truyền kỳ khác nhau một trời một vực. Sự dẫn sai nguồn, lập lờ này làm mất tính chính danh của sử gia, làm giảm lòng tin vào sử sách.

Càng hàm hồ hơn khi tác giả cho truyện Kinh Dương Vương vào cùng một bị “tiểu thuyết truyền kỳ Trung Quốc!” Phải chăng truyền thuyết đó của Trung Quốc?  Sai lầm chết người! Có lẽ nào tác giả không biết rằng vùng Ngũ Lĩnh vốn là Xích Quỷ, Văn Lang của người Việt? Cho tới đời Tam Quốc, nơi này vẫn chưa là đất Hán. Có chuyện rằng, để đánh Lưu Bị, Tào Tháo nhờ Hứa Tịnh do thám tình hình nước Thục. Trong thư gửi Tào Tháo, Hứa Tịnh viết rằng: ông đã đi từ Hội Kế (Cối Kê - Hàn Châu ngày nay), qua Giao Châu, Đông Âu, Mân Việt, cả vạn dặm mà không thấy đất Hán. (从会稽“南至交州,经历东瓯、闽越之国,行经万里,不见汉地” – Từ Hội Kế nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa.) Như vậy, tuy thuộc Hán nhưng suốt vùng Giang Nam vẫn là đất Việt! Thập niên 1950, sau khi làm chủ Trung Hoa, nhà cầm quyền Trung Quốc phải bỏ nhiều công sức đồng hóa khối dân Việt ở đây vì họ vẫn theo phong tục và nói tiếng Việt. Chỉ tới sau năm 1958, tiếng phổ thông mới được dùng rộng rãi. Vậy thì dân cư Trung Quốc khu vực này, nói đúng ra, phải gọi là người Trung Quốc gốc Việt! Người hiểu thực trạng này sẽ không nói những truyền thuyết đó là tiểu thuyết truyền kỳ Trung Hoa! Ngay những tác giả đời Đường biên thành tiểu thuyết cũng chính là người Việt!

Sự lầm lẫn tai hại này khiến thế giới mạng hoang mang, thậm chí có vị tiến sĩ đã viết trên blog của mình: “còn mãi về sau thờ một ông vua giả có nguồn gốc Tàu!”

Cũng có sự thực là, truyền thuyết trên không tồn tại đơn độc mà có liên hệ với những sự kiện khác. Đó là châu Kinh, châu Dương trên lưu vực Dương Tử, hai địa danh Việt từ xa xưa. Ai dám chắc không có mối quan hệ nào giữa vùng đất Kinh, Dương với danh xưng Kinh Dương Vương? Các bậc vua chúa, công hầu thường lấy đất đặt tên hiệu. Đó còn là truyền thuyết về Thần Nông hơn 3000 năm TCN. Còn là câu ca Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nuớc trong Nguồn chảy ra… Điều này có nghĩa, câu chuyện về con gái Động Đình Quân không phải xuất hiện thời Đường hay Tần Hán mà xa hơn nữa, ở thời xa thẳm của tiền sử. Nhà tiểu thuyết không cần nhưng người làm sử phải biết kết nối những điều tưởng như rời rạc, riêng rẽ ấy ngõ hầu phục nguyên gương mặt đã khuất của lịch sử. Từ những dị bản truyền thuyết khác nhau, nhà tiểu thuyết dùng tên Kinh Xuyên. Trong khi, nhà sử học chọn tên Kinh Dương Vương.

Bài viết cũng lộ ra chỗ yếu chết người, lộ ra “gót chân Achile” trong luận thuyết của Tiến sĩ Trần Trọng Dương. Là người biết đọc chữ Hán, ông Trần Trọng Dương đưa tất cả những tài liệu chữ Hán liên quan lên bàn nghị sự rồi cả quyết, những gì ở ngoài cổ thư Trung Hoa đều không có giá trị!

Xin thưa, không phải cổ thư Trung Hoa là tất cả lịch sử! Cổ thư, chỉ ghi chép sự kiện từ thời Tần Hán về sau. Vì vậy, dù đọc tới nát 24 bộ quốc sử (nhị thập tứ sử) thì người Trung Quốc cũng không biết tổ tiên họ là ai, tiếng nói của họ từ đâu ra, chữ viết của họ do đâu mà có! Tuy “Hoa Viết đồng chủng đồng văn, ” do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cố thư Trung Hoa có thể soi sáng cho nhiều sự kiện của sử Việt, thì cũng chỉ từ sau thời Tần Hán thôi! Bắt cổ thư trả lời mọi câu hỏi của sử Việt khác nào bắt dê đực đẻ?! Tham vọng dùng thư tịch Trung Hoa giải quyết triệt để vấn đề Kinh Dương Vương chỉ là chuyện leo cây tìm cá!

Chỉ có thể khám phá sự thật bằng hệ quy chiếu khác: tìm tới tận cùng cội nguồn tộc Việt!

Bằng ba cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn Học 2007), Hành trình tìm lại cội nguồn (Văn Học, 2008), Tìm cội nguồn qua di truyền học (Văn Học, 2011) cùng nhiều bài viết khác, chúng tôi đã chứng minh rằng, để đi tới con người hôm nay, tổ tiên ta đã kinh qua hai thời kỳ. Kết hợp những phát hiện di truyền học lấy AND từ chính máu huyết chúng ta với tư liệu khảo cổ học, cổ nhân chủng học, văn hóa học của người Việt, chúng tôi chứng minh được rằng, 40.000 năm trước, người Việt cổ Australoid từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa. Khoảng 7000 năm trước, tại văn hóa Hà Mẫu Độ vùng cửa sông Chiết Giang diễn ra sự gặp gỡ hòa huyết giữa người Việt Australoid và người Mongoloid săn bắn hái lượm có mặt ở đây từ trước, sinh ra chủng người mới Mongoloid phương Nam. Đó chính là người Việt hiện đại, tổ tiên xa của chúng ta. Lớp người Việt mới này tăng nhanh số lượng và tới khoảng 5000 năm TCN trở thành chủ nhân của vùng Sơn Đông, Hà Nam, Hà Bắc. Sơn Đông có núi Thái Sơn, là nơi ra đời của những vị tổ huyền thoại của người Việt: Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông. Còn Hà Nam nơi có con sông ngày nay mang tên Hán Thùy, nhưng trước đó, người Dương Việt chủ nhân gọi là sông Nguồn. Đồng bằng phì nhiêu do sông Nguồn sinh ra có tên là Trong Nguồn. Tại đây diễn ra sự kiện Kinh Dương Vương được phong làm vua nước Xích Quỷ năm 2879 TCN rồi chuyện Đế Lai làm vua phương Bắc, Lạc Long Quân làm vua phương Nam.

 Do đất đai trù phú, nên Trong Nguồn thường xuyên bị những bộ lạc du mục Mông Cổ ở phía bắc Hoàng Hà nhóm ngó, cướp phá. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ mở trận công kích lớn vào Trác Lộc bên bờ nam Hoàng Hà, đánh tan liên quân Việt của Đế Lai và Lạc Long Quân. Đế lai tử trận, Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt vùng quê Núi Thái, Sông Nguồn dùng thuyền theo Hoàng Hà ra biển rồi đổ bộ vào Rào Rum - Ngàn Hống đất Việt. Cùng ngôn ngữ và gần gũi về chủng tộc, người Việt bản địa mở lòng đón tiếp những người mới rồi chung tay xây dựng nước Văn Lang. Văn Lang với kinh đô Hạc Trắng là gì nếu không phải chính là Xích Quỷ được dời đô và thay quốc hiệu? Cũng lúc này, người Việt mang gen Mogoloid phương Nam trong đoàn di tản hòa huyết với người bản địa Australoid, sinh ra lớp người Mongoloid phương Nam mới, mà thủ lĩnh là Hùng Vương, cụ tổ trực tiếp của chúng ta hôm nay, cùng câu ca:

                 Công cha như núi Thái Sơn
                 Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra

Người Mông Cổ vào chiếm Trong Nguồn, hòa huyết với người Việt bản địa, sinh ra người Hoa Hạ. Do người Việt quá đông nên sau vài ba thế hệ, người Hoa Hạ cũng chuyển hóa thành người Việt mang gen Mongoloid phương Nam. Ý thức được nguồn gốc của mình, các đế vương Trung Hoa sau này coi Trong Nguồn là đất phát tích của họ và hướng về Thái Sơn thờ tự rất tôn kính. Đến thời Đường, sông Nguồn (tiếng Việt còn đọc là Hòn, Hớn, Hán) chuyển thành Hán Thùy, còn đồng bằng Trong Nguồn được gọi là Trung Nguyên. Vì vậy, hơn 2000 năm chúng ta không tìm ra quê gốc!

Cũng phải kể tới sự kiện khác: trận Trác Lộc! Truyền thuyết cùng cổ thư Trung Hoa cho rằng, Hoàng Đế và Viêm Đế (Thần Nông) là anh em trong cùng một bộ lạc do Viêm Đế lãnh đạo. Hoàng Đế mạnh lên, đánh bại Viêm Đế ở Phản Tuyền, giữ vị trí thống lĩnh. Viêm Đế chấp nhận vai trò phụ thuộc. Nhưng rồi Si Vưu, người của Viêm Đế nổi loạn. Hoàng Đế buộc phải tiêu diệt Si Vưu ở Trác Lộc.
 
Đấy thực ra chỉ là uyển ngữ lịch sử vì mục đích chính trị, giống như sau này người ta chế tác ra chuyện Hùng 
Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Phán rồi Thục Phán thề tôn thờ các vua Hùng mà quên đi những dấu tích của cuộc chiến  khốc liệt khắp vùng Việt Trì, Phú Thọ! Trong con mắt nhà quân sự, hai đội quân của cùng một bộ lạc chỉ có thể tranh chấp vị trí chiến lược đông dân, kinh tế trù phú chứ không khi nào kéo ra bờ sông đánh nhau. Mặc khác, nếu trong cùng bộ lạc, trận chiến sẽ không thể huy động quân số đông và diễn ra ác liệt đến thế! Trên bờ nam Hoàng Hà, Trác Lộc thực sự là trận chiến sống còn giữa kẻ xâm lăng phương bắc và người quyết tâm giữ đất phương nam! Cổ thư Trung Hoa xác nhận sự thật này. Trong cuốn Kỳ môn độn giáp đại toàn thư có câu: Tích nhật Hoàng Đế chiến Si Vưu/ Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu (Ngày xưa Hoàng Đế đánh Si Vưu, trận Trác Lộc đến nay còn chưa dứt). Cũng phải phân định điều này: Thần Nông sống trước 3000 năm TCN nên không thể cùng tranh chấp với Hoàng Đế là kẻ sau mình hàng trăm năm!

Với quy mô như thế của trận Trác Lộc, cho thấy, cuộc chiến năm 2698 TCN bên bờ Hoàng Hà chỉ có thể là cuộc chiến giữa hai nhà nước hay liên minh bộ lạc hùng mạnh. Cổ thư Trung Hoa cho biết, bên Mông Cổ là liên minh các bộ lạc, do Hiên Viên lãnh đạo mà không cho biết lực lượng của Si Vưu ra sao. Nhưng từ lực lượng của Hiên Viên, ta cũng biết lực lượng của Si Vưu không nhỏ. Lực lượng đó chỉ có thể có nơi những nhà nước hay liên minh bộ lạc mạnh. Từ cuộc di tản theo sông Hoàng Hà của Lạc Long Quân (vết tích còn lại trong Ngọc phả Hùng Vương) vào thời điểm này, có thể thấy trận Trác Lộc có sự liên minh giữa hai nhà nước của Đế Lai và Lạc Long Quân. Điều này còn chứng tỏ, thời điểm ra đời của nước Xích Quỷ năm 2879 TCN là có cơ sở!
 
Cũng phải nói tới sự kiện này: cậu bé làng Dóng! Lịch sử chưa bao giờ ghi nhận vào đời Hùng vương có chuyện giặc Ân xâm lăng nước ta. Vua Bàn Canh không thể vượt chặng đường quá xa xôi, băng qua sông lớn Trường Giang, mạo hiểm đương đầu với sự chống trả của những quốc gia Bách Việt để tới nước ta. Nhưng vì sao có chuyện cậu bé làng Dóng? Đó chính là ánh xạ của sự kiện, sau khi xâm lăng vùng đất Ân ở Hà Nam, nhà Ân Thương tiếp tục đánh người Việt, mở rộng địa bàn. Người Việt chống trả quyết liệt nhưng rồi dần dần thua cuộc. Một bộ phận người Việt từ đây chạy về Việt Nam, quê gốc của mình, mang theo hình tượng đẹp nhất của cuộc kháng chiến rồi phục dựng trên đất Việt truyện Thánh Dóng với những địa danh Bắc Ninh!

Từ phân tích trên, ta thấy rằng, sử gia Ngô Sĩ Liên đã kết nối tài tình câu chuyện ghi trong Đường Kỷ với những chi tiết mảnh vụn rời rạc của lịch sử để phục dựng giai đoạn quan trọng thiết yếu trong lịch sử tộc Việt. Nhờ khám phá chính xác của ông, năm sáu trăm năm nay, chúng ta có được định hướng con đường tìm lại cội nguồn để không biến thành đám trôi sông lạc chợ. Tuy nhiên, do thời gian xa xôi,  chứng lý lại mong manh, nên không khỏi có những ngờ vực. Những người thiển nghĩ cho đó là chuyện “ma trâu thần rắn” hay “chỉ là ảo ảnh diễn hóa từ nhân vật Kinh Xuyên”… cũng không lạ!

Nay, nhờ phát hiện mới của khoa học nhân loại, chúng ta đã phục dựng lại diện mạo thực của lịch sử. Thật đáng mừng là những phát hiện khoa học hôm nay đã chứng minh dự cảm thiên tài của người xưa: Kinh Dương Vương là vị thủy tổ đích thực của tộc Việt!

Vừa mới xuất hiện, bài viết của Tiến sĩ Trần Trọng Dương đã lan nhanh như nước lũ trên mạng toàn cầu. Trên một vài trang mạng cho thấy bài viết đã gây sốc mạnh. Nhiều người hoang mang mất lòng tin vào điều thiêng liêng nhất của dân tộc, vào cái hấp lực cuối cùng gắn kết người Việt với nhau. Chắc chắn không phải là mong muốn của nhà nghiên cứu nhưng vô hình trung, đây là đòn “giải thiêng” nặng nề nhất đánh vào lòng tự hào, vào khối đoàn kết dân tộc!

Tuy nhiên, rất may là, tới nay, nhờ tri thức của khoa học nhân loại chúng tôi đã đi tìm tới tận cùng quá khứ dân tộc Việt, khám phá chính xác hành trình mà tổ tiên chúng ta đi suốt 70.000 năm qua cho tới hôm nay. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phát biểu của Tiến sĩ Trần Trọng Dương là hoàn toàn sai lầm.

Bằng sự vững tin ở những chứng lý khoa học không thể phản bác, chúng tôi xin một lần nữa khẳng định: KINH DƯƠNG VƯƠNG LÀ THỦY TỔ CỦA NGƯỜI VIỆT!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 9 năm 2013
HVT

*http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=6723&CategoryID=41
Nguồn: TNc
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

HÀ VĂN THỊNH: PHẢN BIỆN BÀI CỦA ÔNG NGUYỄN CHƠN TRUNG

Mục nát thì phải phá bỏ, thưa ông Nguyễn Chơn Trung!
Hà Văn Thịnh

Lâu lắm rồi tôi không viết, vì nhiều lẽ, nhưng cái chính là do tiêu cực, tham nhũng, cái ác, cái xấu của quan chức nhiều quá; sự dốt nát, lộng hành, khinh dân - kiêu binh... của các cấp lãnh đạo nhiều quá (chẳng hạn: hơn 50.000 văn bản sai quy phạm pháp lý, đến mức như những trò hề)..., thành thử, nếu viết sẽ lại trùng, lại lặp, bởi động đến cái gì cũng có “tham gia” rồi (tôi đã từng có bài “Viết cái gì và viết thế nào đây”)...

Thế nhưng, hôm nay đọc bài của ông Nguyễn Chơn Trung – Sáu Quang (ảnh bên) , tự thấy rằng không thể im lặng... 

Trong các “nguyên tắc” của phản biện thì tiêu chí đầu tiên không thể thiếu là sự chặt chẽ của lập luận, chứng cứ. Ông Nguyễn Chơn Trung phê phán ông Lê Hiếu Đằng để “thức tỉnh” – phù phép hàng triệu người có thể “lầm lạc” (như ông Lê Hiếu Đằng?) nhưng lại quá kém cỏi khi sự biện hộ biến thành ngụy biện một cách thô thiển. Do khuôn khổ của một bài có hạn, xin nêu ra mấy chỗ khó chấp nhận sau đây.

Thứ nhất, ông Nguyễn Chơn Trung cho rằng “Đã có hàng triệu đảng viên ngã xuống trên khắp các chiến trường, trong lao tù thì mới có nước Việt Nam hòa bình – độc lập – thống nhất cùng với 27 năm đổi mới đất nước như hôm nay”. Thật là nực cười khi trong những thành tựu mà NCT vơ hết vào mình ấy chẳng thấy bóng dáng nào của NHÂN DÂN – DÂN TỘC? Càng khôi hài hơn nữa khi ai cũng biết rõ rằng “ngày xưa” đảng viên ít lắm, đông như bây giờ thì cũng chỉ chiếm 3% dân số. Vậy, nếu đảng viên chết hàng triệu (“hàng triệu” có nghĩa là phải từ hai triệu trở lên) thì dân chết hàng chục triệu sao? Và không lẽ sự nghiệp giải phóng, thống nhất đất nước chỉ do mỗi đảng viên làm?

Thứ hai, ông Nguyễn Chơn Trung cho rằng “vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đã lớn mạnh hơn xưa nhiều lắm” bởi thành tích xóa đói giảm nghèo rất ấn tượng. Đọc đến đây thì chắc hẳn ai cũng phải nghẹn họng bởi cách viết nói lấy được không hề biết thế nào sự run rẩy của sự xấu hổ mỏng manh nhất: 30 năm sau chiến tranh, Nhật Bản là cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, Hàn Quốc là con rồng mới của châu Á, Cộng hòa LB Đức là nền kinh tế thứ ba...; còn ta, sau 38 năm, vẫn cứ mải mê mài miệt với sự tự sướng xóa đói giảm nghèo? Làm sao có vị thế lớn mạnh nếu chỉ loay hoay với xóa đói, giảm nghèo? Ông Nguyễn Chơn Trung không biết rằng tự hào xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới mà cứ tự ca xóa đói là tự vả vào mặt mình đấy – nếu không muốn nói là đang tiếp tục tự bóc trần bộ mặt thật để mặc hàng vạn người bị đói trong lúc xuất khẩu để vơ vét, làm giàu cho một thiểu số nhỏ nhoi. Và, đã xóa đói, giảm nghèo được chưa khi thu nhập thực tế của hàng triệu hộ gia đình nông dân hiện nay chỉ có 48.000 đồng/ngày – cho 4-5 miệng ăn?

Thứ ba, sự ngụy biện vô lối còn đáng hãi hơn nữa khi ông Nguyễn Chơn Trung triết lý trong cái gọi là thơ với những câu Đời cho ta trí óc thông minh/ Đời với ta như kiếm như gươm/ Ta đưa Đời đến vinh quang/ Đời làm ta quá phũ phàng vậy sao/ Đời làm ta lao đao lận đận/ Không bao giờ ta hận với Đời... Không biết “Đời” ở đây có thực là đời hay không vì ông Nguyễn Chơn Trung viết hoa hay ám chỉ một Đ nào đó nhưng thấy hao hao giống những câu khẩu hiệu lòe dân mà ai cũng biết. Chẳng hạn, trí thông minh là bẩm sinh của một con người, thừa hưởng từ mẹ, cha, ông bà, tiên tổ, từ Tạo Hóa chứ chẳng có Đ hay Đời nào mang đến được! Chẳng lẽ ông Nguyễn Chơn Trung không biết câu nói nổi tiếng của một danh nhân rằng một triệu kẻ ngu dốt cũng không thể có được một quyết định thiên tài? ông Nguyễn Chơn Trung chỉ đúng có duy nhất một điều (trong cả bài): Ta đưa Đời đến vinh quang/ Đời làm ta quá phũ phàng vậy sao (!)... 

Thay lời kết bằng điều đáng bàn thứ tư: ông Nguyễn Chơn Trung đã “ví von một cách hình ảnh” rằng với một căn nhà, khi cột, kèo bị mục nát thì có nên sửa chữa hay không? Thưa ông NCT, dột từ nóc, chỉ có nghèo kiết xác mới lấy mo cau mà trám cho cho đỡ ướt, chứ còn cột và kèo đã mục nát thì chẳng có bất kỳ người nào có vài phần trăm chất xám trong đầu lại đi sửa chữa cả. 

Chỉ có vất bỏ đi, thay mới thôi, thưa ông! 

Huế, 27.8.2013 
H.V.T.
Nguồn: BVN

 

Chú thích thêm: “Đồng chí Nguyễn Chơn Trung (Sáu Quang): nguyên Bí thư Thành Đoàn giai đoạn 1977 – 1981, Trưởng Ban quản lý KCX - KCN đầu tiên của TP.HCM, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM, hiện là Viện phó Viện khoa học công nghệ Phương Nam (thuộc Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam). (Web Thành đoàn TPHCM). 

 

Ngoài ra, cũng có một bài báo nói về Bê bối ở Trường CĐ bán công Công nghệ và Quản trị doanh nghiệp TP.HCM - Bài 2: Tài sản chung biến thành của tư (TTVH), trong đó ông Nguyễn Chơn Trung nguyên là Chủ tịch HĐQT.

 

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Đào Tiến Thi: PHẢN BIỆN BÀI VIẾT CỦA GS. HOÀNG CHÍ BẢO


Đâu là “sự thật”, “công lý” và “trách nhiệm” qua bài viết của Giáo sư Hoàng Chí Bảo?

Đào Tiến Thi

Giáo sư Hoàng Chí Bảo (ảnh trên) vừa có bài Trọng sự thật và công lý để hành động có trách nhiệm nhằm bác bỏ những ý kiến (chủ yếu là của ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận) về việc thành lập Đảng Dân chủ xã hội ở Việt Nam.

Toàn bài của Giáo sư Hoàng, từ tiêu đề, đều toát lên tiếng nói của kẻ có quyền phán quyết và dạy dỗ. Ví dụ ngay đoạn đầu đã đóng đinh bằng hàng loạt nhận định mang tính tiên đề, không có chứng minh, phân tích, biện bác gì cả: “Ý Đảng – Lòng dân – Phép nước đã thống nhất và hòa quyện làm một, tạo thành sức mạnh thúc đẩy đổi mới, làm nên sức sống của đổi mới, thành tựu phát triển đất nước như hiện nay. Đổi mới là sự gặp gỡ tất yếu và tự nhiên giữa những hối thúc của đời sống thực tiễn với những sáng kiến, sáng tạo của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân từ cơ sở, cùng với quyết sách đúng đắn, kịp thời của Đảng”.

Giáo sư dựa vào đâu để nhận định: “Ý Đảng – Lòng dân – Phép nước đã thống nhất và hòa quyện làm một”? Và nếu thế không có gì phải bàn, phải làm nữa. Chẳng lẽ Giáo sư không hề biết chỉ trong mấy năm qua hàng loạt tập đoàn kinh tế nhà nước đổ vỡ, hàng nghìn dân oan bị tước đoạt ruộng đất, phải đi khiếu kiện năm này qua năm khác mà vẫn không có kết quả gì; hàng chục nghìn người phải ra nước ngoài làm thuê; hàng ngàn phụ nữ phải lấy chồng ngoại, thực chất là những cuộc bán mình; hàng trăm người yêu nước và đấu tranh cho chủ quyền dân tộc và lẽ công bằng bị kết tội tuỳ tiện hoặc thường xuyên bị sách nhiễu, bất chấp luật pháp. Cả xã hội gần bất lực trước nạn tham nhũng, lạm quyền và các loại tội phạm. Biển đảo thì ngày càng bị nhà cầm quyền Trung Cộng ngang nhiên xâm lấn, ngư dân luôn bị khủng bố mà không có một chiến lược, một quyết sách gì để ngăn chặn và hy vọng. Và còn bao nhiêu nan giải khác về xã hội, giáo dục, y tế,… Là một nhà khoa học, nhất là khoa học xây dựng Đảng, lẽ ra Giáo sư Hoàng phải cảnh báo cho Đảng để có sự điều chỉnh về đường lối chính sách; còn đối với những tiếng nói đối lập, phải đối thoại cởi mở trên cơ sở chân lý và đạo lý; nhưng qua bài trên, tôi thấy Giáo sư chỉ ra sức tô hồng hiện thực và kết tội những người khác ý kiến, như thế còn đâu là “sự thật”, còn đâu là “công lý” với “trách nhiệm” như tiêu đề của bài?

Giáo sư Hoàng khen ngợi thành tựu đổi mới của Đảng. Đồng ý. Nhưng là một bài tranh luận, Giáo sư phải bác bỏ từng luận điểm của đối phương. Khi ông Lê Hiếu Đằng nêu những cái phi lý, bất cập, tội lỗi của chính thể hiện nay, lẽ ra Giáo sư phải bác bỏ từng điểm một mới phải, chứ sao lại lấy cái hay để thay thế cho cái dở? Làm cho “Ông nói gà, bà nói vịt”, chẳng ăn nhập gì cả. Công là công, tội là tội, làm sao lấy công thay cho tội được?

Bây giờ tôi xin tập trung phân tích hai ý chính trong của Giáo sư Hoàng Chí Bảo:

- Ca ngợi công lao của Đảng, chủ yếu là giai đoạn từ phát động “đổi mới” đến nay.

- Coi sự độc quyền lãnh đạo của Đảng là hợp lý, hợp tình.

Về ý thứ nhất, khi Giáo sư Hoàng ca ngợi công lao của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước (từ cuối 1986, khi chấp nhận kinh tế thị trường, kinh tế tư bản, tư nhân) không phải là sai nhưng coi đấy là tất cả do “thiên tài Đảng ta” thì thật không khách quan, không vô tư. Cuộc “đổi mới” này, nói cho công bằng, là cuộc gỡ bớt (bớt thôi chứ không hết) những cái ách phi lý đè nặng bấy nhiêu năm. So với trước đó (kinh tế tập thể, tập trung, cấm tiệt kinh tế tư nhân, tư bản) thì đúng là mới. So với Bắc Triều Tiên và Cu Ba, hai quốc gia kiên định giữ nguyên mô hình CNXH, thì bước đi của Đảng Cộng sản Việt Nam là rất mới, rất táo bạo. Nhưng so với Đảng Cộng sản Trung Quốc (tiến hành cải cách mở cửa từ năm 1978), thì ta cũng bình thường thôi (chậm hơn Trung Quốc gần một thập kỷ và tốc độ cũng chậm hơn nhiều). Còn so với sự đòi hỏi của thực tiễn, so với quy luật chung của cuộc sống, so với con đường của hầu hết các quốc gia trên thế giới đã đi thì sự “đổi mới” của ta chẳng có gì mới, thậm chí là quá chậm. Sự đổi mới ấy chẳng qua là quay về với cái cũ (ở Việt Nam thời Pháp thuộc đã có kinh tế tư bản không đến nỗi nhỏ). Kinh tế thị trường (tư bản) đã ra đời ở Âu – Mỹ, Nhật Bản hàng trăm năm trước. Và thị trường của họ ngày nay đã tiến tới sự hoàn thiện dưới sự điều hành, giám sát của nhà nước pháp quyền, của xã hội dân sự (trong đó đặc biệt là vai trò của nghiệp đoàn, của tự do ngôn luận, tự do báo chí), chứ không phải thị trường hoang dã, méo mó như Việt Nam hiện nay.

Tất nhiên là khi gỡ bớt những cái ách trên thì nhân dân phấn khởi, sức lao động và sức sáng tạo bao nhiêu năm bị kiềm toả bỗng nhiên được giải phóng. Lại thêm tư bản nước ngoài vào đầu tư, tất cả đã khiến kinh tế Việt Nam khởi sắc hẳn lên. Tức là kinh tế bước đầu được vận hành theo quy luật. Cứ nhìn vào hình ảnh người nông dân trên đồng ruộng khi vừa mới có chính sách chia ruộng những năm cuối thập niên tám mươi, đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước so với giai đoạn hợp tác xã trước đó thì đủ biết. Thời hợp tác xã, người ta đệm cho cày nông choèn, rồi cày một đường lại bỏ “lỏi” nửa đường là chuyện thường. Việc bừa cũng tương tự như vậy. Nhưng đến lúc chia ruộng, bà con làm ruộng nhuyễn như nồi cháo nấu kĩ. Rồi bao nhiêu phân gio được chiu chắt, chăm bẵm,… do đó lúa tốt hẳn lên chứ không “chó chạy hở đuôi” như thời hợp tác xã. Trời còn mờ tối, bà con đã lục tục ra đồng, tối nhọ mặt vẫn chưa chịu về, khác hẳn thời hợp tác xã, mặt trời còn con sào mới gọi nhau xuống đồng, lại còn giải lao giữa giờ, trà thuốc chán chê, cho đến khi mặt trời sắp lặn mới xuống làm tượng trưng một chút nữa rồi về.

Viết đến đây tôi muốn muốn minh hoạ thêm bằng một ý của Mạc Ngôn (nhà văn Trung Quốc, giải Nobel 2012). Năm 1993, Mạc Ngôn qua thăm một thành phố vùng biên giới Nga – Trung. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy cùng thảo nguyên ấy, bên Nga đất đai hết sức phì nhiêu và rộng rãi so với Trung Quốc, nhưng dân Nga lại nghèo khổ hơn hẳn dân Trung Quốc (lúc ấy Trung Quốc đã cải cách được 15 năm, còn Nga vừa mới tan rã đế chế Xô Viết). Mạc Ngôn nhận định: “Người dân dưới bất kỳ chế độ xã hội nào đều là một quần thể cần lao, dũng cảm, giàu sức sáng tạo nhất. Chỉ cần nới lỏng một chút bàn tay xiết trên cổ họ, để họ có thể hít thở được, chỉ cần nới lỏng một chút cái sợi dây xiềng xích giữ tay và chân họ, để họ có thể lao động được, họ có thể sáng tạo ra cả một nền văn hoá rực rỡ và những của cải lớn lao[1].

Dẫu sao thì dân ta hiện nay cũng “vênh mặt” được với Bắc Triều Tiên và Cu Ba. Nhưng so với Nhật Bản, Hàn Quốc, những nước cho đến tận đầu thế kỷ XIX chỉ tương đương mình như, thì mình thật đau xót; còn so với những nước lân bang như Thái Lan, Singapore, cho đến tận đầu thế kỷ XIX, vẫn còn là “đàn em” của ta, thì thật hổ thẹn.

Và đúng là cuộc đổi mới đã giúp Đảng Cộng sản thoát hiểm như nhận định của Giáo sư Hoàng Chí Bảo. Nhưng cuộc thoát hiểm đó mang tính chất tình huống, tạm thời. Bởi vì chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kinh tế là cơ sở hạ tầng, quyết định kiến trúc thượng tầng, tức hình thái nhà nước;  và kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng. Lực lượng sản xuất phát triển đến độ như bây giờ thực sự đã mâu thuẫn gay gắt với kiến trúc thượng tầng. Kinh tế thị trường do không đi đôi với nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự đã dẫn đến những nhóm lợi ích, những sự cạnh tranh mang tính maphia,… Và đặc biệt là tình trạng tham nhũng vô phương cứu chữa. Càng duy trì tình trạng này sẽ càng tiếp tục khủng hoảng, cả kinh tế và chính trị. Chính nó đe doạ sự tồn vong của Đảng, chứ không phải “các thế lực thù địch”.

Về ý thứ hai, Giáo sư Hoàng nêu: “Dân ủy thác cho Đảng trọng trách. Sứ mệnh, địa vị và trọng trách của Đảng là sự lựa chọn của dân, là sự tin cậy mà dân dành cho Đảng…”. Thế nhưng giáo sư lại không biện luận, không chứng minh được điều này. Thử hỏi, dân uỷ thác cho Đảng bao giờ, dưới hình thức nào? Đã gọi là uỷ thác thì phải qua một hình thức “khế ước” như qua hiến pháp, qua các bộ luật, qua việc bầu cử tự do. Hiến pháp hiện hành có ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” (Điều 4) nhưng nhân dân chưa bao giờ được phúc quyết điều này. Tất cả các chức danh lãnh đạo của Đảng hoàn toàn do Đảng bầu, Đảng cử chứ dân không có quyền gì. Giáo sư lý giải thế nào hình ảnh một xã hội được gọi là dân chủ nhưng người đại diện cho mình, thực thi những quyền lợi của mình, quyết định số phận của mình, lại không phải do mình bầu lên?

Giáo sư viết tiếp: “Phản ứng và thái độ của cá nhân là quyền của mỗi người, nhưng quyền ấy phải thuận theo đạo lý và luật pháp”. Không hiểu đó là đạo lý gì và luật pháp nào? Ở dưới, Giáo sư có giải thích nhưng cũng chẳng sáng tỏ gì hơn: “Đó là lẽ phảiđạo lý ở đời và làm người mà Bác Hồ gọi là Thân dânChính tâm. Với những đảng viên của Đảng Cộng sản, đòi hỏi này càng cần phải tôn trọng nghiêm ngặt hơn bởi sự dẫn dắt của lý trí tỉnh táo, sáng suốtthái độ chính trị nghiêm túc, biết tự mình trung thành với lý tưởng và nguyên tắc, cùng với giữ trọn đạo làm người cách mạng” (nhấn mạnh của ĐTT). Thật quá nhiều ngôn từ to tát nhưng lại không nói được điều gì. Thử hỏi ông Lê Hiếu Đằng, ông Hồ Ngọc Nhuận,… vi phạm đạo lýlẽ phải ở chỗ nào? Không thân dân, không chính tâm, không tỉnh táo,… ở chỗ nào?

Lại nữa, Giáo sư viết: “Khi đã giác ngộ chân lý thì phải phục tùng chân lý”. Không hiểu Giáo sư nói chân lý nào đây? Sống dưới chế độ Sài Gòn, ông Lê Hiếu Đằng thấy không có tự do, độc lập; Đảng nêu cao tự do, độc lập, ông thấy đấy là chân lý nên đi theo. Nay ông Lê Hiếu Đằng thấy Đảng không coi trọng tự do, độc lập nữa, ông muốn thành lập một đảng khác để thực thi tự do, độc lập, thì đó cũng là chân lý. Chân lý là quá trình nhận thức, quá trình tìm kiếm không ngừng chứ đâu phải là cái gì bất biến.

Phần cuối, Giáo sư Hoàng vô tình hay hữu ý đã đánh tráo khái niệm khi ông bàn sang vấn đề đa đảng ở các nước tư bản (dân chủ): “Có một thực tế lịch sử hiển nhiên cũng cần được làm rõ, trong các nước tư bản chủ nghĩa, dù tồn tại đa đảng và các đảng đối lập, nhưng vẫn định hình một đảng cầm quyền. Chính trường ở đó thường xuyên diễn ra các cuộc tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị tư sản. Họ chỉ đa nguyên, đa đảng trên hình thức, còn trên thực tế đều tỏ rõ sự nhất nguyên, bởi đảng chính trị tư sản nào cũng không bao giờ xa rời mục đích bảo vệ cho quyền thống trị và sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản”.

Đúng là trong chính thể đa đảng của các nước dân chủ luôn diễn ra cuộc tranh giành và tất nhiên rốt cuộc có một đảng thắng và lên cầm quyền. Nhưng sự cầm quyền ấy khác hẳn sự độc quyền của đảng cộng sản ở các nước cộng sản. Trước hết sự cầm quyền của họ là do nhân dân quyết định (phải thắng phiếu trong bầu cử); thứ hai, khi cầm quyền, họ buộc phải thực thi pháp luật và thực thi những điều đã cam kết; nếu không làm được, sẽ bị nhân dân phế truất bằng nhiều cách khác nhau.

Chưa kể, đảng cầm quyền luôn đối mặt với đảng đối lập, với xã hội dân sự, với tự do ngôn luận và báo chí, do đó luôn luôn bị chỉ trích nếu có khuyết điểm. Vì vậy đảng cầm quyền khó có cơ hội chỉ vơ vén cho quyền lợi ích kỷ của mình. Tuy vậy, một đảng cầm quyền lâu ngày vẫn thường dẫn đến tha hoá. Do đó như ta thấy ở Mỹ và một số nước, mỗi đảng (cũng như tổng thống) giỏi lắm chỉ cầm quyền được hai nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ hai thường là đuối sức, nhiều tổng thống buộc phải từ chức giữa nhiệm kỳ. Nền chính trị dân chủ của họ do đó luôn luôn được “thay máu”, có lẽ vì thế mà chế độ tư bản “giãy” mãi mà không “chết”!

Giáo sư Hoàng cũng lặp lại một điều mà các đồng nghiệp của ông ai cũng bám lấy: “Không phải cứ đa nguyên đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ”. Đúng. Không phải cứ đa nguyên đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ. Cũng như không phải cứ ăn chất đạm thì khoẻ mạnh, cứ dùng thuốc thì chữa được bệnh. Nhưng muốn khoẻ mạnh thì không thể từ chối ăn chất đạm, muốn chữa được bệnh thì không thể không dùng thuốc. Cho nên cái mệnh đề trên của Giáo sư Hoàng và một loạt giáo sư Mác – Lê-nin khác chả có gì đứng vững. Nhưng điều này thì có: Không phải cứ đa nguyên đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ nhưng muốn xây dựng xã hội dân chủ, không thể không đa nguyên, đa đảng. Điều này thực tế đã chứng minh: chưa hề có nước nào độc đảng mà có dân chủ, nhưng nhiều nước đa nguyên đa đảng thì đã có dân chủ, ít nhất cũng dân chủ hơn các nước độc đảng. Tại sao ta không đi con đường mà thế giới đã đi, cứ nhất nhất đi con đường riêng chưa ai đi, và con đường riêng ấy luôn luôn phải loay hoay, chật vật? Và thỉnh thoảng, ở tình huống bế tắc quá thì lại làm cú “phá rào” để thoát hiểm?

Cuối cùng, Giáo sư Hoàng lại quay về với Điều 4 Hiến pháp để bảo vệ sự độc quyền của Đảng: “Điều 4 trong Hiến pháp đã khẳng định về vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng. Đó là ý chí của dân, nguyện vọng của dân, đạt được sự đồng thuận rất lớn của xã hội. Đảng ta trong nhận thức và đánh giá của dân, có đầy đủ tính chính đáng pháp lý và sự xứng đáng về phẩm giá và uy tín của một Đảng lãnh đạo và cầm quyền”.

Sao Giáo sư lại dùng Điều 4 Hiến pháp thay cho lập luận? Lẽ ra Giáo sư phải làm ngược lại: dùng lập luận để biện giải, chứng minh cho sự đúng đắn của Điều 4. Dựa vào đâu mà Giáo sư bảo Điều 4 là “ý chí của dân”? Đã bao giờ Hiến pháp được phúc quyết chưa? Đã bao giờ Điều 4 được đem ra trưng cầu dân ý chưa?

Mấy năm trước, tôi thấy một số chuyên gia Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương lo lắng không biết nên “diễn giải” như thế nào về Đảng bây giờ. Trong tình hình hiện nay, vấn đề có lẽ càng cấp bách hơn. Người như Giáo sư Hoàng, lẽ ra có nhiệm vụ biện giải để làm sao sáng ngời tính chính danh của Đảng (chứ không phải càng nói càng hỏng). Hoặc là phải tham mưu cho Đảng, làm sao có đủ chính danh. Và nhất là làm sao “thay máu” để Đảng lành mạnh trở lại, chứ không phải nói lấy được những điều trên.

Một người “gác cổng” lâu năm cho Đảng về mặt lý luận lại có học hàm giáo sư, tôi thật buồn khi thấy bài của Giáo sư Hoàng chỉ ở tầm “dư luận viên” mà thôi. Thực tình tôi nghĩ không phải trình độ Giáo sư Hoàng Chí Bảo như vậy. Vì tôi đã từng nghe Giáo sư Hoàng giảng về Nghị quyết Trung ương IV khá hay. Lần giảng về NQ Trung ương IV đó, cách đây chưa lâu, Giáo sư đã phân tích nguyên nhân thoái hoá chính là từ trong Đảng (do tham nhũng, lộng quyền, dối trá,… mà ra chứ không phải do “thế lực thù địch” dùng thủ đoạn “diễn biến hoà bình” nào cả). Vậy bây giờ có lẽ do Giáo sư không nói thật, không căn cứ vào sự thật, cho nên gần như chẳng biện bác được gì ngoài những khẩu hiệu khô cứng. Thiết nghĩ bảo vệ Đảng như thế thật hoá ra hại Đảng. Như cụ Nguyễn Du đã viết: Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.

Đ.T.T.



[1] Tạp văn Mạc Ngôn, Nhà xuất bản Văn học, 2005.
-->đọc tiếp...

Trung Nghĩa: THƯA NGÀI! NGÀI NÓI KHÔNG KHÁC GÌ MỘT CON VẸT

Thưa ngài GSTS Hoàng Chí Bảo, 
ngài nói không khác gì một con vẹt
Trung Nghĩa

Ông Hoàng Chí Bảo
Thưa ngài Giáo sư Hoàng Chí Bảo!

Đúng như tôi dự đoán, trong luồng tư tưởng hoảng loạn về phương pháp nhồi sọ, tuyên truyền cho dân chúng thì sẽ phải xuất hiện một cây “đại thụ” về bằng cấp học hàm học vị, “uyên bác” về lý luận triết học Marx/lý tưởng XHCN lên tiếng, sau bài viết tạo ra những dư chấn dữ dội của một ông già bên giường bệnh- luật gia Lê Hiếu Đằng. Cây đại thụ đó không ai khác hơn là ngài giáo sư tiến sĩ triết học Hoàng Chí Bảo với bài viết thứ 5 có tên “Trọng sự thật và chân lý  để hành động có trách nhiệm[1] trong loạt bài “Dư luận phê phán ông Lê Hiếu Đằng”. Thế nhưng có lẽ nó quá khôi hài nên hôm nay, bài viết của ngài giáo sư phải để trong mục “làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình”; toàn bài viết, tư tưởng bao trùm là định hướng dư luận hơn là công kích cá nhân luật gia Lê Hiếu Đằng.

Ngay tựa bài viết ngài đã đề cập hai khái niệm là sự thậtchân lý, vậy theo ngài sự thật là gì, chân lý là gì?
Theo Wikipedia thì

- Sự thật: Cái có thật có trong thực tế, cái phản ánh đúng hiện thực khách quan.

- Chân lý: sự phản ánh chính xác sự vật khách quan và quy luật của chúng vào ý thức con người

Cả bài viết của ngài cũng không tôn trọng hai tiêu chí trên. Tôi tin rằng chính ngài cũng chưa nắm vững khái niệm mà ngài đưa ra; vì thế việc dùng một khái niệm- mà bản thân ngài chưa nắm rõ chính xác và nhuần nhuyễn trong việc sử dụng cho đúng hoàn cảnh- đem ra rao giảng cho người khác, đó là sự ngạo mạn và lố bịch.

Tôi sẽ không bàn về hai khái niệm đó nữa mà sẽ đi vào chứng minh những mảng khái niệm nó nằm trong “gan ruột của ngài”, là cái cần câu cơm, là cái ngài dùng nó để phô diễn, để lấy bằng tiến sĩ và hành nghề liên tục trong nhiều chục năm, giúp ngài lên học hàm giáo sư. Việc nói lại câu chữ và cách diễn đạt của ai đó mà không có chút tư duy nào trong đó người ta bảo rằng “nói như vẹt”. Nó không khác gì hình ảnh một con bò già, nhẫn nại nhai đi nhai lại cỏ khô, nôn ói ra rồi lại nhai và nuốt vào trong một ngăn của dạ dầy cỏ, khi không có thêm nguồn thức ăn mới, con bò già này lại nôn ói ra và lại tiếp tục nhai.

Triết học Marx luôn tung hê rằng lấy tư tưởng và nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng làm nền tảng nhưng để Marx đã vận dụng sai lầm trong tư tưởng của mình. Một vài điểm chí mạng mà bất kỳ ai có một khả năng tư duy bình thường cũng thấy cái sai bét nhè của học thuyết Marx. Mời ngài xem lại bài viết [2] mà tôi đã trình bày.

Tuy nhiên để cho dễ hiểu, dễ đánh giá tôi xin ngài hãy trả lời nhưng câu hỏi sau đây.

Học thuyết Marx cho rằng, chủ nghĩa tư bản bóc lột sức lao động của người công nhân khi chiếm đoạt giá trị thặng dư. Marx không hiểu hay cố tình không hiểu:

- Cái giá trị mà Marx gọi giá trị thặng dư đó chính là do quy luật cung cầu tạo nên (một sự khác biệt thường tồn tại là giá của một mặt hàng tại một thị trường A sẽ khác cũng mặt hàng đó tại thị trường B). Khi các nhà tư bản thực hiện việc buôn bán và họ có được sự khác biệt giữa hai thị trường. Ở một khía cạnh khác, lợi dụng ưu thế của sự khác biệt giữa thị trường lao động và thị trường giá cả cho bất kỳ mặt hàng nào đó mà nhà tư bản lên kế hoạch sản xuất. Nói một cách khác, giá trị thặng dư do chính nhà tư bản tạo ra. Thông qua việc tạo ra giá trị chênh lệch, họ cũng góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Câu hỏi: hiện nay nhà nước đang khuyến khích cá cá nhân tập thể xuất khẩu các mặt hàng trong nước để tăng lợi nhuận, cả nhà nước cũng tham gia vào việc xuất nhập khẩu, vậy nhà nước VN đang khuyến khích và tham gia sự bóc lột tư bản hay sao?

- Marx thừa nhận tầng lớp tư bản là tầng lớp cách mạng nhất trong lịch sử, bởi họ thưởng xuyên cải tiến công cụ sản xuất, thế nhưng Marx lại không công nhận việc cải tiến công cụ lao động là hàng hóa hay phương tiện sinh ra giá trị thặng dư. Vì thế Marx cào bằng quân số lao động và lấy giá trị bình quân trong khi máy móc và những cải tiến (cũng là phương tiện sản xuất) lại không thuộc về người công nhân. Marx đã sai khi nói, người công nhân bán sức lao động. Họ không bán sức lao động mà bán khả năng làm việc, vì thế giá cả do hai bên thoả thuận, không thể cào bằng lương của một người chỉ có khả năng lao động chân tay với lương của một kỹ sư có khả năng làm việc bằng bộ óc.

Câu hỏi: theo kiểu tính toán của Marx, liệu ngài có nên nhận một mức thù lao/lương như một cán bộ không có bằng cấp nhưng có thâm niên lao động giống như ngài? Nếu ngài trả lời là không thì chính ngài đã phủ nhận học thuyết của Marx.

- Marx gọi giá trị thặng dư chính là khoản chênh lệnh giữa chi phí đầu vào và thu nhập đầu ra khi bán sản phẩm, với một nguyên tắc chung chi phí sẽ luôn thấp hơn khoản thu vào vì giá trị thặng dư phải luôn là con số dương có ý nghĩa.

Câu hỏi: hiện nay chế độ XH Việt Nam tốt đẹp, tại sao người nông dân lại bị lỗ khi trồng lúa? Nói rộng ra, thu nhập bình quân đầu người của VN tính tới cuối năm 2012 là 1600USD/người/năm, trong khi đó chi phí cho nhu cầu tối thiều (ăn, ở, khám chữa bệnh, nhu cầu giải trí,…) là khoảng 2400USD người/năm (trung bình khoảng 4 triệu/tháng). Vậy giá trị thặng dư đi đâu? Nói một cách khác, người dân ngày càng lỗ vốn sức lao động của mình, nếu không muốn bị thâm hụt thì chỉ còn một cách là sống dưới mức tối thiểu hoặc phải đi ăn cướp của người khác để không bị chết đói. Đó là chưa kể họ bị cướp đoạt đất canh tác bằng những chính sách do nhà nước này lập ra dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.

Nếu không có giá trị thặng dư thì tất cả những lời phát biểu của ngài với những ngôn từ hay ho, đẹp đẽ như: sức mạnh thúc đẩy đổi mới, làm nên sức sống của đổi mới, thành tựu phát triển đất nước như hiện nay, “Công cuộc đổi mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đáp ứng kịp thời những mong đợi của quần chúng nhân dân và nhận được sự ủng hộ, cổ vũ của đông đảo bạn bè, đối tác trên thế giới”, “chế độ sẽ vững và dân sẽ được hưởng Độc lập – Tự do và Hạnh phúc”,….hoàn toàn là dối trái và sai trái.

Sự phá sản và ngưng hoạt động của hàng chục nghìn doanh nghiệp cũng đủ cho thấy, nền kinh tế VN đang thoi thóp những hơi tàn sức kiệt của một cơ thể ốm đói lâu ngày. Dân không no ấm hạnh phúc, chứng tỏ cái thể chế chính trị này là kém cỏi, Đảng không đủ khả năng lãnh đạo nhân dân, con đườngxây dựng theo mô hình XHCN là sai trái, không đem lại cuộc sống ấm no cho người dân. Vậy thì những kết luận như “Ý Đảng – Lòng dân”, “quyết sách đúng đắn, kịp thời của Đảng”, “Công cuộc đổi mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đáp ứng kịp thời những mong đợi của quần chúng nhân dân”, “Nhờ đổi mới với những quyết sách chiến lược của Đảng, qua cương lĩnh, chiến lược, đường lối đã và đang thực thi mà đất nước đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội”,….là dối trá và lừa đảo.

Trong bài viết, ngài đề cập tới một ý sai sự thật là “Nhân dân ủng hộ đổi mới, tin tưởng vào Đảng của mình…Nhân dân chưa bao giờ bầu cho đảng Cộng Sản, đảng Cộng Sản không phải của nhân dân, không bao giờ đại diện cho đa số tầng lớp nhân dân lao động VN vì đảng chỉ chiếm khoảng 4 triệu đảng viên trong số 92 triệu dân.

Chủ nghĩa Marx công nhận và vận dụng một quy luật nữa của chủ nghĩa duy vật biện chứng đó là “quy luật phủ định của phủ định”. Không có một thứ gì bất biến và cũng không có một đảng phái nào dám tuyên bố sẽ lãnh đạo mãi mãi dân tộc VN được. Sự phủ định nhau của các triều đại chính trị trong lịch sử VN đã thể hiện rõ điều đó

Nếu vận dụng vào hình thái kinh tế xã hội thì những mô hình xã hội ra đời sau đó luôn tốt hơn, văn mình hơn và ưu việt hơn mô hình chính trị xã hội trước đó. Trải qua lịch sử phát triển của nhân loại, con người trải qua 4 hình thái chính trị xã hội đã được thừa nhận:

-  Cộng sản nguyên thủy
-  Chiếm hữu nô lệ
-  Phong kiến
-  Tư bản chủ nghĩa

Marx cho rằng chế độ TBCN là xấu xa, không tốt đẹp nên Marx đưa ra chủ thuyết, bỏ qua giai đoạn TBCN, rồi “nặn” ra một thể chế xã hội tốt đẹp hơn đó là chủ nghĩa cộng sản (tài sản cộng lại, dùng chung với nhau, không còn giai cấp, không có bóc lột, mọi mâu thuẫn bị triệt tiêu).

Câu hỏi: bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng có hai mặt là thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, vậy Chủ nghĩa cộng sản đã vi phạm nguyên tắc thứ nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có phải thế không thưa ngài giáo sư tiến sĩ, UV ban tư tưởng văn hóa trung ương?

Câu hỏi (tiếp theo): Nếu quay trở về chế độ chủ nghĩa cộng sản thì có phải chế độ cộng sản đã phủ định chế độ TBCN hay nói một cách khác, Marx đã sai lầm khi quay trở về điểm xuất phát rồi sao?

Có thể các ngài sẽ “chế biến” rất tài bằng cách thêm cái đuôi “khoa học” vào Chủ nghĩa cộng sản để trở thành CNCS khoa học; Theo ngài, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa cộng sản khoa học khác nhau ra sao? Nó cũng giống như chỉ riêng ở xã hội Việt Nam mới có, học vị tiến sĩ và tiến sĩ khoa học vậy. Như thế

Câu hỏi (của tôi sẽ là): để có được nền tảng và của cải đầy đủ cho cái xã hội cộng sản khoa học kia vận hành thì làm sao để tích lũy cho đủ nhằm đáp ứng nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”?

Nếu các ngài bảo rằng việc tích lũy sẽ ở giai đoạn quá độ là XHCN, thế nhưng như phân tích ở trên, cái xã hội chủ nghĩa mà các ngài đang “từng bước tiến vững chắc” ấy, sức lao động còn đang bị lỗ vốn thì tích lũy làm sao?

Một chủ thuyết mơ hồ, viễn vông đã bị bao nhiêu nước rũ bỏ, kẻ nào bám vào nó, kẻ đó có tư duy ấu trĩ, còn những kẻ biết nó sai trái cố tình bám vào nhằm trục lợi cho phe nhóm và bản thân, thì đó chính là kẻ thù của nhân loại tiến bộ, là kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết của ngài, ngài đề cập tới ông Hồ Chí Minh. Ngài còn có hẳn những đoạn băng video clip trên Youtube để quảng bá “tài năng thuyết giảng” của ngài nữa. Tôi có thể nói rằng, cũng hiếm ban bệ, cơ quan nào giỏi nhào nặn ngôn ngữ, xào nấu khái niệm bằng ban tư tưởng văn hóa trung ương thông qua những vị giáo sư, tiến sĩ triết học mà ngài là một trong số đó. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đến thuộc lòng khẩu hiệu “…chủ nghĩa Marx-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động”. Theo những gì tôi biết, cái câu thòng thêm vào “tư tưởng Hồ Chí Minh” nó mới có khoảng vào năm 1991, còn trước đó là không có. Đây chỉ cáh thức tuyên truyền mà thôi vì lý do sau đây:

- Ông Hồ Chí Minh chẳng có cái tư tưởng gì cả. Sinh thời chính ông Hồ đã thừa nhận, “tôi chẳng có tư tưởng gì cả, mọi thứ đã được Marx, Lê nin và Mao nói hết cả rồi”.

- Từ khoảng 1991, khi hô hào đổi mới, do mô hình XHCN đã sụp đổ tan tành tại Liên Xô và Đông Âu, nếu vẫn giương cao học thuyết Marx có lẽ sẽ lỗi thời; thêm vào đó cũng phải có một chút gì đó của là “đặc sản riêng của Việt Nam”, vì vậy các ngài đã nhét chữ vào mồm ông Hồ qua 9 tư tưởng sau (những tư tưởng này khi còn ngồi dưới ghế nhà trường XHCN chúng tôi đã được nhồi sọ hải đọc vanh vách).
1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
2. Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
3. Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. 
4. Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân
5. Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
6. Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
7. Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
8. Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
9. Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Xin ngài hãy đọc lại cho thật kỹ xem, đó có phải là tư tưởng không (ví dụ như tư tưởng 1). Tư tưởng 2, 3,4,5, 8 không phải ông Hồ là người đầu tiên lên tiếng. Việc nhào nặn chữ nghĩa nó chỉ xoay quanh một vấn đề “tiến hành chiến tranh nhân dân”, quan tâm tới nhân dân, giáo dục quốc phòng toàn dân. Điều này đã có từ ngàn xưa, từ thời bà Trưng Bà Triệu, đến thời nhà Trần thì Trần Hưng Đạo đã viết thành sách về chiến lược toàn dân đánh giặc. Sau khi thắng giặc, Vua Trần Nhân Tông định xây dựng sửa sang thành Thăng Long, nhưng Trần Hưng Đạo đã khuyên nhà vua Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp triều đình cần phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc úy lạo nhân dân. Hơn bốn năm, quân giặc hai lần tràn sang đánh phá, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà dân chúng vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lực, đi lính, đóng thuế làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua đã được trở về yên ổn, việc cần làm trước hết là chú ý đến ngay dân. Những nơi nào bị tàn phá, tùy tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế. Nơi nào bị tàn phá quá nặng có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “Chúng chí thành thành”. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay. Xin nhà vua xét kỹ“. Ngài có cần tôi nhắc lại bài viết có ở đâu không thưa ngài Giáo sư tiến sĩ, UV ban tư tưởng văn hóa trung ương Hoàng Chí Bảo? Chẳng những thế, đến thời Lê Lợi, thời Nguyễn Huệ các vị anh hùng dân tộc  đã học hỏi, vận dụng và dẫn dắt nhân dân ta đi tới thắng lợi to lớn, chẳng lẽ ngài đã quên lịch sử Việt Nam rồi sao?

Tư tưởng 7 và 9: không thể gọi là tư tưởng mà là nguyên tắc/tiêu chuẩn của người đảng viên. Chẳng những chỉ đảng viên mới có tiêu chuẩn đó mà bất cứ một người lãnh đạo nào cũng phải được đòi hỏ. Thế nhưng hiện nay, tham nhũng trong nội bộ đảng đã không còn che dấu nổi mà ngài chủ tịch Trương Tấn Sang gọi là một “bầy sâu”. Ngài nghĩ sao?
Cả một bài viết của ngài, toàn những câu chữ mà chúng tôi đã bị nhồi sọ, đã đọc không biết bao nhiêu lần từ những trang báo như Nhân Dân, QĐND, CAND….Ngài nói có khác gì một con vẹt!

Xin đừng lạm dụng từ Nhân Dân một cách vô lễ và láo xược. Những điều ngài viết chỉ là ngôn từ của ngài và đảng phái của ngài mà thôi.

Nếu không thể trả lời được những câu hỏi và thắc mắc ở trên, xin ngài hãy giữ một chút liêm sỉ cuối cùng của một kẻ làm người: hãy im lặng đừng mở miệng nói gì thêm điều gì nữa vì Nhân dân đã quá khổ sơ do bị đảng Cộng Sản lừa dối quá lâu rồi. Ngay cả cái học hàm và học vị của ngài, dân tình chúng tôi cũng đã quá biết nó được ra lò để các ngài ban bổng lộc cho nhau.

Nhân dân chúng tôi và lịch sử của dân tộc này sẽ phán xét các ngài.
T.N
______________

Tài liệu tham khảo


Nguồn: Ba Sàm
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

BÁO QĐND “ĐÓI ĂN VỤNG, TÚNG LÀM LIỀU”?

Thanh Tùng

clip_image002
Ông Lê Hiếu Đằng
Trong những ngày vừa qua, trên các phương tiện truyền thông (từ lề trái, lề phải trong nước cho đến báo chí nước ngoài) đã “dậy sóng” chỉ bởi 7 chữ: “SUY-NGHĨ-TRONG-NHỮNG-NGÀY-NẰM-BỆNH” của ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM. Vậy 7 chữ trên chứa chất những nội dung gì mà có sức kích thích mạnh mẽ khiến dư luận “dậy sóng” lên như vậy, đặc biệt là cây bút “lề phải” có tên Trọng Đức, qua bài viết: "Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh"”, đăng trên qdnd.vn ngày 18/08/2013. Chưa dừng đó, ngày 20/08/2013, qdnd.vn lại tiếp tục đăng bài: “Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch”, với lời dẫn: “Dư luận phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng” lại một lần nữa khiến cho các cây bút phản biện “dậy sóng” trên các diễn đàn uy tín: BVN, basamnews, bolapquechoa, xuandienhannom…

Phải thừa nhận rằng, hầu hết các cây bút như Vũ Thị Phương Anh, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Úc), Đỗ Như Ly, nguyenhuuvinh, Trung Nghĩa… đều đưa ra các căn cứ và lập luận bằng những lý lẽ thuyết phục mà khó ai có thể bác bỏ. Tuy nhiên, theo tôi, những tác giả trên đã chưa “khách quan” với qdnd.vn, bởi họ chỉ biết “bóc trần trụi sự thật” đang diễn ra mà qdnd.vn và các tờ báo chính thống không dám đụng tới, mà không nhìn nhận công trạng của qdnd.vn, là đã dũng cảm “tố cáo” thực trạng ngành giáo dục Việt Nam hiện thời.

VÌ SAO TÁC GIẢ TRỌNG ĐỨC “GIÃY NẢY” LÊN THẾ?

Đọc “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” của ông Lê Hiếu Đằng dài khoảng 12 trang đánh máy trên giấy khổ A4, trước hết tôi cảm nhận được một điều rằng: từng từ, ngữ đến câu trong “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” là ông “vắt ra từ máu thịt” của ông – một người phấn đấu cho lý tưởng cộng sản gần hết cả đời người, chứ không phải ông nói khơi khơi theo cảm hứng kiểu nghệ sỹ, nhà thơ, nhà văn.

Ngay những dòng đầu tiên ông ông Lê Hiếu Đằng viết, tôi đã cảm nhận được nhịp đập con tim ông thôi thúc khiến dòng máu trong người ông rần rần chảy theo: “Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trải nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng... Trong lúc nằm bịnh tôi đọc quyển Chuyện nghề của Thủy của đạo diễn Trần Văn Thủy, các truyện của các nhà văn quân đội như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần… đã giục giã tôi viết những dòng này…”. 

Rồi ông viết tiếp: “… Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là CNXH ở miền Bắc, một xã hội không có bóng người… Con đường mà tôi cùng nhiều bạn bè, đồng đội đã lựa chọn, con đường tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng thời trai trẻ và một xã hội công bằng tự do dân chủ. Ở đó con người sống với nhau một cách tử tế, thật sự được giải phóng từ người nô lệ thành người làm chủ của đất nước…” – rõ ràng ông đang trăn trở và đau chung nỗi đau của Dân tộc. Ông cũng rất thành thật rằng, ông cùng nhiều trí thức đi kháng chiến vì lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của ông Hồ Chí Minh, chứ họ ít hoặc chưa biết chủ nghĩa Marx là gì, CNXH ra sao! Nhưng ông Lê Hiếu Đằng cùng đồng đội của ông hy vọng sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, tiến bộ, hạnh phúc mà trong tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946 ông Hồ Chí Minh đã trịnh trọng cam kết trước toàn dân tại Ba Đình lịch sử. Đọc đến đây tôi vẫn chưa hiểu tại sao tác giả Lê Hiếu Đằng lại làm tác giả Trọng Đức giãy nảy lên như thế, bởi ông nói quá đúng với những gì đã và đang diễn ra.

Khi đọc đến những dòng nói về một kỷ niệm khó quên của tác giả Lê Hiếu Đằng, đó là: “… ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi… Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”. Rồi ông Lê Hiếu Đằng viết tiếp: “Sau một thời gian dài Đảng và nhà nước Việt Nam nhận chìm các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam dưới chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả quy luật tự nhiên, cop-py mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao gia đình phải chết tức tưởi trên biển hoặc bị bọn cướp biển hãm hiếp làm nhục trước mặt chồng con. Có thể nói tất cả điều đó là tội ác của Đảng và Nhà nước Việt Nam, không thể nói khác được”. 

Sau khi đọc hết bài của ông Lê Hiếu Đằng, tôi có thể nhận thấy 2 điều cơ bản: một là, ông Lê Hiếu Đằng dám tố cáo, bêu xấu “thiên đường” mà chúng ta đang sống; và hai là, ông Lê Hiếu Đằng dám kêu gọi đa nguyên, đa đảng – điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam không hề muốn và không bao giờ muốn.

Sau khi qdnd.vn đăng tải bài viết của ông Trọng Đức, “Báo chí lề trái” đã không thể kềm chế được không chỉ bởi những lý luận rập khuôn kiểu “nhai đi nhai lại”, thiếu căn cứ thuyết phục và thiếu cả tính logic (mà trong phản biện không thể thiếu), của ông Trọng Đức.

Bài phản biện đầu tiên tôi đọc được là “Đôi điều với tác giả của “đôi điều với tác giả…”, của tác giả Vũ Thị Phương Anh, đăng trên bolapquechoa. Tác giả Vũ Thị Phương Anh đã đưa ra những căn cứ phản biện và lập luận khá thuyết phục, tôi tin là nó đủ sức làm cho hai hàm răng của tác giả Trọng Đức lập cập không thể thốt thành lời, tay run rẩy không thể gõ bàn phím. 

Trong "Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh"”, của tác giả Trọng Đức có đoạn: “Thực tế, với tuổi đời như ông Đằng, chắc ông cũng thừa hiểu, trong thế giới hiện nay, hầu như chẳng có nước nào, kể cả những nước đang tự vỗ ngực là dân chủ và muốn áp đặt kiểu dân chủ của mình làm ‘khuôn vàng, thước ngọc’ cho toàn thế giới, cho phép tù nhân đang thụ án ra tù để đi thi đại học. Ở Việt Nam cũng vậy”. Lập tức, lý lẽ và căn cứ trongTù nhân và tự do học hành” của GS. Nguyễn Văn Tuấn, trên bolapquechoa (nguồn: FB Nguyễn Văn Tuấn), ngày 20/8/2013, Đỗ Như Ly với: Thời nào, chuẩn nào”, nguyenhuuvinh với: “Qua hiện tượng Từ Ngọc Lương: Khốn thay cho nền giáo dục và cơ đồ đất nước”, Trung Nghĩa với: “Báo Quân đội Nhân dân hãy thôi cái trò định hướng dư luận đi!”, như những tia sét bồi thêm một cách trực tiếp vào bộ não và cái miệng của “con vẹt” có tên Trọng Đức, làm cho “con vẹt” ấy đến giờ vẫn chưa thể và chắc chắn là không thể mở được miệng.

GS. Nguyễn Văn Tuấn đưa ra căn cứ rất cụ thể: “Chẳng những tù nhân được theo học đại học, mà Nhà nước và các đại học còn chủ động đem giáo dục đến cho họ. Chẳng hạn như ở bang Nam Úc, Đại học Flinders còn có chương trình dự bị đại học cho những tù nhân chưa có bằng trung học, để trong thời gian thụ án, họ có thể tiếp tục học đại học. Những nước đó (Úc, Anh, Mĩ) không “tự vỗ ngực là dân chủ”. Họ thậm chí còn không có những tiêu đề như “Độc lập, tự do, hạnh phúc” dưới quốc danh. Nhưng họ xem đem giáo dục đến tù nhân (không phải “giáo dục tù nhân” hay “cải tạo tù nhân”) là một vấn đề nhân quyền…”.

Cách giải thích về dân chủ của ông Trọng Đức: “Trên thực tế, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ độc đảng hay đa đảng mà nó phụ thuộc vào bản chất chế độ cầm quyền phục vụ giai cấp nào”, đã khiến Gs. Nguyễn Văn Tuấn phải thừa nhận là ông lúng túng vì không biết logic của câu này ra sao. Vì, dân chủ là một hệ thống chính trị mà trong đó sự cạnh tranh quyền lực được diễn ra một cách công minh, là hệ thống chính trị mà người dân cho quyền chọn và truất phế người lãnh đạo và lãnh đạo phải có trách nhiệm với xã hội và người dân. Bởi vì bản chất là cạnh tranh, nên đa đảng là điều tất yếu…

“ĐÓI ĂN VỤNG, TÚNG LÀM LIỀU”!

Khi đăng bài "Đôi điều với tác giả “viết trên giường bệnh"” của tác giả Trọng Đức và bài “Dư luận phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch”, khách quan mà nói, báo QĐND vừa có “công” lại vừa có “tội”.

Thứ nhất, tội của Báo QĐND là: vi phạm Điều 2. Luật Báo chí qui định về việc Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình…”. Lẽ ra, trước khi đăng bài viết “phê phán” của tác giả Trọng Đức và phản hồi của “dư luận” (là 05 vị lên tiếng đều là đảng viên Đảng cộng sản Việt nam), thì Báo QĐND phải đăng hoặc dẫn nguồn bài “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” của ông Lê Hiếu Đằng để rộng đường dư luận. Có nghĩa là, Báo QĐND không chỉ vi phạm Điều 2. Luật Báo chí về Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, mà còn vi phạm nguyên tắc không trung thực, khách quan – những nguyên tắc đạo đức cốt lõi của nhà báo. 

Trong cái gọi là “dư luận lên tiếng phê phán ông Lê Hiếu Đằng” của Báo QĐND chứa chất sự “mờ mờ, ảo ảo” về nhân thân, không đầy đủ thông tin và hình ảnh của nhân vật lên tiếng để thuyết phục người đọc. 

Nếu Báo QĐND đọc được những dòng trên đây rất có thể sẽ phản biện rằng: “chúng tôi tuân thủ Điều 7. Luật Báo chí qui định về Cung cấp thông tin cho báo chí, trong đó đoạn 3 của Điều 7 Luật Báo chí qui định: “Báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên, cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm nghiêm trọng”. 

Xin thưa, Điều 7 Luật Báo chí qui định như thế là để bảo vệ những công dân trung thực và dũng cảm chống tiêu cực, tố cáo bọn quan tham... Còn 05 người lên tiếng “phê phán” ông Lê Hiếu Đằng đều là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó có một “ông tướng”, họ đều nói lên “ý chí của Đảng”, nếu ai đụng đến họ cứ gọi là tù rũ xương, việc gì phải “giấu giấu, giếm giếm” về nhân thân của họ như vậy? Phải chăng, Báo QĐND đang rơi vào tình cảnh “đói ăn vụng, túng làm liều?”.

BÁO QĐND ĐÃ GIÁN TIẾP TỐ CÁO “CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM” CỦA NGÀNH GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN THỜI

Thứ hai, cũng phải khách quan mà ghi công của Báo QĐND là báo này đã có công gián tiếp “tố cáo” chất lượng “sản phẩm” của ngành giáo dục Việt Nam hiện thời qua bài “Dư luận phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch”. 

Trước đây, ông Trần Đăng Thanh - Đại tá - Phó GS.TS. - Nhà giáo ưu tú (công tác ở Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng), khi diễn thuyết về tình hình Biển Đông cho các lãnh đạo Đảng ủy khối, lãnh đạo Đảng, Tuyên giáo, Công tác chính trị, Quản lý sinh viên, Đoàn, Hội Thanh niên các trường Đại học - Cao đẳng Hà Nội, đã tạo nên “cơn lốc” dư luận. Nay, Thiếu tướng - TS. Từ Ngọc Lương - Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Huệ, thạc sĩ Phạm Văn Thiết (TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh); Đỗ Thị Kiều Phương, giảng viên Học viện Tài chính; đảng viên Trần Ngọc Tiến, sinh viên Trường Đại học KHXH và NV TP.HCM trong bài “Dư luận lên tiếng phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch” đều có trình độ cao ngất ngưởng: Phó GS.TS, ThS. giảng viên đại học, thấp nhất cũng là sinh viên đại học, nhưng phát biểu thiếu căn cứ thuyết phục, không logic và lập luận theo kiểu khuôn mẫu từ cái lò “lý luận trung ương”, thậm chí là nói bừa, nói lấy được. 

Xin nêu vài ví dụ: Thiếu tướng, TS. Từ Ngọc Lương (và rất nhiều quan chức) phát biểu: “Nhân dân Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng” – cần phải khẳng định ngay đây là sự mạo danh một cách trơ trẽn và trắng trợn. Nếu như tôi hỏi Thiếu tướng, TS. Từ Ngọc Lương căn cứ vào đâu để nói rằng: “Nhân dân Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng” thì liệu ông có câu trả lời bằng những căn cứ thuyết phục? 

Họ phát biểu “y chang” nhau: “Đâu phải cứ nhiều đảng là có dân chủ” (ông Đào Văn Luật, nguyên Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam phường 12, quận 3, TP Hồ Chí Minh), “Trên thực tế, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng, mà phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền” (ThS. Phạm Văn Thiết, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).  

Điều làm tôi và nhiều người kinh ngạc là lý lẽ của giảng viên Học viện Tài chính Đỗ Thị Kiều Phương: “Không thể có tự do tuyệt đối!”.

Vị giảng viên này lập luận: “…Không ai có thể biện minh cho quyền tự do của mình khi dùng quyền ấy để ảnh hưởng tới quyền tự do của người khác. Nói cách khác, đòi hỏi quyền tự do tuyệt đối, nghĩa là sẽ có sự xâm phạm tới quyền tự do của người khác. Nếu ai cũng đòi quyền tự do ngôn luận theo kiểu thích nói gì thì nói, dẫn tới được “tự do” xúc phạm nhân phẩm người khác, “tự do” phao tin đồn nhảm, làm mất ổn định kinh tế, xã hội, thì hậu quả khôn lường…”. 

Tôi dám khẳng định chắc chắn 100% không có ai lên tiếng “đòi vi phạm pháp luật” cả, họ chỉ đòi cái quyền của họ - quyền công dân - mà được Nhà nước long trọng ghi vào Hiến pháp và Luật, mà chính Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện. Thật sự tôi không thể tưởng tượng được trình độ nhận thức của một giảng viên tầm cỡ Học viện lại không bằng nhận thức của một học sinh phổ thông THCS, thậm chí ở lứa tuổi tiểu học các em đã được gia đình và nhà trường giáo dục về quyền tự do cá nhân của mỗi người mà không ai có quyền xâm phạm. Chẳng lẽ một giảng viên Học viện mà lại không biết là những quyền tự do của công dân Việt Nam đã được Hiến pháp và Luật Việt Nam bảo vệ. Thậm chí Bộ luật Hình sự hiện hành Qui định rất rõ về “Tội vu khống” tại Điều 122 Bộ luật Hình sự hiện hành. Hơn thế nữa, Bộ luật Hình sự còn dành cả một chương: CHƯƠNG XIII CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN”. 

Phải chăng, báo QĐND đăng các bài: "Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh"” “Dư luận lên tiếng phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch” như một thông điệp gián tiếp “tố cáo” chất lượng “sản phẩm” của ngành giáo dục hiện thời?

T.T.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
-->đọc tiếp...