Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoan Trang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoan Trang. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

BẦN TIỆN VỚI PHILIPPINES, BẮC KINH BỎ LỠ CƠ HỘI "QUYỀN LỰC MỀM" Ở ĐNA

Bần tiện với Philippines, Bắc Kinh bỏ lỡ cơ hội "quyền lực mềm" ở Đông Nam Á

Thành phố Tacloban sau trận bão Haiyan - REUTERS /R. Ranoco
Thành phố Tacloban sau trận bão Haiyan - REUTERS /R. Ranoco

Thụy My
 
Lúng túng vì bị chỉ trích do số tiền hỗ trợ thảm hại dành cho nạn nhân bão Haiyan (Hải Yến) ở Philippines, Bắc Kinh mới đây loan báo sẽ tăng thêm viện trợ. Theo các nhà phân tích, cách xử sự này cho thấy những yếu kém của một nền ngoại giao còn hằn vết lịch sử, thiên về khuynh hướng « ăn miếng trả miếng » thay vì quyền lực mềm.  

Trong khi Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc hay Na Uy đều hứa sẽ tặng hàng chục triệu đô la, riêng Anh vừa tuyên bố sẽ viện trợ thêm 48 triệu đô la sau trận bão, Bắc Kinh vào đầu tuần thông báo chỉ giúp Manila có…100.000 đô la ! Bằng đúng số tiền của một nước nghèo và cũng bị ảnh hưởng bão Haiyan như Việt Nam. Trong khi đó một nước châu Á khác cũng thường bị thiên tai là Indonesia hỗ trợ đến một triệu đô la. 

Tạp chí uy tín Time của Mỹ đã phẫn nộ chạy tựa « Nền kinh tế thứ nhì thế giới tống bớt tiền lẻ cho đảo quốc bị bão tàn phá », cho đây là một số tiền « đáng sỉ nhục », đả kích sự « bủn xỉn» của Bắc Kinh. 

Bị kẻ chê người cười, rốt cuộc bốn ngày sau Trung Quốc cũng thông báo sẽ tăng viện trợ lên 10 triệu nhân dân tệ (1,8 triệu đô la) bằng mền, lều bạt và các hiện vật khác. 

Ông Mark Beeson, giáo sư dạy môn chính trị của trường đại học Murdoch ở Perth (Úc) ghi nhận : « Chắc chắn là có những quan chức Trung Quốc, chẳng hạn trong quân đội, không ưa Philippines do tranh chấp lãnh thổ trên biển ». Bãi cạn Scarborough chỉ cách duyên hải Philippines có 200 km đã bị Trung Quốc chiếm năm ngoái, gây căng thẳng trong quan hệ đôi bên. 

Bắc Kinh cải chính mọi liên hệ giữa việc xung đột biển đảo với số tiền viện trợ quá ít ỏi. Nhưng các cư dân mạng có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa không ngần ngại gắn liền hai việc này. Trên mạng Vi Bác, có những ý kiến cho rằng : « Đó là một nước thù địch, chúng ta chẳng nên cho họ một xu nào ». 

Sự thay đổi thái độ của Bắc Kinh cũng do sự tích cực của Hoa Kỳ và Nhật Bản. Hai quốc gia này đều điều quân đội đến những vùng bị bão Haiyan tàn phá. Gần 70 năm sau khi đối đầu tại Philippines trong những trận chiến đẫm máu vào cuối Đệ nhị Thế chiến, nay quân đội Mỹ và Nhật lại tay trong tay hợp sức làm công tác nhân đạo. 

Tờ Global Times, một nhật báo chính thức có khuynh hướng cực đoan, cho rằng Washington và Tokyo « có thể có những mục đích khác phía sau », và tìm cách mở rộng vùng ảnh hưởng.Thậm chí tờ báo này còn đề xuất là Trung Quốc cũng nên gởi chiến hạm đến Philippines « để giúp đỡ » các nạn nhân của trận bão. 

Ông Jim Schoff, chuyên gia Quỹ Carnegie vì hòa bình nhắc nhở : « Người Trung Quốc thích kêu rêu về não trạng chiến tranh lạnh của Hoa Kỳ mỗi khi người Mỹ tìm cách củng cố quan hệ với các đồng minh, trong khi chính Bắc Kinh lại tiếp tục chia châu Á ra thành những vùng ảnh hưởng của mình » - một quan niệm theo ông là « đã lỗi thời ». 

Chuyên gia này nhận định : « Họ đi từ quan niệm Trung Quốc cũng là một đại cường » mạnh ngang với Hoa Kỳ, nhưng « Bắc Kinh hoàn toàn không chứng tỏ được điều đó. Trung Quốc không phải là cột trụ của khu vực. Đó là một thất bại của họ ». 

Theo ông, ngành ngoại giao Trung Quốc « vẫn còn trong tư duy theo kiểu mình cũng là một nước đang phát triển và cũng bị nhiều thiên tai, dẫn đến thái độ bủn xỉn khi viện trợ cho các nước khác ». Dù đã tăng thêm số tiền, nhưng hỗ trợ của Bắc Kinh quá thảm hại so với 85 triệu đô la viện trợ của Anh quốc, 30 triệu đô la của Nhật Bản, thậm chí so với tấm ngân phiếu 2,7 triệu đô la của công ty Thụy Điển Ikea. 

Giáo sư Mark Beeson nhấn mạnh, nếu Bắc Kinh thường thẳng tay đánh vào kinh tế của các đối thủ sau mỗi cuộc khủng hoảng ngoại giao, thì việc chính trị hóa viện trợ nhân đạo lại trở nên phản tác dụng. Ông nói : « Trước những thảm họa như thế, người ta chờ đợi một kiểu tính toán khác, thậm chí không nên tính toán một chút nào ! ». Thái độ tiểu nhân của Bắc Kinh đã gây ra những phản ứng quốc tế bất lợi cho chính họ. 

Đối với nhà nghiên cứu Bạc Trí Dược (Bo Zhiyue) của trường đại học quốc gia Singapore, Trung Quốc đã bỏ lỡ một cơ hội xúc tiến « quyền lực mềm » của mình tại Đông Nam Á. 

Ông giải thích : « Đó là một cơ hội tuyệt vời để chơi cái trò mà người ta gọi là ngoại giao đô la : bạn cho thêm một ít tiền, và sau đó bạn sẽ thấy được những phản hồi tích cực. Ngược lại, nếu bạn chỉ hỗ trợ lấy lệ, cuối cùng bạn sẽ thất bại vì bị coi là vạn bất đắc dĩ mới giúp ». 

Nguồn: RFI.

________________


ĐƯỜNG DÂY NÓNG
Theo Blog Đoan Trang
- Anh Trung ạ? Em Việt đây.
- Biết rồi. Việc gì thế?
- Anh! Thằng Phi láng giềng nhà mình vừa dính quả bão to, chết nhiều quá chời! Thiên hạ đang bảo nhau cứu trợ. Anh tính sao, có cho nó không?
- Cứu trợ hả? Ừ... Thì cho một ít, cũng được.
- Anh định bao nhiêu ạ? để em theo. Thằng này em cũng ghét nó lắm. Nó nâng bi thằng Mỹ, lúc nào cũng vỗ ngực ta đây là nền dân chủ lớn nhất Đông Nam Á. Dân nó theo Thiên Chúa giáo đông lắm. Tới giờ mà nó vẫn còn coi chi bộ đảng mình ở nước nó là quân phiến loạn anh ạ.
- Ừ, thằng ấy cũng man di mọi rợ, ba gai lắm. Nó còn dám tranh cả biển đảo với anh em mình kia kìa, mấy cái chỗ mình định khai thác chung ấy. Mẹ nó! Cậy có Mỹ bảo kê, nhất định bất hợp tác.
- Thế cho nó ít thôi anh nhỉ? Tốn tiền.
- Ờ, để anh xem... độ trên 600.000 là được.
- Chời! Nhiều thế anh? Em đang khó khăn...
- Khó khăn thì mày cho nó độ một phần chỗ ấy thôi không được à? Độ này khó thế cơ à?
- Vâng! Thôi cũng được. Để em cố.

* * *
- Anh Trung à! Ủa sao anh cho nó có 100.000 đô?
- Làm sao? Ít à?
- Hôm qua anh bảo em là anh cho nó 600.000 cơ mà?
- Tao bảo 600.000 là 600.000 tệ chứ đô hồi nào? Cái thằng này...
- Ơ! Thế mà em cứ tưởng...
- 600.000 tệ. Quy ra độ 100.000 đô. Anh bảo rồi, trong lúc chưa tích trữ bằng nhân dân tệ được thì chú phải tập tính toán, quy đổi bằng nhân dân tệ đi, cho nó quen.Bã đậu! Nói mãi, chẳng nhớ gì cả. Thế mày cho nó bao nhiêu?
- Em tưởng anh cho nó 600.000 đô, em cho nó 100.000 đô rồi. Thôi thế cũng được, không nhiều hơn anh.
- Ừ, cũng được, chứ chú mà lại cho nó nhiều hơn anh thì lại thành ra khủng hoảng ngoại giao, bất lợi. Đang cần đoàn kết. Chia rẽ lúc này là rách việc. Mà thật ra là khó cho chú nhiều hơn chứ không phải khó cho anh đâu.
- Dạ vâng, em cũng biết vậy. Em quán triệt. Thế anh nhé. Có gì em gọi lại. Em chào anh.

* * *
- Anh Trung, anh Trung ơi!
- Lại gì nữa?
- Sao anh lại cho thêm nó à? Lần này tăng lên 1,6 triệu đô. À quên, bao nhiêu nhỉ? 10 triệu nhân dân tệ...
- Ừ! Thì sao?
- Chời! Sao anh làm mà chả báo trước em lấy một tiếng, giờ em kẹt quá. Bữa trước anh đưa 100, em cũng đưa 100. Em hỏi lại, anh bảo thôi thế cũng được. Bây giờ anh tăng, không lẽ em không nói năng gì?
- Thế tao làm cái đéo gì cũng phải báo cáo mày à?
- Dạ... không, ý em là...
- Là gì?
- Dạ! Em chỉ định nói là... anh có làm gì thì hướng cho em với. Anh em với nhau, nên thống nhất về đường lối, tránh gây khủng hoảng ngoại giao, bất  lợi...
- Ơ! Anh tưởng chú vẫn chủ trương nhất quán đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ...?

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Đoan Trang: BÁ QUYỀN VĂN HÓA ĐE DỌA VIỆT NAM

Bá quyền văn hóa đe dọa Việt Nam

Đoan Trang 
Theo blog Đoan Trang

Nhìn vào độ chiếm sóng của phim Trung Quốc trên các đài truyền hình ở Việt Nam, nhiều người lo ngại về khả năng Việt Nam bị “đồng hóa” bởi anh bạn láng giềng. Khả năng đó có thật, và nó là biểu hiện của một hình thức bá quyền tinh vi: bá quyền văn hóa - một phần quan trọng trong chính sách bá quyền của nước lớn, một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ.

Diễn viên Trương Quốc Lập trong vai Càn Long (phim "Tể tướng Lưu Gù"), 
Kỷ Hiểu Lam ("Bản lĩnh Kỷ Hiểu Lam") và một loạt phim "giai điệu chủ" khác

Giai điệu chủ

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1987...

Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh - Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị gồm đại diện của tất cả các đơn vị sản xuất truyền hình khắp cả nước. Tại đây, Bộ cảnh báo về xu hướng "giải trí hóa" phim ảnh trên sóng truyền hình, đồng thời đưa ra chính sách mới: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim "giai điệu chủ" nhằm mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới.

Chính sách này phân loại phim truyền hình thành một số thể loại chính, nằm trong một khái niệm chung mà Chủ tịch Giang Trạch Dân gọi là "giai điệu chủ":

• Dòng phim về những đề tài mang tính thực tiễn, ca ngợi người tốt việc tốt - gọi chung là phim "thần tượng tuổi trẻ";
• Dòng phim cổ trang, gồm phim lịch sử ("Tam Quốc Diễn Nghĩa", "Vương triều Ung Chính", "Khang Hy", "Thái Bình Thiên Quốc"…), dã sử ("Tể tướng Lưu Gù", "Hoàn Châu Cách Cách"...)
• Dòng phim gia tộc luân lý ("Mùa quít chín", "Gia tộc Kim Phần"…)
• Dòng phim cách mạng, dựng lại ngữ cảnh thời xưa ("Khát vọng", "Câu chuyện Thượng Hải"…) hoặc tái hiện chân dung những nhân vật nổi tiếng (Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…)
• Dòng phim hình sự, chống tham nhũng ("Xứng danh anh hùng", "Khống chế tuyệt đối"…)

Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng.

Đặc biệt, chúng nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Nhà nước: Tất cả các phim, chỉ trừ dòng hình sự, chống tham nhũng, đều được hỗ trợ xuất khẩu, nhằm mục đích cao nhất là phổ biến "giá trị Trung Hoa" tới các quốc gia trong khu vực.

Trong số những nước mà Trung Quốc hướng tới, Việt Nam nổi lên như một tiền đồn, bởi "đây là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thay vì văn hóa Ấn Độ", như lời tác giả Hạo Kiện viết trong cuốn "Phim truyền hình Trung Quốc - nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu loại hình" (NXB Điện ảnh Trung Quốc, 2008).

Phần lớn các phim "giai điệu chủ" đã được giới thiệu ở Việt Nam, khán giả nước ta chẳng xa lạ gì với chúng. Các phim đều được xuất khấu với giá hết sức ưu đãi sang Việt Nam, thậm chí một số phim cho không (như "Khát vọng", "Tây du ký", "Vương triều Ung Chính") theo thỏa thuận hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước. 

Ồ ạt "xâm lăng văn hóa"

Song song với việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, nhất là phim truyền hình, sang các nước trong khu vực mà đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc cũng tiến hành "Trung Hoa hóa" các sản phẩm của những nước này.

Bất chấp việc giới truyền thông Việt Nam đưa tin đậm về những phim hợp tác giữa hai nước như "Hà Nội Hà Nội" hay "Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong", các bộ phim này chưa bao giờ được ưu tiên chiếu giờ vàng trên sóng truyền hình của bất cứ đài nào ở Trung Quốc. Ví dụ, "Hà Nội Hà Nội" chỉ được phát trên đài tỉnh Quảng Tây, Nam Ninh vào lúc… đêm khuya thanh vắng.

Với nhiều tác phẩm điện ảnh và truyền hình nổi tiếng đến từ các nước khác, Trung Quốc thực hiện làm mờ tính nước ngoài của chúng. "Vua Kungfu" (Forbidden Kingdom) dù là phim của Mỹ và từ đạo diễn đến quay phim, phục trang đều là người Mỹ, nhưng khi đến đại lục, phim mặc nhiên được giới truyền thông nhào nặn thành sản phẩm Trung Hoa.

Lý Mỹ Kỳ (Maggie Q), mẹ là người Việt, cha mang quốc tịch Mỹ, sinh tại Hawaii, nhưng vẫn bị đa số khán giả Trung Quốc nghĩ là người Hoa

Các ngôi sao châu Á của Hollywood cũng bị "Trung Hoa hóa" tương tự. Khán giả Trung Quốc nói riêng và châu Á nói chung dễ lầm tưởng rằng Dương Tử Quỳnh, Maggie Q. (Lý Mỹ Kỳ - mẹ là người Việt Nam) là người đại lục.

Trung Quốc cũng khéo léo lờ đi chuyện quốc tịch của nhiều diễn viên nổi tiếng trong nước họ: Hầu như rất ít người biết rằng ngôi sao Trương Thiết Lâm mang quốc tịch Anh, Tư Cầm Cao Oa là người Thụy Sĩ, Ninh Tĩnh là người Pháp, còn mỹ nhân Chương Tử Di gốc gác Hong Kong.

Lý Mỹ Kỳ (Maggie Q.), mẹ là người Việt, cha quốc tịch Mỹ, sinh tại Hawaii,
nhưng vẫn bị đa số khán giả Trung Quốc nghĩ là người Hoa.

Đằng sau chiến lược xuất khẩu văn hóa của Trung Quốc

Một nước lớn với dân số hùng hậu như Trung Quốc khó mà chấp nhận tầm ảnh hưởng ít ỏi ở thế giới. Và trên con đường "trỗi dậy hòa bình" để trở thành bá quyền ít nhất là trong khu vực, Trung Quốc mau chóng nhận thấy sức mạnh của văn hóa - thứ "quyền lực mềm" đầy quyến rũ.

Chẳng riêng Trung Quốc biết điều đó. Như một nhà nghiên cứu người Hungary, Márkus Péter, đã viết: Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thoạt tiên, khi không có sự khác biệt đáng kể trong kỹ thuật, sức mạnh chân tay - quân sự thô kệch còn chiếm vai trò chế ngự. Thế kỷ 16-19, những mối quan hệ kỹ thuật - kinh tế từng bước chiếm ưu thế. Từ thế kỷ 20, văn hóa và truyền thông bắt đầu lên ngôi.

Bên cạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia sẽ thực hiện cả tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Sau Chiến tranh Lạnh, ở châu Âu, bên cạnh ngoại giao về chính trị và kinh tế, thì ngoại giao văn hóa ngày càng nở rộ, và dần dần sẽ trở thành hình thức bá quyền chủ yếu.

Pháp và Đức là hai quốc gia rất chú trọng tới vấn đề "bá quyền văn hóa" này. Các hoạt động “xuất khẩu văn hóa” của họ được tiến hành mạnh mẽ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó ngay tại Việt Nam: Chương trình hoạt động thường niên của Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace) và Viện Goethe sôi nổi hơn hẳn so với Hội đồng Anh (British Council) hay Viện Cervantes của Tây Ban Nha.

Và đến đây thì chúng ta cũng có thể nhận thấy những hình thức ngoại giao văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành đối với Việt Nam, trong nhiều ví dụ thực tế. Phim truyền hình Trung Quốc chiếm sóng các đài ở Việt Nam, cả trung ương lẫn địa phương. Khán giả thuộc sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam. Các ca sĩ thời thượng rành rẽ về trang phục của đời Thanh và chắc chắn là sẽ không trả lời được câu hỏi vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa ăn mặc như thế nào.

Ngay trong giới trí thức, tâm lý sùng bái văn hóa Trung Hoa đã rất nặng. Một số đông trí thức Việt Nam có thể dễ dàng trích dẫn các điển tích, điển cố của Trung Hoa thay vì của phương Tây hay thậm chí của chính nước mình. Nói tới văn hóa Trung Hoa là nói tới một nền văn học với những tác phẩm vĩ đại, tới triết học thâm sâu, tới sân khấu kinh kịch có sức sống trường tồn, tới điện ảnh với những nhân tài mà ngay cả Hollywood cũng phải kiêng nể.

Điều này không sai, tuy nhiên, cái đáng nói ở đây là nhiều trí thức Việt Nam luôn vị nể quá mức thay vì đặt văn hóa Trung Hoa vào tương quan đúng mực với các nền văn hóa khác trên thế giới - cũng rực rỡ và vĩ đại như thế.

Khái niệm bá quyền văn hóa - tư tưởng mãi tới thập niên 30 của thế kỷ 20 mới ra đời. Trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện bá quyền văn hóa - tư tưởng với láng giềng Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua. Ngày nay, với sự phát triển của truyền thông, dường như cuộc "xâm lăng văn hóa" này diễn ra một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Hai thủ tướng chứng kiến lễ ký các văn kiện quan trọng,gồm cả thỏa thuận thành lập 
Học viện Khổng Tử tại Việt Nam.Ảnh: VGP (bariavungtau.com)

Vấn đề đến từ phía những kẻ bị “xâm lăng”

Bá quyền không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được bá quyền, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần của những kẻ bị bá quyền.
Riêng trên địa hạt văn hóa - tư tưởng, các học giả nghiên cứu về bá quyền văn hóa đều cho rằng bá quyền văn hóa, nếu được thực hiện, không thể thiếu sự đồng thuận một phần hoặc toàn thể của kẻ bị bá quyền.

Như thế, việc Trung Quốc tiến hành bá quyền văn hóa thành công còn phụ thuộc cả vào cách cư xử của nước bị bá quyền, ở đây là Việt Nam.

Điều đó nghĩa là Việt Nam cần có thái độ và ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, nên có sự trao đổi văn hóa song phương với Trung Quốc một cách tương xứng.

Việt Nam có thể thỏa thuận các chương trình trao đổi văn hóa với Trung Quốc, theo đó, đồng thời với việc nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của nước láng giềng, Việt Nam sẽ xuất khẩu văn hóa theo hướng ngược lại, xuất bản sách, tổ chức những ngày văn hóa, tuần văn hóa Việt Nam... tại Trung Quốc.

Theo một thống kê được công bố trên tờ "China Daily", năm 2004, Trung Quốc nhập khẩu 4.000 đầu sách từ Mỹ, nhưng chỉ xuất khẩu 14 đầu sách sang nước này; nhập 2.000 đầu sách từ Anh, nhưng chỉ xuất sang đây 16 đầu sách.

Từ năm 1999 đến năm 2002, hơn 280 đoàn nghệ thuật Nga biểu diễn ở Trung Quốc, trong khi chỉ có 30 đoàn nghệ thuật Trung Quốc sang biểu diễn tại Nga. Giai đoạn 2000-2004, Trung Quốc nhập khẩu trên 4.000 phim và chương trình truyền hình, nhưng xuất khẩu không đáng kể. Dòng phim "giai điệu chủ" hầu hết chỉ tiêu thụ được ở khu vực Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là "tiền đồn".

Đã đành Nga, Mỹ và Anh là ba nước lớn nên Trung Quốc không dễ tiến hành bá quyền văn hóa như với Việt Nam. Nhưng ngay cả một quốc gia nhỏ bé ở Đông Âu là Hungary - diện tích chỉ bằng một phần ba Việt Nam, dân số 10 triệu - thì cũng từng tổ chức Năm Văn hóa Hungary tại Trung Quốc (2007-2008), và dựng tượng đại thi hào dân tộc Petőfi Sándor ở Thượng Hải.

Những thông tin này có gợi cho chúng ta một suy nghĩ gì chăng?

Đoan Trang
*****
Bài đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới, 17/5/2009
http://www.nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1895
  
-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Đoan Trang: ĐỂ TƯỞNG NHỚ ĐẠI TƯỚNG CỦA NHÂN DÂN


Để tưởng nhớ Đại tướng của nhân dân
Đoan Trang 

Mình không có cái may mắn của một số đồng nghiệp được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần, thậm chí bất kỳ lúc nào muốn gặp cụ cũng được (có vài đồng nghiệp tạo cho mình cảm giác như thế). Ấn tượng mạnh về cụ, ở mình, là một lần là vào sinh nhật cụ, 25/8/2008, khi đại diện tỉnh Thanh Hóa tổ chức buổi chúc mừng và dâng tặng Đại tướng trống đồng và kiếm lệnh lưu niệm. Hôm ấy chiều hè, trời Hà Nội nắng to, mấy gian phòng trong ngôi nhà của cụ ở số 30 Hoàng Diệu chật ních quan khách, phóng viên. Đèn flash máy ảnh nháy lia lịa. Mình thấp quá nên không chụp gì được, chỉ toàn thấy gáy và lưng người khác. Khó khăn lắm mình mới thấy Tướng Giáp ngồi bên bàn, đầu tóc bạc trắng, má hóp vào, người như nhỏ bé hẳn đi, xung quanh là bao nhiêu trợ tá, trợ lý… Đại diện Hội này, cơ quan kia đọc diễn văn chúc mừng, cụ ngồi yên lắng nghe. Không hiểu sao lúc đó mình cứ có cảm giác cụ cũng mệt mỏi lắm rồi – trời thì nóng mà nhà thì đông người như thế – nhưng cụ cố gắng chịu đựng, vì lịch sự, cái lịch sự của một người từng thừa hưởng nền giáo dục phương Tây. (Nói thế không có nghĩa là những người không “Tây học” thì không lịch sự, tuy nhiên, hai kiểu khác nhau và mình thích kiểu “Tây” của cụ Giáp).

Nhưng ấn tượng mạnh hơn cả là khi Đại tướng gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (5/1/2009), Hội thảo toàn quốc về dự án khai thác bauxite Tây Nguyên (9/4/2009), Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam (20/5/2009). Ba lần gửi thư cảnh báo về “một vấn đề cực kỳ hệ trọng”, đầu tiên kiến nghị “đánh giá lại” đại dự án, tiếp theo khuyên “không nên khai thác” bauxite ở Tây Nguyên và cuối cùng là đề nghị dừng tất cả các dự án, kể cả khai thác thí điểm – việc làm của Tướng Giáp gợi cho mình nhớ đến những tuồng tích xưa, gắn với hình ảnh những lão tướng râu tóc bạc phơ rập đầu can gián vua đừng làm điều xấu.

Tất nhiên mình không được nhìn tận mắt cảnh Tướng Giáp thảo thư kiến nghị. Thậm chí có người còn cảnh giác, bảo: “Có khi cụ chả viết đâu, lúc ấy thì còn sức đâu mà viết. Chắc thằng nào nó viết, nó ép/lừa cụ ký rồi nó bảo đấy là thư của cụ, mượn oai cụ đấy thôi”. Nhưng mình vẫn hình dung cảnh một lão tướng gần trăm tuổi, nằm trên giường bệnh, thống thiết can “triều đình”, rằng “đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác bauxite sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng”. Hình ảnh ấy thật là bi tráng. Nó đủ xóa hết những “gợn” suy nghĩ tiêu cực về Tướng Giáp, như cụ là người “nhẫn nhục”, “nhu nhược” trước đồng chí của mình hay là “cứng rắn”, “nóng nảy”, “tàn bạo” với quân nhân.

Cũng như là, qua những câu chuyện kể của một vài người thân cận với Tướng Giáp, mình thường hình dung cảnh cụ, trong những năm tháng bị cô lập, vẫn lặng lẽ học, nghiên cứu và suy nghĩ ở ngôi nhà rợp bóng cây bên đường Hoàng Diệu. Không biết xác thực đến đâu, nhưng mình nghe kể có những ngày cụ ở trong tình trạng bị bao vây, phong tỏa về thông tin. Cụ rất khó “được” tiếp xúc với ai, không còn “được” nghe báo cáo thường xuyên, và thời đó cũng chẳng có Internet để cụ tiếp cận thế giới bên ngoài. Nhưng mình hình dung cảnh cụ ngồi nghiêng nghiêng đầu bên một chiếc radio… (có phải thế không?), hay trước chồng báo giấy (lúc đó, không biết cụ còn được “hưởng” chế độ báo chí hàng ngày không?), trước cuốn sổ ghi chép và cây bút… 

Mình chẳng bao giờ thích thứ lịch sử hay báo chí mang đầy màu sắc giai thoại, kiểu “một người bạn tôi kể thế này”, “ông tôi kể thế kia”, “hàng xóm tôi bảo chắc chắn là…”. Nhưng, trong hoàn cảnh Việt Nam, kiểm chứng thông tin mới khó khăn làm sao, và rất nhiều khi, mình chỉ có thể cố sức tưởng tượng, hình dung, đặt mình vào hoàn cảnh nhân vật, hy vọng hiểu được một chút về thời ấy, đời sống ấy, xã hội ấy.

Mình không thần tượng cụ, cũng như chưa từng thần tượng ai trong đời. Nhưng những hình dung về cụ luôn làm mình thấy bùi ngùi, và mình nghĩ rằng, điều tốt nhất chính quyền của những người còn đang sống bây giờ có thể làm lúc này để tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, là hãy quan tâm đến những điều mà sinh thời cụ vẫn trăn trở… mà chắc là những điều ấy, cụ đã ghi lại, cũng như đã viết bài, đã gửi thư… nhiều lắm…

Lễ trao trống đồng và kiếm lệnh mừng sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hà Nội, 
25/8/2008. Ảnh: Đỗ Trường Sơn
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Đoan Trang: CUỘC THẬP TỰ CHINH TUYỆT THỰC CỦA MỘT BLOGGER VIỆT NAM

Cuộc thập tự chinh tuyệt thực của một blogger Việt Nam 
.

Tác giả: Phạm Đoan Trang
Người dịch: Hoàng Kim Phượng
Ngày 4-8-2013

Cuộc đấu tranh trong lao tù của Điếu Cày, vì những bạn tù khác

Khi tôi viết câu chuyện này thì đã là ngày thứ 38 Điếu Cày tuyệt thực. Thông tin về việc blogger nổi tiếng nhất Việt Nam đã từ chối đồ ăn kể từ ngày 20-6 đã rò rỉ từ nhà tù nơi ông bị giam giữ, căn cứ vào một bản án được tạo dựng ra là ông tuyên truyền chống phá Nhà nước. Nhà bất đồng chính kiến 61 tuổi này muốn phản đối việc nhà tù ngược đãi những tù nhân không chịu nhận tội.

Tôi chưa bao giờ gặp Điếu Cày. Khi ông mới bị bắt đi tù vào năm 2008, tôi vẫn là một phóng viên lớn lên trong những năm tháng Việt Nam tăng trưởng mạnh nhờ đổi mới, và tôi hầu như không quan tâm đến chính trị. Điếu Cày thì ở thế hệ đủ già để nhớ về cuộc chiến tranh chống Mỹ và những ngày gian khó tiếp sau đó.

Việc làm của blogger Điếu Cày đã mở ra một cánh  cửa cho tôi. Nó cho thấy blog đáp ứng nhu cầu của độc giả – nhu cầu được có thông tin chân thực, tức là không phải thứ thông tin được định hướng và bóp méo bởi hệ thống báo chí quốc doanh phục vụ lợi ích của chế độ và Đảng  Cộng sản cầm quyền.

Tôi không phải người duy nhất nghĩ như vậy: Cả một thế hệ blogger đã nhìn vào Điếu Cày như một blogger nói lên sự thật trước chính quyền. Những gì tôi biết về ông và kể lại ở dưới đây là tôi được nghe từ các bạn bè của ông.

Tên thật của ông là Nguyễn Văn Hải, nhưng dần dần người ta biết đến ông với tên gọi dân dã là Điếu Cày. Ông lớn lên ở Hải Phòng, thành phố cảng cách Hà Nội khoảng 100 km về phía đông, và ông đi bộ đội, chiến đấu ở Sư đoàn 3 Sao Vàng thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tôi đoán chắc Điếu Cày đang ở trong quân ngũ khi kháng chiến chống Mỹ chưa kết thúc. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông ở tuổi 22-23.

Người lính trẻ hẳn đã thấy đất phương Nam phù hợp với ông hơn. Khi giải ngũ, ông quyết định ở lại miền Nam. Vào những ngày đó người miền Bắc mà đi kinh doanh, buôn bán là chuyện hiếm lắm, nhưng Điếu Cày đã mở quán ở TP.HCM. Ông còn buôn bán thiết bị máy ảnh và cho thuê căn hộ. Ông nhanh chóng khá giả và có quan hệ rộng rãi. Bạn bè của Điếu Cày đánh giá ông là người cởi mở, nhiệt tình, duyên dáng và có sức thu hút, có thể thân thiết gần gũi với giới văn nghệ sĩ, trí thức cũng như tán chuyện với sinh viên hay dân nghèo.

Cho đến năm 2005, buổi bình minh của blog ở Việt Nam. Một dịch vụ mạng xã hội mới, Yahoo 360°, đã mang lại một cảm giác hoàn toàn khác. Lần đầu tiên trong lịch sử, bất kỳ ai có kết nối với Internet đều có thể đăng bài lên một diễn đàn, nơi họ có thể tự do trao đổi quan điểm – một sự tự do chưa từng có. Blog bùng nổ. Cho đến năm 2007, có một số blog bàn về các vấn đề chính trị, đặc biệt chú ý đến căng thẳng đang leo thang giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Điếu Cày nổi lên như là blogger nổi tiếng nhất trong các blogger chính trị. Ông đăng bài và ảnh nói về đời sống người dân. Với một chiếc laptop và máy ảnh, ông đi khắp nơi, trò chuyện với những người nghèo, yếu thế. Ông phỏng vấn nông dân mất đất, phỏng vấn những cô gái làm nghề khâu giày xuất khẩu trong những nhà máy bóc lột, những công nhân sống với mức thu nhập không đầy 4500 VND/ngày. Ông còn điều tra về một thảm hoạ xây dựng, và vạch ra những dấu hiệu tham nhũng mà có thể đã là nguyên nhân đưa đến cái chết của hơn 50 công nhân.

Ông đăng trên blog của mình một câu chuyện đầy châm biếm, kể về vụ ông chống lại một đảng viên cộng sản khi người này muốn lấn chiếm một trong các căn hộ của ông. Đơn khiếu nại của ông bị bác. Tệ hơn nữa, ông bị phạt vì tội “gây rối trật tự công cộng”, và bài viết của ông về công bằng xã hội cũng như hệ thống toà án hủ bại đã đưa đến một kết cục đen tối hơn.

Khi số người đọc blog của ông tăng dần lên cũng là khi Điếu Cày thu hút sự chú ý của nhà nước. Công an đã bắt đầu để mắt đến ông. Điếu Cày không nản lòng. Ông cùng một vài người bạn lập ra Câu lạc bộ Nhà báo Tự do (CLB NBTD) vào tháng 9/2007. Tất nhiên tổ chức này hoàn toàn không được cấp phép và do đó về mặt kỹ thuật là bất hợp pháp.

Ba tháng sau, CLB NBTD đã sẵn sàng, khi mà những cuộc biểu tình chống các yêu sách quá đáng của Trung Quốc trên Biển Đông bắt đầu nổ ra vào ba chủ nhật liên tiếp ở Hà Nội và TP.HCM. Tin ảnh và bài được đăng ra bên ngoài, thông qua báo chí nước ngoài ở Việt Nam. Điếu Cày nổi bật trong các cuộc biểu tình, như là một viên nam châm thu hút những người trẻ tuổi đến gần để nghe ông nói chuyện.

Tại cuộc biểu tình thứ hai vào ngày 16/12, khi những người tham gia đã giải tán, blogger nổi tiếng Điếu Cày bị công an chặn lại. “Này”, một người đi ngang qua, trông thấy thế bèn kêu lên, “Sao bắt người ta?”. “Trộm”, một viên công an đáp. “Buôn ma tuý”, một công an khác nói. Điếu Cày bị thẩm vấn vài giờ, không phải về ma tuý hay trộm cắp gì mà về các cuộc biểu tình, sau đó ông được thả.

Chủ nhật tiếp sau đó, tuần thứ ba biểu tình chống Trung Quốc trái phép, Điếu Cày bị bắt nhanh chóng. Lần này ông bị giữ tới hai ngày và kể từ đó trở đi, bị công an giám sát chặt chẽ. Chính quyền bắt đầu dùng đến kho vũ khí là trấn áp không ra mặt. Công việc làm ăn của Điếu Cày bị “người lạ” phá phách. Khách tìm đến quán café của ông thường bị xua đi chỗ khác, không cho đậu xe. Khách thuê căn hộ của ông cũng bị sách nhiễu, phải đi. Thanh tra vào cuộc, cán bộ đòi Điếu Cày phải trình ra những hợp đồng cho thuê nhà ký từ 10 năm trước đó.

Điếu Cày còn có lần bị tông xe trong một vụ tai nạn đáng ngờ. Ông cũng thường xuyên bị triệu tập lên đồn công an để trả lời thẩm vấn. Có những lần ông bị tra hỏi từ 8h sáng đến khuya về các hoạt động của ông và của bạn bè trong CLB NBTD.

Điếu Cày không chịu nhượng bộ. Trên mạng, ông vẫn tiếp tục ghi lại những câu chuyện kiểu Kafka mà cuộc đời ông đã gặp phải. Rồi vào tháng 3/2008, ông nói với bạn bè (nhưng không báo với công an) rằng ông muốn nghỉ ngơi, và ông trốn khỏi TP.HCM. Việc Điếu Cày biến mất đã đưa đến cả một cuộc săn tìm ông cho đến ngày 19/4, khi ông bị “bắt khẩn cấp” (theo thông tin từ phía công an) tại một quán café Internet ở Đà Lạt, thành phố nằm trên núi, ở phía đông bắc TP.HCM.

Vài ngày sau, ông bị khám nhà. Công an cố tìm bằng chứng về “các hoạt động chống phá Nhà nước” nhưng không tìm được gì.Tuy nhiên, gia đình và bè bạn ông không thở phào được bao lâu. Điếu Cày bị kết tội trốn thuế. Trong khi đang giam giữ ông, thực ra, công an đã gài sẵn một cái bẫy từ nhiều tháng trước đó khi họ ra lệnh cho cơ quan thuế địa phương không nhận tiền thuế nộp quá hạn, từ chủ cho thuê nhà cũng như từ người thuê nhà.

Các luật sư tình nguyện làm đại diện cho Điếu Cày đều không được phép gặp ông, cũng không được biết sớm ngày xét xử ông. Họ không được trưng ra các bằng chứng cho thấy ông đã bị bẫy. Vào tháng 9/2008, blogger chính trị nổi tiếng nhất Việt Nam bị Toà án Nhân dân TP.HCM kết án tù.

Tuy nhiên chính quyền chưa dừng ở đó. Một ngày trước khi Điếu Cày mãn hạn tù 2 năm rưỡi vì tội trốn thuế, một thành viên khác của CLB NBTD, AnhBaSG, cũng bị bắt giam. Lệnh tha Điếu Cày bị huỷ. Ông bị giam tiếp dưới một tội danh mới: “tuyên truyền chống nhà nước”. Mãi cho đến gần hai năm sau đó, vào ngày 24/9/2012, ông mới “được” xét xử cùng với AnhBaSG và thành viên thứ ba của CLB NBTD, Tạ Phong Tần.

Thời gian trước phiên toà, không gian blog ở Việt Nam ì xèo căm phẫn. Hàng nghìn người ký tên vào một “thư ngỏ” trên mạng, gửi Chủ tịch nước, đòi “trả tự do cho Điếu Cày”. Các tổ chức nhân quyền quốc tế cũng gửi đề nghị của họ. Truyền thông của Đảng Cộng sản đánh lại, tấn công cá nhân Điếu Cày và các “blogger chống phá nhà nước” nói chung. Hàng chục blogger đổ về TP.HCM, có người đi tàu 36 tiếng từ Hà Nội vào.

Phiên toà trên danh nghĩa là công khai, như luật pháp Việt Nam đòi hỏi, nhưng phòng xử đầy nghẹt công an. Những người ủng hộ cho bị cáo bị công an đánh rất dữ. Bạn bè, đồng nghiệp và những người yêu mến Điếu Cày tìm cách tham dự phiên toà đều bị chặn và sách nhiễu, áo phông của họ, có dòng chữ “Tự do cho Điếu Cày – Tự do cho người yêu nước” bị lột. Những người chống cự thì bị lôi đến đồn công an khu vực để thẩm vấn. Công an phá sóng điện thoại và quấy nhiễu những người tụ tập gần phiên toà, tịch thu điện thoại cùng máy ảnh của họ. Đến cả vợ cũ và con trai của Điếu Cày cũng không được vào phòng xử.

Một bản án được tuyên chỉ sau ba tiếng. AnhBaSG đã xin nhận tội vì hành vi viết blog và hứa cắt đứt mọi quan hệ với các phần tử phản động. Ông bị án bốn năm tù. Điếu Cày bị kết thêm một án tù 12 năm. Tạ Phong Tần cũng không chịu ăn năn như thế. Bà bị kêu án 10 năm tù.

Ba tháng sau, phiên toà phúc thẩm đã tuyên y án đối với ba blogger. Tuy nhiên, trái ngược với hy vọng của chế độ, bản án không doạ được các nhà bất đồng chính kiến trên mạng của Việt Nam. Cảm xúc chủ đạo được thể hiện trong các diễn đàn trên mạng là giận dữ, ví dụ người ta nói rằng chính quyền phạt tội tự do ngôn luận còn nặng hơn tội giết người.

Các hình phạt mà chính quyền Hà Nội đưa ra và việc thêm một vài blogger nổi bật bị bắt hồi mùa xuân vừa qua đã không ngăn được việc các blogger tiếp tục viết. Ngược lại, với mỗi một blogger bị đàn áp phải im tiếng thì lại có vài người khác đứng lên thế chỗ. Truyền thông của Đảng và Nhà nước cho rằng blogger chính trị là đội quân tiên phong phá hoại, nhằm thực hiện một âm mưu quốc tế chống lại chính quyền – lời buộc tội này nghe ngày càng rỗng tuếch.

Hàng nghìn người Việt Nam trẻ tuổi vỡ mộng – những người vẫn đăng bài và bình luận thường xuyên trên các blog và trang Fabebook đối lập – đều tin rằng dân chủ hoá là một quá trình tất yếu. Họ tin là tất cả những gì cần thiết là làm sao để có đủ người nhìn ra sự giả trá của nhà nước độc đảng sau cách mạng. Cuộc chiến sẽ còn tiếp tục.

(Tác giả Pham Đoan Trang là phóng viên, blogger ở Việt Nam).
Nguồn: Asia Sentinel/ DTD

Nguồn: Ba Sàm

-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

DÂN VĂN GIANG: "CHÍN NĂM MỚI CÓ MỘT NGÀY NÀY"

Dân Văn Giang: "9 năm mới có một ngày này..." 

Đoan Trang

Ngoài lý do tuyên truyền, lý do đối ngoại và những lý do khác tương tự, có một việc mà không chính quyền nào, kể cả chính quyền cộng sản, có thể bỏ qua, đấy là mọi sự đều phải được hợp pháp hóa”. 

Trong tương lai, giai cấp cầm quyền không thể biện hộ, dù trong nội bộ, việc sử dụng bừa bãi các biện pháp nhân danh mục đích “lý tưởng”. Nó vẫn sẽ còn ba hoa về chủ nghĩa cộng sản như là mục đích cuối cùng; nếu không làm thế thì sự độc quyền cũng sẽ tiêu ma. Nhưng đấy có lẽ chỉ là thói quen sử dụng bừa bãi các phương tiện còn sót lại từ quá khứ mà thôi. Không phải lúc nào nó cũng dám liều như trước nữa. Một sức mạnh lớn hơn, đấy là nỗi sợ trước dư luận quốc tế – sợ làm ảnh hưởng đến hình ảnh của mình, quyền lực tuyệt đối của mình – đã làm cho nó dao động, chùn tay”.

Milovan Djilas (1911-1995) – phó tổng thống, cán bộ phụ trách công tác tư tưởng ở Nam Tư giai đoạn cuối những năm 40, đầu những năm 50 thế kỷ trước – đã viết như thế trong “Giai cấp mới” (1957), tác phẩm kinh điển phân tích, mổ xẻ chủ nghĩa cộng sản.

Liên hệ từ những điều ông viết, mới hiểu, trong các vụ việc như Tiên Lãng, Văn Giang, cái mà chính quyền ngại nhất thực ra lại chính là luật pháp. Lâu nay họ đâu có bao giờ làm theo luật, mà chỉ dùng khủng bố, đàn áp, huy động cả hệ thống công an-dân phòng-an ninh lẫn cỗ máy truyền thông “nhà trồng được” vào việc bịt miệng người dân. Họ làm vậy bởi vì, và để che đậy một điều, rằng điểm yếu của họ, cái khiến họ khó đấu lại được với xã hội, là luật pháp.

Vì vậy cho nên, chiến thắng bằng lý luận, bằng tranh biện, bằng luật pháp, dù sao đi nữa, cũng là chiến thắng bước đầu.

Cuộc đối thoại giữa nguyên Thứ trưởng Bộ TN-MT Đặng Hùng Võ và nông dân Văn Giang đã kết thúc với việc ông Đặng Hùng Võ thừa nhận có sự trái pháp luật, và ông nhận lỗi. Nhưng ông Đặng Hùng Võ không phải là “phe thua”.

Phe thua là các đồng chí núp sau những lợi ích mà các dự án ở Văn Giang sẽ đem lại.

Phe thua là những vị bấy lâu nay vẫn đả kích tất cả: Dân Văn Giang thì Chí Phèo, ăn vạ; đám blogger lề trái thì “phản động, xúi giục, giật dây, kích động”; phóng viên lề phải thì “cảm tính, cực đoan”.

Và phe thua cũng là cái cơ chế đã đẻ ra tất cả những chuyện ấy.

Nhưng tất cả chỉ mới là bước đầu. 

Tễu:
Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời
Nẻo xa đã tỏ mặt người
Phải chăng "khổ tận", sắp thời "cam lai" ?
    
-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

HẬU VỤ XỬ PV HOÀNG KHƯƠNG: MẤT MÁT VÀ ĐỔ VỠ

Cha của Hoàng Khương, sau khi tòa tuyên án 4 năm tù. Ảnh: FB

 

HẬU VỤ XỬ PV HOÀNG KHƯƠNG: MẤT MÁT VÀ ĐỔ VỠ  

 

Mai Thanh Hải

 

Sự đổ vỡ của những thứ to lớn - thành trì, hầu hết đều bắt nguồn từ những sự việc - hình ảnh nhỏ nhoi, giản đơn như thế này. Khái niệm "niềm tin và hy vọng", từ những năm chiến tranh, mà mình dễ gặp lại nhất khi xem lại những hình ảnh tư liệu trong video clip bài hát "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng", vốn đã đổ vỡ, chỉ còn chút móng lung lay, hôm nay cũng sụp xuống, cùng sự thất vọng chảy tràn trên gò má nhăn nheo của người Cha đã sinh ra đồng nghiệp. 

 

"Ác độc và không có tính người!" - Ai đó nó vậy hơi quá, nhưng quả thật dửng dưng dìm con người ta vào con số 4, mặc cho người mẹ đang hấp hối trong Bệnh viện, Cha già yếu và vợ con bệnh tật - nhỏ nhoi... thì chỉ ngày hôm nay, người ta mới gặp được, trên đất nước này. 

 

Bảo vệ và xây dựng chính thể - chế độ không chỉ đơn thuần là việc xếp gạch xây nhà, trộn xi măng trát vữa, mà quan trọng hơn cả là niềm tin - sự đồng thuận, góp sức từ trong tinh thần, tâm tưởng cho sự tồn tại, đứng vững của mọi quyết sách - cách hành xử. 

 

Nếu niềm tin mất mát và sự hy vọng đổ vỡ, từ những người dân bình thường nhất, những người cầm bút hay được gán là "chiến sĩ bảo vệ mặt trận văn hóa - tư tưởng" nhất, thì việc đổ vỡ của những điều lớn lao là hiển nhiên, không thể chối cãi... 

 

Giữ gìn chế độ - chính thể, không thể bằng những cách phi lý và độc ác, như thế này!.

Nguồn: Mai Thanh Hải Blog.



Hành động của nhà báo Hoàng Khương có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng không thể coi là tội phạm vì không những không nguy hiểm cho xã hội mà còn làm giảm nguy hiệm cho xã hội. Toà xử anh 4 năm tù không phải là nặng hay nhẹ mà là không theo Luật (Khoản 4, Điều 8 của Bộ luật hình sự: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”).
Cựu nhà báo Osin Huy Đức

* * *
Việc tuyên án nhà báo Hoàng Khương 4 năm tù giam = mức án của tay công an Ninh đánh chết người không đội mũ bảo hiểm chứng tỏ ngành công an coi việc làm của Hoàng Khương có thể gây nguy hiểm đối với tính mạng ngành của họ.
Blogger Anh Chí

* * *
Ông Đinh Thế Huynh, ông có liêm sỉ không thế? Cả cái đám công an đang hể hả vì kết quả phiên xử án chiều nay, và cả cái đám công an đang đọc Facebook của tôi nữa, các vị có liêm sỉ không?
Nhà báo Đoan Trang

* * *
Anh Hoàng Khương vô tội !

Cách đây vài năm, khi nghe tin hai nhà báo nổi tiếng đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là Nguyễn Văn Hải (báo Tuổi Trẻ), Nguyễn Việt Chiến (báo Thanh Niên) đã bị cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) khởi tố, bắt tạm giam và sau đó xét xử, kết án... tôi đã thật sự sốc và hôm nay, đến lượt anh Hoàng Khương. Anh đã không được gặp người mẹ đang hấp hối của mình.

Ngày đó, tôi đã viết: “Một cơ thể đã và đang mục ruỗng với những ung nhọt bệnh hoạn cần phải biết tôn quý và bảo vệ những tế bào bạch cầu đang chống chọi và tiêu diệt lũ vi trùng, vi khuẩn khốn kiếp ! Đó là chưa kể những khối ung thư có nguy cơ di căn lại càng sớm đưa cơ thể bệnh hoạn về với Các Mác, Lê Nin. Đã không uống thuốc đắng, lại còn tiêu diệt bạch cầu thì vi khuẩn, vi trùng lại càng phát triển, lại càng thêm nhiều khối ung nhọt huỷ hoại cơ thể ngu dại đó !”

Từ hôm nay, tôi sẽ treo hình ảnh anh Hoàng Khương tại toà cùng với hình ảnh người cha già tội nghiệp đang khóc (của các PV Thuận Thắng, Huyền Vi...) cho đến hết ngày toà xử phúc thẩm để thể hiện sự ủng hộ của mình với anh và hàng nghìn đồng nghiệp của anh đang ngày đêm phải đối mặt với những nguy hiểm. Và đau xót thay khi nguy hiểm không chỉ đến từ những tên tội phạm, những thế lực xã hội đen mà nó đến trực tiếp từ những nhóm lợi ích cấu kết với quan chức tha hoá, biến chất, đẩy những con người đấu tranh vào vòng lao lý, thậm chí vào cái chết.
Lê Trung Kiên

* * *
4 năm - mức thời gian dành cho 2 bản án - một kẻ giết người & một người phạm tội danh "đưa hối lộ" - chung quy chỉ để chứng tỏ rằng lực lượng "thanh kiếm và lá chắn bảo vệ chế độ" là bất khả xâm phạm.
Blogger Mẹ Nấm

* * *
Cái tội duy nhất của nhà báo Hoàng Khương là dám đá đổ nồi cơm của mấy chú đứng đường. Có biết hụi chết mỗi tháng của mấy chú đứng đường nộp cho các đại ca là bao nhiêu không?
Blogger Viet Org

* * *
Nguyễn Văn Ninh thấy Hoàng Khương vào buồng giam nói. Khương à, án tao khác án mày, án tao còn được giảm, án mày còn lâu. Hoàng Khương nói. Mày bì phấn với vôi, nhân dân có kết án tao đâu.
Blogger Người Buôn Gió

* * *
Hoàng Khương - Lời nói sau cùng của anh chan chứa tâm tư với nghề, tình nghĩa với anh em, bè bạn, đồng nghiệp đáng để mỗi người làm báo chúng ta cùng suy ngẫm về con đường chông gai phía trước....

Không “nhập vai”, làm sao có bằng chứng?

“Tại kỳ họp Quốc hội mới đây, Thượng tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an kêu gọi cử tri cả nước và báo chí tiếp tục cung cấp những thông tin về những hiện tượng CSGT vi phạm tiêu cực để lãnh đạo Bộ kịp thời xác minh và xử lý. Từ phản ánh của báo chí, ngành Công an đã kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự nhiều cán bộ, chiến sĩ CSGT có tiêu cực. Tuy nhiên, từ vụ nhà báo Hoàng Khương, chúng tôi dù rất muốn dấn thân chỉ mặt, vạch tên những CSGT tha hóa, nhưng cũng rất băn khoăn, lo lắng, mà không dám dấn thân, không “nhập vai” thì khó mà có được bằng chứng để cung cấp cho ngành công an” - một nhà báo (đề nghị giấu tên) chia sẻ.

*Và luật đây, mọi người đọc và suy ngẫm xem:

Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ”. -Trích khoản 6 Điều 289 BLHS.
Luận Sophie

Nguồn: tại đây

 

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

TỘI "LÀM HỎNG DÂN"


Tội “làm hỏng dân”

Đại tá Quách Hải Lượng

Lời dẫn của Đoan Trang: Liên quan đến vấn đề quan hệ Việt - Trung, xin giới thiệu (tiếp) một phần phân tích của Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên tùy viên quân sự Việt Nam tại Trung Quốc, trong đó ông Lượng thể hiện sự tách bạch giữa những nhà lãnh đạo có tư tưởng bá quyền và nhân dân Trung Quốc thân thiện.

* * *
- Theo ông, Trung Quốc đối xử với tất cả các nước trong khu vực đều như với Việt Nam, hay mỗi nước mỗi khác?

- Tôi cho rằng họ đối xử với mỗi nước mỗi khác, rất khác biệt nhau. Với Philippines thì họ hơi chờn, nhất là từ khi Philippines trở thành đồng minh của Mỹ. Với một số nước khác như Myanmar, Indonesia, thì họ mua chuộc. Riêng đối với Việt Nam thì họ coi như đối tượng để bắt nạt, lợi dụng, và cũng không loại trừ khả năng mua chuộc. Trong quan hệ thương mại, ta nhập siêu của Trung Quốc gần đây tới hơn 12 tỷ USD, họ gạ, nếu các đồng chí thiếu ngoại tệ thì thanh toán bằng Nhân dân tệ cũng được. Họ còn gạ Việt Nam làm “một trục hai cánh”, “một hành lang hai vành đai”, thì cũng nhằm thâm nhập kinh tế Việt Nam, đưa Việt Nam vào tiểu vùng kinh tế của Trung Quốc, là Quảng Tây - Vân Nam, hai tỉnh lạc hậu nhất. Việt Nam vào đó thì hai tỉnh kia phát triển, còn mình thì sử dụng những thứ lạc hậu của họ.

Cho nên phải nhìn nhận tất cả những hiểm họa một cách sâu sắc. Cái bề nổi mà chúng ta đang phải đối phó, mà nhiều người sợ hãi, là quân sự. Nhưng thật ra là phải lo ngại tất cả những thứ kia chứ không phải chỉ quân sự.

Cần chú ý là Trung Quốc thường tạo cớ chứ không chờ đợi thời cơ tự đến. Như hồi tháng 2/1979, họ tạo bao nhiêu cớ gây hấn với Việt Nam rồi họ tuyên bố là họ “phản kích tự vệ”, và chỉ sử dụng lính biên phòng. Có ai đi xâm lược mà lại bảo là phản kích tự vệ? Và sự thật là họ điều động quân đội của hơn 30 tỉnh tham gia vào chiến tranh chứ không phải lính biên phòng đâu.

- Ông nghĩ Trung Quốc thi hành chiến lược như vậy thì được lợi gì, bị thiệt hại gì?

- Trong lịch sử, bọn diệt chủng, bọn độc tài phát xít đều bị tiêu diệt cả, chưa một bè lũ độc tài phát xít nào tồn tại được. Lúc đang ngang ngược là lúc họ coi họ mạnh nhất về quân sự. Nhưng chính lúc họ đang mạnh về quân sự lại là lúc họ yếu nhất về chính trị.

Thực sự là Trung Quốc đã làm điều rất không có lợi cho chính Trung Quốc: Thứ nhất là phá tình hữu nghị Trung-Việt. Thứ hai là phá luật pháp quốc tế, làm cho quốc tế lên án. Thứ ba là phá hoại lòng tin. Họ yêu cầu xây dựng lòng tin mà bây giờ họ làm thế thì ai tin họ? ASEAN, Việt Nam, cộng đồng quốc tế không thể tin Trung Quốc được.

Sâu xa hơn nữa, cái rất nguy hiểm là họ làm cho dân tộc hiểu nhầm dân tộc, dân tộc oán thù dân tộc. Một vài người, một tập đoàn, một nhóm người mà oán hận Trung Quốc là chuyện cứ cho là nhỏ đi. Nhưng nếu cả dân tộc này oán hận Trung Quốc thì họ sẽ nghĩ như thế nào về cái lợi trước mắt và lâu dài của họ?

- Tôi để ý thấy những người từng có thời gian du học ở nước Nga, thường rất yêu nước Nga. Không biết du học sinh Việt Nam tại Trung Quốc có sự tương tự? Ông từng du học ở Trung Quốc, ông có tình cảm yêu mến với đất nước và nhân dân Trung Quốc không?

- Tôi mang ơn nhiều ông thầy Trung Quốc. Tôi cũng có những người bạn Trung Quốc, từng ăn cơm uống nước với nhau, quý mến nhau. Ngày trước có người sang đây làm việc, ông ấy bảo tôi, rất thật thà: “Này, Lượng này. Tao làm việc ở đây, tao thấy lương tao còn cao hơn lương Hồ Chủ tịch. Tao nghĩ tao phải hạ lương tao xuống thôi”.

Hồi chiến tranh biên giới, ta mở một triển lãm bên Trung Quốc, có người từng viết thế này: “Hiện nay trên biên giới, hai nước đang đánh nhau. Nhưng chúng tôi chỉ hiểu rằng đem con em Trung Quốc đi đánh con em Việt Nam là không đúng”. Họ viết hẳn vào sổ lưu niệm như thế đấy.

Người dân Trung Quốc thật ra rất tốt tính, hiếu khách, nhưng tôi cho là các tập đoàn chính trị của họ đang làm hỏng họ đi. Cái nguy hại là chính quyền bên ấy đã làm hỏng cả một thế hệ thanh niên. Lâu nay họ giáo dục, làm cho thanh niên Trung Quốc hết lớp này tới lớp khác hiểu nhầm và ngộ nhận về lãnh thổ và chủ quyền. Cho nên khi họ hành động rất tàn bạo, đánh đập ngư dân Việt Nam, giết chiến sĩ Việt Nam, thì người dân Trung Quốc vẫn yên chí đó là lòng yêu nước, còn Việt Nam mới là xâm lược. Từ nay trong các cuộc đụng độ, ta sẽ thấy lính Trung Quốc tàn bạo và hung hãn hơn bao giờ hết, mà họ vẫn tin tưởng đấy là vì yêu nước. Cho nên những người lãnh đạo Trung Quốc sẽ phải chịu trách nhiệm rõ ràng: Làm cho dân tộc hiểu nhầm dân tộc là một tội ác đối với nhân loại.

- Bây giờ thì Việt Nam nên ứng xử như thế nào?

- Trước mắt ta phải vạch rõ cái phi nghĩa của Trung Quốc, nêu cái chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình của dư luận quốc tế. Mà nếu họ giở rói gì ở biển gần, ở thế bất hợp pháp, thì quân đội ta phải đánh.

Về dài hạn là đấu tranh pháp lý. Đấu tranh vô hiệu hóa đường lưỡi bò của Trung Quốc đòi hỏi ta phải có tài liệu nhiều nữa, và phải phát biểu nhiều, phải huy động toàn thể nhân dân, cả trong và ngoài nước. Không nên kỳ thị, phân biệt người Việt trong nước với Việt kiều. Vì lâu nay ta cứ coi Việt kiều như là một thế giới khác, cho nên ta không đưa những ý kiến của các nhà khoa học Việt kiều ra, trong khi nhiều điều rất có giá trị. Ta đang yếu thế về truyền thông, về tuyên truyền, về dư luận. Thế cho nên là phải đấu về pháp lý, về lịch sử, về ngôn luận, truyền thông, và ngoại giao, rồi phải làm cho sức mạnh quân sự lên nữa. Đặc biệt lãnh đạo Việt Nam phải cứng cỏi. Dân tộc Trung Quốc, đất nước Trung Quốc lớn, nhưng lãnh đạo của họ với lãnh đạo chúng ta, đâu ai lớn hơn ai? Bác Hồ là lãnh tụ một nước nhỏ mà Bác ngang hàng với lãnh đạo Trung Quốc, với thế giới đó thôi. 



Một điểm yếu của lãnh đạo ta bây giờ là không tin ở nhân dân. Tôi làm lãnh đạo, tôi có kinh nghiệm cụ thể: Trong những việc lớn, hãy cứ để cấp dưới tự do phát biểu, sau đó lãnh đạo chỉ cần đưa ra một đôi câu chốt thôi thì giá trị sẽ lên cao ghê gớm. Phải tin tưởng nhân dân, để nhân dân nói, để nhân dân bày tỏ sự phẫn nộ, đến lúc nhà lãnh đạo đứng ra trước dư luận thế giới để phát biểu thì uy tín sẽ khác lắm.

Năm 1995, khi chủ biên một đề tài về giữ ổn định biên giới quốc gia, tôi đã viết rằng “việc giữ ổn định biên giới quốc gia không hoàn toàn tùy thuộc vào các chiến sĩ biên phòng mà chính là phụ thuộc vào Hà Nội”. Người lãnh đạo quan trọng thế đấy.

Cuối cùng tôi muốn nói thế này: Trước hết ta phải để cho thế giới thấy Trung Quốc đã tự bỏ cái mặt nạ của họ, và họ trở thành không chính nghĩa. Việc ta làm tốt nhất hiện nay là để cho chính trị đi trước: Vạch mặt bằng hết cái không chính nghĩa của Trung Quốc, làm thật rõ sự chính nghĩa của Việt Nam. Như thế là tạo lợi thế trên trường ngoại giao quốc tế. Thứ nữa là phải tin vào nhân dân. Ngược lại cũng phải thấy rằng, nhân dân Việt Nam, quân đội Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một. Nhân dân cũng như quân đội hết sức tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước cũng không bao giờ ngăn cản, cấm đoán và triệt hạ lòng yêu nước của người dân. Tôi tin tưởng như thế. 

.
Lời bình của nhà báo Đoan Trang:

“Cái nguy hại là chính quyền bên ấy đã làm hỏng cả một thế hệ thanh niên. Lâu nay họ giáo dục, làm cho thanh niên Trung Quốc hết lớp này tới lớp khác hiểu nhầm và ngộ nhận về lãnh thổ và chủ quyền. Cho nên khi họ hành động rất tàn bạo, đánh đập ngư dân Việt Nam, giết chiến sĩ Việt Nam, thì người dân Trung Quốc vẫn yên chí đó là lòng yêu nước, còn Việt Nam mới là xâm lược”.
Nói về lòng yêu nước, cách tuyên truyền của hệ thống truyền thông (do Nhà nước kiểm soát) của Trung Quốc là kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tư tưởng nước lớn.
Còn cách tuyên truyền của hệ thống truyền thông Việt Nam là thúc đẩy chủ nghĩa Makeno, “đã có Đảng và Nhà nước lo”, phải không?
Cách nào mà chẳng “làm hỏng dân”.

-->đọc tiếp...