Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

ĐÁM TANG VĨ ĐẠI


Đám tang vĩ đại
Ngô Minh 
Theo blog Ngô Minh 

Không có từ ngữ nào hơn để mô tả đám tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội và Quảng Bình ngoài chữ VĨ ĐẠI. Đây là đám tang lớn nhất Việt Nam từ hàng ngàn năm lịch sử. Chưa bao giờ người dân lao động đưa tang một người lãnh đạo, một vị tướng lĩnh quân đội lại đầy ắp phố phường Hà Nội, đầy chật cứng đường Quốc lộ 1A như trong ngày 13 tháng 10 ấy. Các nhà sử học hãy ghi lại ngày tháng này. Đó là ý nguyện lịch sử, ý nguyên nhân dân đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Anh hùng dân độc đã hóa Thành giữa lòng dân.

Đoàn nhà văn việt Nam tại Huế chúng tôi, thuê xe đi ra Vũng Chùa, Quảng Đông, Quảng Bình để dự lễ an táng Đại tướng, cầu mong  mỗi người mỗi được bỏ nắm đất mẹ  xuống huệt mộ Đại tướng, trước khi vĩnh biệt Người. Đoàn chúng tôi gồm có có nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Võ Quê, Hà Khánh Linh, Nguyên Quang Hà, Ngô Minh, Phạm Phú Phong, Mai Văn Hoan, Vĩnh Nguyên, ra An xá, Lệ Thủy,  Đồng Hới nhập thêm HoàngVũ Thuật, Trần Khởi và một số người có cả vợ con cùng đi. Chỉ hơn 200 cây số từ Huế đến Vũng Chùa, đoàn khởi hành từ Huế lúc 5 giờ 30  sáng ngày 13/10, mà mãi đến 6 giờ chiều, tức đi suốt 12 tiếng đồng hồ vẫn cách nơi an nghỉ Đại tướng gần 10 cây số. Chúng tôi nghe tin báo, bây giờ khu vực Vũng Chùa và ngã ba QL1A-Vũng Chùa và từ Đèo Ngang vào, tình trạng kẹt xe nghiêm trọng. Lui không được, tiến cũng không được (thông tin sáng 14/10, trong bản tin Chào buổi sáng của VTV1 thì đến 10 giờ đêm vẫn kẹt xe ở đây rất trầm trọng). Thế là chúng tôi đành lui xe qua lại cầu Gianh, vô Huế với nỗi ngậm ngùi thương tiếc Đại tướng chứa chất trong tim mỗi người. Đoàn vô đến nhà riêng ở Huế đúng nửa đêm. Không  đến được nơi an nghỉ của Đại tướng, dù chỉ cảm nhận trênđường, nhưng mỗi nhà văn Huế chúng tôi đều nhận thức được tình cảm lớn lao, sâu nặng của nhân dân cả nước, nhân dân Quảng Bình đối với Đại tướng trong ngày đưa tang.
.

Kẹt xe là do người tham gia đám tang Đại tướng quá đông .Xe ô tô chen chúc hàng năm hàng bảy trên đường nhích dần từng bước ở ngã ba Sân Bay Đồng Hới – QL1A, theo sau Đoàn xe tang lễ. 100 mét Quộc lộ 1A mà xe chúng tôi  phải nhích tới 2 tiếng đồng hồ. Hàng vạn người làng quê gần thì đi xe máy, bố mẹ chở con nhỏ, có em mới một hai tuổi. Thanh niên nam nữ trèo lên trên các ban công, sân thương tòa nhà hai tầng dọc xã Lộc Đại, Đồng Hới, cây cầm cờ đỏ sao vàng, giơ cao ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đó là cách biểu hiện tình cảm của họ. Đó là cách vĩnh biệt của họ. Người ở xa tận Tuyên Quang, Hà Giang , Sài Gòn, Thanh Hóa, Nghệ An… thì đi ô tô con, ô tô du lịch vào Quảng Bình đi đám . Xe nào cũng có ảnh Đại tướng, cũng dán băng rôn “Vô cùng thương tiếc Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.Trước khi quay ra Vũng Chùa, buổi sớm họ vào làng An Xá thắp hương viếng Đại tướng. Buổi sáng 13, ở An Xá có tới hàng trăm chiếc xe  đến Nhà lưu niệm Đại tướng để viếng. Các nhà văn Huế trước khi đi Vũng Chùa, cũng ghé An Xá viếng Đại tướng.
.

Hai giờ chiều, xe chúng tôi  nhích qua được cầu Gianh, nghĩa là đã đi được 6 tiếng đồng hồ, lại bị một trận  kẹt xe tới ba tiếng đồng hồ nữa. Xe ô tô trên đường hàng năm, hàng bảy, cứ nhích lên , nhích lên. Máy nổ thường trực. Người đi xe máy chở theo vợ con cầm ảnh bác Giáp thì len lõi giữa các dòng xe cố vượt lên phía trước để kịp giờ an táng Đại tướng. Điều lạ lùng là giữa cái ma trận kẹt xe ấy, tuyệt nhiên tôi không nghe một tiếng la lối, ồn ào nào. Tất cả dòng người vẫn đăm chiêu, buồn buồn, lặng lẽ, kiên nhãn chờ đợi, vẫn nổ sẵn máy xe, có cơ hội là nhích lên từng bước.
.
Đọc đường qua các làng quê ở huyện Quảng Trạch, chúng tôi thấy người dân ở đây nhà nào cũng treo cờ rủ, bày cái bàn ra giữa sân để ảnh Đại tướng và lá cờ đỏ sao vàng vắt qua ảnh. Có nơi, các gia đình lại đưa cả nhà ra đứng ở cổng bên Quốc lộ 1A để tiễn biệt Đại tướng khi đoàn xe chở thi hài Đạit ướng đi qua. Cho đến phiên xe chúng tôi đến sau, họ vẫn đứng đó, nghiêm trang , kính cẩn. Một phóng viên nước ngoài từ Paris điện hỏi, trực tiếp phỏng vấn tôi về đám tang Đại tướng ở Quảng Bình. Tôi đã  kể cho họ nghe tất cả những điều đã thấy, đã cảm nhân ở trên , ngay trong xe, ngay ở giữa cái chỗ đang kẹt xe ấy: “Tôi đi từ sáng ở trong Huế ra, cùng đoàn nhà văn Việt Nam ở Huế tổ chức đi dự lễ an táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Quảng Bình. Đi từ sáng, tức là xuất phát từ Huế từ lúc 5 giờ 30 sáng, cho đến bây giờ là 12 tiếng đồng hồ rồi mà chưa đến được mộ, còn cách mộ khoảng 13 cây nữa. Nhưng chúng tôi ghé nhà dân bên cạnh để coi truyền hình trực tiếp thì mộ đã đắp xong rồi và người ta đã cúng bái xong rồi. Trên đường đi thì tôi thấy không khí vô cùng xúc động. Xe rất đông, đi trên đường quốc lộ 1, mà đi hàng 7 hàng 5 trên đường. Xe nào cũng mang ảnh bác Giáp và cờ, băng-rôn kính viếng Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Hai bên đường, người dân quê, trẻ con, họ cầm ảnh bác Giáp. Vùng Quảng Bình, vùng nông thôn Quảng Trạch đây đều treo cờ rủ, nhà nào cũng treo cờ rủ. Nói chung không khí rất xúc động. Hàng vạn người đi trên đường. Khi đoàn xe chở thi hài Đại tướng đi trên đường, tôi thấy thanh niên nam nữ trèo lên cả nóc nhà xung quanh để coi, rất xúc động..." Quả thực, dù kẹt xe, nhưng tôi thực sự xúc động vì tôi đã được ở giữa hàng triệu người dân Việt Nam đi đám tang vị Đại tướng huyền thoại của mình trong ngày tang vĩ đại này.

Nữ nhà văn Hà Khánh Linh trong đoàn, khi nửa đêm xe trở về đến Huế, chia tay tôi, chị bảo:” Chúng ta không  đến nơi an táng được để vĩnh biệt Đại tướng được, nhưng chúng ta đã đến một nơi cần đến nhất : Đó là lòng dân đối với Thánh Giáp. Chúng ta đã có mặt cùng nhân dân dân mình trong một đám tang vĩ đại nhất…”.

N.M

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

NHÀ BÁO “THAM NHŨNG” NHƯ THẾ NÀO ?

NHÀ BÁO “THAM NHŨNG” NHƯ THẾ NÀO ?
Ngô Minh
Người ta gọi “báo chí là quyền lực thứ tư” trong xã hội sau lập pháp,tư pháp và hành pháp. Vì là quyền lực nên bao giờ cũng có sự lạm quyền. Lâu nay ta chỉ nói đến lãnh đạo có chức có quyền tham những. Vậy nhà báo có tham nhũng không? Có! Một số nhà báo và cơ quan báo chí đang tham nhũng rất tinh vi. Báo mà đăng bài để “ chạy án” cho Năm Cam cách đây mấy năm là báo hại đích thị rồi. Mới đây, Hà Phan (Phan Hà Bình) phó tổng thư ký tòa soạn của một tờ báo lớn bị bắt khi nhận hối lộ 220 triệu đồng (11.000 đô la) để không viết bài tố các thương gia. Đó là những chuyện tham nhũng, hối lộ cụ thể. Từ nhiều năm qua báo chí ta cũng có không “mẹo làm tiền” các doanh nghiệp không kém những vụ việc trên. Không ít tờ báo đang trở thành báo hại. Hại đến mức hễ nghe nhà báo tới là giám đốc “sợ” tái mặt, phải tìm cách “chạy trốn”, nhưng lại ít người nói tới. 

Tòa soạn báo thành… cơ quan đánh quả!

Từ ngày đổi mới đến nay, báo chí đã thực sự trở thành “món ăn” không thể thiếu đối với người dân hàng ngày. Báo chí đang tham gia tích cực và có hiệu quả vào sự nghiệp đổi mới, mở của, chống tiêu cực, tham nhũng. Nhiều tờ báo do hấp dẫn người đọc, ti-ra phát hành lớn, nên người ta sống chủ yếu bằng lợi nhuận báo. Những tờ báo đó, hàng các doanh nghiệp hàng ngày tìm đến xin đăng quảng cáo rất đông. Nhưng cũng có rất nhiều tờ báo phát chỉ phát hành được vài ngàn bản một kỳ. Tiền bán báo không đủ bù tiền in, tiền nhuận bút, nên cả tòa soạn sống chủ yếu bằng “ nghề chạy quảng cáo” ở các DNNN, thậm chí “chạy” quảng cáo tận các trường tiểu học, trạm xá, bệnh viên... thậm chí Trại phục hồi nhân phẩm cũng phải “mần” quảng cáo! Nhiều tờ báo ở Hà Nội, vào Đà Nẵng lập ra một “đại diện Miền Trung“ hẳn hoi, nhưng tòa soạn không trả lương, mà anh em phải đi chạy quảng cáo để nuôi nhau! Cứ đến kỳ Tết Nguyên Đán, ngày 30-4, ngày nhà báo Việt Nam 21-6, ngày Quốc Khánh 2-9 v.v... cả tòa soạn không viết báo mà đổ xô đi… làm quảng cáo! Làm quảng cáo mà có thư của thứ trưởng, vụt trưởng mang theo. Có báo một cái Tết “đọc lệnh” được vài ba tỷ đồng tiền qủang cáo! Giám đốc doanh nghiệp nhà nước phải tiếp mỗi ngày hàng mấy chục “nhà báo quảng cáo” như vậy nên phát sợ. Nhiều nhà báo nhơè đi “đọc lệnh” quảng cáo mà có tiền xây nhà lầu, mua xe hơi xịn. Chứ nếu sống bằng nhuận bút thì không bao giờ có những thứ như vậy. Một nhà báo viết nhiều, in nhiều như bác Nguyễn Xuyến ở cạnh nhà tôi, mỗi tháng măng-đa nhuận bút về 7, 8 triệu đồng, cũng không đủ tiền mua xe hơi xin như vậy Các nhà báo hãy sờ tay lên gáy mình mà ngẫm nghĩ để sống cho ra con người.

Dù DN không có nhu cầu quảng cáo, nhưng phải bấm bụng mà làm, vì không làm “ lỡ có sai sót gì” trong kinh doanh, “nhà báo nói thêm” một thành mười thi nguy to! Một cái quảng cáo nửa trang ( 27x 40cm) 20 triệu bạc, in bia bốn thì 50 triệu. Một cái Tết “ chiều” cho hết hàng mấy chục tờ báo, coi như mất toi hai ba bốn trăm triệu,vì thế mà giá hàng hóa dịch vụ bị đội lên, khó mà cạnh tranh. DNNN thì ngày càng thua lỗ, thế mà phải “nuôi” thêm các anh “báo hại”! Bởi thế mà anh Lê Hữu Thăng, hiện là phó chủ tịch tỉnh Quảng Trị, hồi làm giám đốc Công ty Xuất Nhập khẩu tỉnh, anh đã nghĩ ra được “mẹo” để tránh sự “tấn công” của các nhà báo quảng cáo. Anh làm một văn bản, bộ tứ công ty ký vào, quy định một năm chỉ làm quảng cáo trên 2 tờ báo vào dịp Tết hay lễ ở báo tỉnh, báo ngành. Anh dán tờ “yết thị” đó lên. Nhà báo tới đành im lặng rút lui!

Có nhiều chiêu làm quảng cáo lắm. Viết một bài ca ngợi thành tích công ty, gọi là “ viết cho”, rồi bắt doanh nghiệp “trả ơn” bằng cái quảng cáo. Kiếm mấy em thật tươi mát, nhận làm hợp đồng, các em sẽ “ngồi lỳ” ở phòng giám đốc suốt buổi, giám đốc ngán quá phải “ ký”, hoặc các em sẽ “chiều chuộng”,” liếc mắt đưa tình” giám đốc để được cái quảng cáo. Tiền chùa mà, mất gì! Đã có thư tố cáo ông giám đốc M. chi cho cô bồ nhí là ”phóng viên quảng cáo” của tờ báo nọ trong mấy tháng hơn 400 triệu đồng quảng cáo. Ở tỉnh nọ, các nhà báo tỉnh gọi đi làm quảng cáo là “ đi đọc lệnh”. Có nghĩa là cứ đến doanh nghiệp bắt giám đốc ký, vì giám đốc nào cũng có “gót chân A-Sin” mà nếu tiết lộ lên báo là gay! Hoa hồng cho người làm quảng cáo từ 30 % có báo chi trả 40, 45%, nên có nhà báo từ xe đạp “chân co chân duỗi”, vào nghề chỉ mấy năm làm quảng cáo đã xây được nhà bốn lầu, mua xe hơi… Thế là Tòa soạn báo thành cơ quan đi... đánh quả quảng cáo! Đó là tham những chứ gì nữa! 

Chuyên đề... “lừa” ?!

Hiện nay có rất nhiều tờ báo, tạp chí, cũng gọi là cơ quan báo chí với đủ ban bệ, nhưng không bao giờ làm báo cả! Thế họ sống bằng gì ? Xin thưa: bằng việc xuất bản các “chuyên đề… lừa”. Qua tìm hiểu nhiều báo, tôi biết cách làm của họ như sau. Chạy xin giấy phép, đặt tên thật oách, kiểu “Tiềm năng đầu tư của tỉnh…”, hay” Tỉnh…rải thảm đỏ mời các nhà đầu tư”…, Phóng viên trang bị máy ảnh kỹ thuật số xịn, đeo hai ba cái trước nực, tay xách laptop kè kè, để lòe thiên hạ. Rồi ông Tổng biên tập lên xin ông Thứ trưởng, Bộ trưởng cái thư gửi cho Bí thư, chủ tịch các tỉnh, đề nghị phối hợp làm chuyên đề “ giới thiệu tiềm năng đầu tư của địa phương” hay lễ hội, festival v.v.. Các tỉnh nghe nói “đầu tư nước ngoài” mừng lắm, vì đây là mốt mà! Ông TBT mới tán thêm là “tờ báo của mình in song ngữ, phát hành đi hơn trăm nước trên thế giới, ti-ra hai triệu bản”. Thế hợp đồng làm “Chuyên đề về tiềm năng kinh tế, mời gọi đầu tư của tỉnh X” được ký. Ngoài việc tỉnh chi số tiền in ấn lên tới hàng trăm triệu đồng, chủ tịch tỉnh còn ký công văn “bắt“ hàng trăm doanh nghiệp mạnh trong tỉnh tham gia quảng cáo, mỗi doanh nghiệp 15 – 20 triệu đồng. Sau đó họ thuê người viết bài, chụp ảnh, dịch, cộng thêm trích đoạn nghị quyết tỉnh, bài phỏng vấn kèm ảnh ông bí thư, chủ tịch in trang đầu, thế là được cuốn “chuyên đề” dày khoảng 100 trang, in song ngữ Việt - Anh. Người viết bài này cũng đã từng được thuê viết bài “tiềm năng…” như vậy. Họ chỉ in 700 bản, nộp lưu chiểu, báo biếu 200 bản, còn 500 bản mang về bán lại cho tỉnh với 150 ngàn / 1 cuốn (đã bỏ tiền ra in rồi lại phải bỏ tiền ra mua!). Chỉ một “chuyên đề... lừa” như vậy, tòa báo đã kiếm được vài tỷ đồng ngon ơ! Có tòa soạn đã lần lượt làm được 61 chuyên đề tỉnh, hàng chục chuyên đề ngành, nhưng chẳng mang lại cho xã hội ích lợi nào! Những tờ báo như vậy không bao giờ xuất hiện trên thị trường, cũng không ai đặt mua qua bưu điện! Đó là tham nhũng chú gì nữa! 

Có một loại sách… để trên bàn cho vui!

Người biết bài này thường thấy trên bàn làm việc của ông bạn giám đốc DN một chồng sách lớn, cuốn nào cũng dày cộp. Đó chỉ là “ sách… quảng cáo” do đủ loại Nhà xuất bản và cơ quan báo chí ấn hành.! Cuốn nào cũng có tên gọi thật kêu. Ví dụ như Từ điển doanh nghiệp Việt Nam, Cẩm nang doanh nghiệp Việt Nam, Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam, Hàng Việt Nam chất lượng cao, Doanh nhân vàng thời mở cửa.v.v..Tôi hỏi ông bạn: Sách này để làm gì? Ông trả lời: Để trên bàn cho.. vui! Cứ một doanh nghiệp một trang giới thiệu rất đơn giản: tên doanh nghiệp, địa chỉ, điện thoại, Fax, ảnh trụ sở cơ quan, ảnh giám đốc v.v. cuốn gọi là “Cẩm nang doạnh nghiệp” chỉ có 500 trang, nghĩa là chỉ 500 DN, trong lúc đó ở nước ta có gần 500.000 doanh nghiệp? Thế thì “từ điểm”, “cẩm nang“ cái nỗi gì! Nhưng mà làm được 500 trang quảng cáo đóng thành “sách” ấy, tòa soạn báo đã thu được 2,5 tỷ đồng doanh thu (5 triệu đồng / trang, chưa tính 3 trang bìa 4, 3,2, mỗi trang từ 20 – 50 triệu đồng), trừ chi phí hoa hồng, tiền chế bản màu, in ấn, còn lãi ròng cả tỷ đồng! Bởi thế mà rất nhiều báo, nhà xuất bản năm nào cũng làm “Sách... quảng cáo” với nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng tất cả cuốn sách ấy đều không giúp ích được gì cho doanh nghiệp trong kinh doanh, chiếm lĩnh thị trường. Đó là tham nhũng chứ gì nữa! 

Vĩ thanh

Tôi không bao giờ phản đối việc quảng cáo trên báo chí. Vì quảng cáo càng nhiều chứng tỏ nền kinh tế càng phát triển. Nhưng quảng cáo theo kiểu “đi xin”, “ đi đọc lệnh”, hay “làm chuyên đề”, “sách... quảng cáo”... theo hình thức “lừa đảo” đã kể ở trên là làm khổ doanh nghiệp, là báo hại nền kinh tế đất nước. Các tòa soạn báo ơi, nhà báo ơi, tiền báo thu được từ quảng cáo đó là tiền thua lỗ của các doanh nghiệp cả đấy. Đây là một hiện tượng không lành mạnh nhưng rất phổ biến của báo chí hiện nay. Đề nghị các cơ quan chức năng có biện pháp giúp các báo nâng cao chất lượng bài vở sống được bằng nghề làm báo của mình!

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

18h30 HÔM NAY, RA MẮT "CHUYỆN NGHỀ" CỦA ĐẠO DIỄN TRẦN VĂN THỦY

Lễ ra mắt cuốn sách 
“Chuyện nghề của Thủy” 


Cuốn sách Chuyện nghề của Thủy được xuất bản vào tháng 5.2013. Trần Văn Thủy và Lê Thanh Dũng là đồng tác giả. 

Cuốn sách gói gọn cuộc đời làm phim của Trần Văn Thủy, từ cơ duyên đến với nghề, tới hành trình trở thành đạo diễn phim tài liệu hàng đầu của Việt Nam. Phần lớn cuốn sách nói về những gian nan, cơ cực, những nguy hiểm, bệnh tật, đói khát, bom đạn trên chiến trường.

Cuốn sách cũng kể lại những tình huống oái oăm xảy ra khi quay, số phận chìm nổi những bộ phim của Trần Văn Thủy khi ra mắt cho tới vinh quang mà các tác phẩm đạt được.

Cuốn sách đề cập đến những chuyện có thật xung quanh một con người cụ thể nhưng quan trọng hơn đó là những chuyện không chỉ là của một người mà còn là của một thời...

Đạo diễn Trần Văn Thủy chia sẻ: “Để che chắn cho bộ phim của mình được đến bờ đến bến còn mệt mỏi hơn rất nhiều để làm ra nó. Tác phẩm Chuyện nghề của Thủy là một cơ duyên của tôi”.

Trần Văn Thủy là đạo diễn phim tài liệu hàng đầu Việt Nam. 

Ông đã có hàng chục bộ phim tài liệu được giải cao trong các liên hoan phim trong nước và quốc tế như: Những người dân quê tôi (Giải Bồ Câu Bạc, Liên hoan phim Quốc tế Leipzig năm 1970); Phản bội (Giải Vàng Liên hoan phim Việt Nam 1980); Hà Nội trong mắt ai (Giải vàng Liên hoan phim Việt Nam 1988); Chuyện tử tế (1985 - Giải Bồ Câu Bạc Liên hoan phim Quốc tế Leipzig); Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai (1999, Giải phim ngắn hay nhất, Liên hoan phim châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 43)…
Tễu Blog tổng hợp

TRÍCH “CHUYỆN NGHỀ CỦA THỦY”

Lời dẫn của Quà Tặng Xứ Mưa: Truyện nghề của Thủy là cuốn sách mới của đạo diễn điện ảnh Trần VĂn Thủy, tác giả của những bộ phim tài liệu nổi tiếng, gây chấn động dự luận một thời HÀ NỘI TRONG MẤT AI và CHUYỆN TỬ TẾ. Do phim thể hiện chính kiến mạnh mẽ mà tác giả đã phải “lên bờ xuống ruộng”…

Tháng tháng tôi vẫn lĩnh suất lương còm và rong chơi. Chơi mãi thì cũng ngượng, cũng chán. Cả năm 1981 chẳng làm gì cho hãng phim cả. Cuối năm bình năng suất lao động, tôi thuộc diện yếu kém. Ðâu có phải lúc nào cũng có đề tài ngon, lúc nào cũng làm được phim hay! Nó còn do cuộc đời đưa đẩy, tâm linh mách bảo.

 

Ngàn lần có lỗi với tiền nhân

 

Ðầu năm 1982, tôi quyết định gặp lãnh đạo hãng phim xin làm một phim bất kỳ cho tròn bổn phận của một người làm công ăn lương, để cuối năm có “năng suất” như mọi người.

 

Phim nào cũng được, đề tài nào cũng được, hay dở gì cũng được, miễn là tròn bổn phận.

 

Ông Lưu Xuân Thư, giám đốc hãng phim, một người lô tô, tốt bụng, hiểu tâm trạng của tôi. Một hôm ông đi qua phòng hành chính, chỗ tôi ngồi, tay khua khua tập giấy:

 

- Hà Nội năm cửa ô đây, phim du lịch đây, ai muốn làm thì xin mời đây…!

 

Tôi bước ra giật lấy tập giấy trong tay ông.

 

Ðó là kịch bản Hà Nội năm cửa ô của tác giả Ðào Trọng Khánh đã được hãng phim duyệt để đưa vào sản xuất. Trang đầu, ông Trương Huy, trưởng phòng biên tập, có ghi một số ý kiến thẩm định nội dung: “Phim quảng bá du lịch, chất liệu chủ yếu của cụ Hoàng Ðạo Thúy…” (tài liệu này tôi còn lưu giữ cẩn thận).

 

Ðọc kịch bản xong, ngó ra ngoài phố xá, cảnh người rồng rắn xếp hàng mua khẩu phần lương thực, những người cơ nhỡ lay lắt nơi công viên vỉa hè. Cảnh quan thời đó (1982) thực sự điêu tàn. Chùa chiền di tích, phố cổ, của ngon vật lạ, con người thanh lịch… đâu còn như trong giấc mơ xưa của cụ Hoàng Ðạo Thúy để mà quảng bá du lịch. Làm một bộ phim màu dài năm sáu cuộn là một số tiền không nhỏ chỉ để chiếu chác vài lần lấy lệ rồi bỏ xó thì thật là thất nhân tâm.

 

Nhận kịch bản thì đương nhiên phải làm, nhưng làm thế nào với Hà Nội năm cửa ô thì tôi bí. Có thể vào tay người khác thì nhoáng cái là xong phim, là có phim. Tôi nhận tôi thua kém nhiều đồng nghiệp vì sự chậm chạp, cả nghĩ và cầu toàn. Hàng tháng trời tôi lang thang vào các đền chùa, điện Huy Văn, gọi là điện thì thật là tội nghiệp, chùa Bộc, đền Quan Thánh, nhà thờ Nguyễn Trãi, nhà thờ Chu Văn An, nhà thờ Ngô Thì Nhậm, Văn Miếu, mộ nữ sĩ Ðoàn Thị Ðiểm, dấu xưa của Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… Cả tháng trời tôi lần mò đọc sách ở Thư viện Quốc gia, Thư viện Hà Nội, Thư viện Khoa học; tìm gặp các nhà nghiên cứu…

 

Có lúc bỗng như bừng tỉnh, tôi tự hỏi tôi đang làm gì thế này? Quên béng rằng công việc trước mắt của tôi là làm phim chứ không phải tìm đọc lan man như thế. Tất cả những gì làm nên sự tích của các bậc tiên liệt tôi sưu tầm được, học hỏi được đều ám ảnh tôi, lôi cuốn tôi. Ðêm ngày tôi sống với những chuyện ấy, bị hút hồn vào những chuyện ấy. Tôi bàng hoàng và mặc cảm, thì ra trước đây tôi chẳng hiểu gì về Hà Nội cả. Tôi thấy ngàn lần có lỗi với tiền nhân vì không ý thức được rằng cha ông ta đã dày công như thế nào, đã hoài vọng như thế nào đối với hậu thế…

 

Thôi thì đằng nào cũng nhận làm rồi. Cũng tiền của ấy, công sức ấy, thời gian ấy, cũng vẫn đề tài Hà Nội nhưng làm khác đi về nội dung, về hồn cốt.

 

Điêu đứng

 

Lời bình phim: “Ðến phố Hàng Bột, tạt vào chùa Huy Văn, xưa gọi là điện Huy Văn. Ta gặp lại Lê Thánh Tông, gặp lại những chuyện kể mà người đời nay còn phải nhiều ngẫm nghĩ.

 

Bởi từng có thời thơ ấu gian nan, chịu nhiều oan trái hay bởi chữ Tâm mà xưa trên mảnh đất này, nơi vườn hoa Cửa Nam bây giờ, năm 1491, Lê Thánh Tông đã cho dựng đình Quảng Văn, trong đình đặt trống Ðăng Văn để ai có điều gì oan khuất, hết nơi bày tỏ, đến đây đánh lên ba hồi trống, nội quan ra nhận đơn và nhà vua sẽ xét xử.

 

Luận về các thời phong kiến xưa, các sử gia góp rằng “giá như thời hậu Trần hay thời Lê mạt mà đặt trống Ðăng Văn ở đây thì dân chúng quanh vùng sẽ phải đinh tai nhức óc”.

 

Khốn nạn quá! Cái chữ “xưa” sau này làm mình điêu đứng. Người ta thẩm vấn: Thế thì tại sao không phải thời phong kiến mà lại là thời phong kiến xưa? Anh nói như thế là có thời phong kiến nay à? Rồi thì “Lê mạt là Lê nào?”.

 

Phim vừa mới ra đời đã bị bầm dập không tưởng tượng nổi. 1983, 1984, 1985… tôi không còn cái gì nữa. Kể cả điều kiện làm việc cho đến “miếng cơm manh áo”, tất tật. Vợ tôi bảo tôi điên, bạn bè cũng nói vậy, nhưng khổ nhất là sự cô đơn.

 

Tất nhiên tôi không hề run sợ mà còn cảm thấy thanh thản, tự tin vào điều tôi nghĩ, vào việc tôi làm. Khi bị truy hỏi, tôi khẳng định với cơ quan công an và những người có trách nhiệm rằng:

 

- Kịch bản Hà Nội năm cửa ô chỉ là cái cớ để tôi khởi đầu, để tôi có người cộng sự, có máy móc, có phim nhựa, nó không có liên quan gì đến hồn cốt của Hà Nội trong mắt ai cả.

 

- Nội dung Hà Nội trong mắt ai, tức là cái kịch bản đích thực để làm phim là do chính tôi viết, tôi thực hiện, tôi chịu trách nhiệm.

 

Tôi không thể đổ sự phiền lụy cho ai và càng không thể bịa ra rằng ai đã xúi bẩy tôi trong công việc này.

 

…Hằng ngày tôi tìm đến những nơi từng quay bộ phim này để suy ngẫm, thắp hương và khấn thầm: “Thưa các bậc tiên liệt, con có tội tình gì không? Bộ phim chỉ nói về sự anh minh của các vị, lẽ nào lại bị đổ”…

 

Tôi “kêu” với các vị chức sắc: “Xin các anh chỉ bảo cho những chỗ không phải, những chỗ sai để chúng tôi sửa”.

 

Ban giám đốc hãng “kính chuyển” nguyện vọng này lên những người “cầm cân nảy mực”. Họ đồng ý cho sửa bộ phim, nhưng khi hỏi “cần sửa chỗ nào” thì một vị nói gọn lỏn: “Bộ phim này sai đến mức không thể sửa được”!

 

Cùng kíp làm phim có Lưu Hà, quay phim chính, con trai anh Lưu Xuân Thư. Ðây là bộ phim đầu tay của Hà ở Trường Sân khấu điện ảnh. Tôi xui Hà đề nghị nhà trường tổ chức chiếu phim này ở Cung Thiếu nhi với danh nghĩa “báo cáo tác phẩm”. Cung Thiếu nhi là điểm chiếu phim sang nhất Hà Nội lúc bấy giờ với hơn 500 chỗ, màn ảnh trắng, ánh sáng mạnh.

 

Danh sách mời, ngoài thầy trò của Trường Sân khấu điện ảnh, có các học giả, nhà nghiên cứu, lãnh đạo nhiều cục, vụ, viện…

 

Ơn trời, kế hoạch được chấp thuận! Khán giả đến chật cứng các hàng ghế. Trong khi xem họ reo hò, vỗ tay tán thưởng ầm cả rạp.

 

Xem phim xong, nhiều người thốt lên: “Sao cái phim như thế này lại bị cấm?”. Không ai, kể cả các vị bên Viện Triết, Viện Sử, Viện Văn, Viện Hán Nôm… không tán thành nội dung cuốn phim. Nhưng vẫn có lệnh bất thành văn từ đâu đó: “Không được chiếu bộ phim này dưới bất kỳ hình thức nào!”.

 

Ðó là vào giữa năm 1983. Tôi hết hi vọng.

.

Hà Nội trong mắt ai (trích lời bình)

 

Vào Bảo tàng Lịch sử đi tìm nghĩa của chữ Tâm cũng nên đến với Nguyễn Trãi. Ðất nước chỉ để lại một Nguyễn Trãi. Ông tiếng là người làng Nhị Khê nhưng sinh thành ở Hà Nội.

 

Với vua Lê, Nguyễn Trãi vẫn:

 

“…Nguyện xin bệ hạ thương yêu nuôi dưỡng lấy dân chúng, khiến cho trong xóm ngoài làng không còn tiếng oán hận sầu than. Ðó chính là cái gốc của quốc nhạc vậy… Thương yêu dân chúng hãy làm những việc nhân đức. Ðừng vì ơn riêng mà thưởng bậy, chớ vì mình giận mà phạt bừa. Ðừng thích tiền của mà xa xỉ. Có thế quốc gia mới yên ổn bền vững lâu dài được”.

 

Thờ chữ Tâm trong lòng và ngòi bút dám viết lên trời xanh những điều trung thực, Nguyễn Trãi ghi: “Trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai. Mến người có nhân là dân, mà người chở thuyền lật thuyền cũng là dân”.

 

Trong Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi viết: “Lẽ thành bại và sự hưng vong của một quốc gia có liên quan mật thiết tới nỗi vui buồn của người dân”.

 

Phải chăng Nguyễn Trãi đã kế thừa tinh thần của Trần Thủ Ðộ, vị khai quốc công thần đời Trần. Trần Thủ Ðộ nói: “Phàm đã làm vua trong thiên hạ phải biết lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, phải biết lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”.

 

Phải chăng Nguyễn Trãi đã kế thừa lời trăng trối của Trần Hưng Ðạo với vua Trần Anh Tông khi vua Trần Anh Tông vào hỏi kế giữ nước nếu giặc phương Bắc xâm lấn: “Khoan sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, lẽ đó là thượng sách để giữ nước”.

 

(*) Phim 90 phút, về chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979, giải vàng Liên hoan phim Việt Nam 1980, giải đạo diễn xuất sắc.

Nguồn: Ngô Minh Blog.

 


-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

NGÔ MINH: CHÚNG TA ĐANG ĂN THỊT ĐẤT NƯỚC MÌNH

CHÚNG TA ĐANG ĂN THỊT ĐẤT NƯỚC MÌNH
Ngô Minh

Cách đây vài ba năm, báo chí đưa tin làm tôi giật mình: Đến năm 2012, Việt Nam phải nhập than đá ! Thế mà đến năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài. Ai cũng lo, ai cũng bức xúc. Ôi thuở ấu thơ tôi được các thầy dạy :” Việt Nam ta rừng vàng biển bạc”. Bây giờ thì sắp cạn rồi sao ? Nhìn lại đối mới từ năm 1986 đến nay, một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi : Chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như thu nhập GDP đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả. Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao,Singapore , Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài nguyên khoáng sản, sao người ta giàu thế . Còn mình bán tài nguyên mà ăn, rồi con cháu vài thế hệ sau ăn không khí à ?

Tài nguyên quốc gia do mồ hôi xướng máu bao đời giành được gồm : trời, đất , núi, nước, rừng, biển, khoáng sản và môi trường. Trong hoà bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn . Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày, đang bị cày xới nham nhở !

20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu…Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành .

Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là 50 năm năm , chúng muốn biến mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi !

Bán hết rừng đến bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng…Nghe thông tin báo chí về việc xuất khẩu than lậu ở Quảng Ninh mà choáng váng . Trữ lượng than của ta ở Quảng Ninh có được bao lăm mà hô hào thành tích “khai thác và xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước”?; rồi quản lý yếu kém để cho hàng trăm công ty “ma” xuất khẩu than lậu một lúc hàng trăm tàu. Sao coi tài nguyên quốc gia “như vỏ hến” vậy ?

Người bán gỗ, bán than, thì có kẻ lại bán núi, bán đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bắc hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ , bây giờ đang bị xẻ thịt nham nhở. Liệu con cháu tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ ?. Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không?

“Bán đất” mới là cuộc tỉ thí vói tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu, bán trong nước cũng chẳng ai mua . Tỉnh nào cũng có ba bốm sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án khu biệt thư, …đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. mỗi năm có từ 73.000- 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bị chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ. Thế là khẩu hiệu của “dân cày có ruộng” thành ký ức lịch sử.

Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách , các tỉnh đang thi nhau bán đất nông nghiệp một cách vô tội vạ . Mất đất, chỉ nông dân và nhà nước là thua thiệt. Ruộng mình đó, đất mình đó, bỗng nhiên bị mất trắng tay . Tiền đền bù giá bèo không đủ mua đất mới để xây nhà, nói chi đến làm ăn sinh sống.

Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán cả bo-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom ( Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hóa Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì bất cần tương lai Tây Nguyên , bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác Các nhà chiến lược quân sự thường nói :” Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ !

Nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông. Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai vô tội vạ. Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được. Có tỉnh làm đến hàng chục nhà máy thuỷ điện. Được điện thì mất lúa vì đất đai khô cằn không có nước tưới, bị sa mạc hoá không trồng lúa, trồng màu được. Muốn phát điện thì mực nước tích ở hồ phải cao hơn mực nước chết. Ví dụ Hồ thuỷ điện Hoà Bình bình thường mực nước cao 115 mét. Mực nước chết cao 80 mét. Nghĩa là để có điện, phải tích nước cao hơn 80 mét. Cái lượng “nước chết” cao 80 mét ấy chứa hàng tỷ mét khối không thể đổ về những cánh đồng lúa được, thì ruộng khô hạn là phải ! Mùa lũ, nhà máy điện xả lũ để bảo vệ đập, thế là không chỉ xóm làng mà cả xá cũng ngập chìm trong nước. Làm thủy điện vô tội vạ cũng là một cách “ăn tài nguyên nước” qua dự án đầu tư. Không “ăn” dự án thì các quan huyện, quan tỉnh, quan trung ương tiền đâu mà làm nhà lầu, mua xe hơi, sống cuộc sống giàu sang phú quý, cho con đi học các trường nổi tiếng thế giới như Ha-vớt, Sóc-bon ?

Bộ Chính Trị và Chính phủ là người chịu trách nhiệm chính trong việc khai thác tài nguyên vô tội vạ . Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ và chính quyền các địa phương phải có một chiến lược khai thác tài nguyên lâu dài và chỉ đạo thực hiện thật quyết liệt mới mong không bắn đại bác vào tương lai. Chúng tôi đề nghị :

- Kiểm kê lại tài nguyên đất nước để có kế hoạch bảo vệ. Quy hoạch chi tiết ngay các vùng đất nông nghiệp lâu dài, vùng núi non hung vĩ, và cấm tiệt việc khai thác bừa bãi.

- Phải dừng ngay các dự án khai thác Bo-xít Tây Nguyên vì với sự án này, người Trung Quốc không cần bo-xít , cái mà họ cần là địa bàn Tây Nguyên, đó là điều mà nhiều trí thức lớn đã phân tích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có thư cảnh báo. Phải thu hồi các diện tích đất rừng bị bán cho nước ngoài, dù phải bồi thường hợp đồng , vì chúng đang đe dọa đến vận mạng, sự sống còn của đất nước.

- Hạn chế tối đa, kiểm tra chặt chẽ các dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên ( như xi măng, quặng ti tan, và các loại khoáng vật khác ) , khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để làm giàu cho đất nước. Chúng ta phải hướng nền kinh tế theo cách làm của Nhật Bản, Singapor , Hồng Kong, những nước ít tài nguyên nhưng biết cách làm giàu bằng trí tuệ.

Ôi, giá mà tiếng kêu của tôi đến được tai những người đang cầm vận mệnh đất nước trong tay?.

Nguồn: Blog Ngô Minh

  

-->đọc tiếp...