Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Chấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Chấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

GS. Trần Đình Sử: HỒ CHÍ MINH VÀ NGUYỄN THANH CHẤN


Bài thơ Vấn thoại của Hồ Chí Minh 
và vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn

Trần Đình Sử

Gần đây vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang phải ngồi tù 10 năm mà ông không hề có tội giết người đã chấn động dư luận xã hội. Mặc dù ông Chấn và gia đình đã kêu oan nhiều lần mà vẫn bị y án. Mãi đến khi người nhà ông Chấn điều tra, động viên người phạm tội ra đầu thú, thì ông Chấn mới được trả tự do. Từ vụ án đó, tôi bổng nhớ tới một bài thơ độc đáo của ông Hồ Chí Minh. Trong tập Nhật kí trong tù ông Hồ Chí Minh có bài thơ “Vấn thoại”rất đặc biệt, nó khác hẳn mọi bài thơ trong tập. Nếu các bài thơ khác hoặc kêu oan, hoặc tố cáo, hoặc phản ánh sinh hoạt trong tù, hoặc thể hiện ý chí gang thép, hoặc nỗi nhớ đồng chí trong nước, hoặc lấy lòng bọn quan coi tù… thì bài thơ này đứng riêng ra,  nó nói một vấn đề triết học xã hội, một chân lí phổ biến. Nó không còn là thơ trữ tình, mà là một bài thơ triết học duy nhất trong sự nghiệp thi ca của ông. 

Nguyên văn chữ Hán của bài thơ được phiên âm Hán Việt như sau:

Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: Nhĩ hữu tội,
Phạm viết: Ngô lương dân;
Quan viết: Nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: Ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần ;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần. 
(Tài liệu đã dẫn, tr. 320)

Nhan đề bài thơ hiện có nhiều cách dịch. Báo Nhân Dân ra ngày 13 tháng 5 năm 1978 dịch là “Hỏi tội” thực ra là không đúng, Vấn thoại không phải là hỏi tội, mà dịch là “hỏi chuyện” thì chẳng liên can gì tới nội dung bài thơ. Bản dịch do Nxb Giáo dục cung cấp năm 1993 trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, dịch là “Lời hỏi” (tr. 321), đã sát hơn nhiều, nhưng chưa rõ tinh thần. Theo tôi có thể dịch là “Đặt câu hỏi” hay “Nêu vấn đề” sẽ làm rõ vấn đề hơn.

Bản dịch nghĩa bài thơ của nxb Giáo dục, tr. 321 như sau:

Hai cực của xã hội,
Quan tòa và phạm nhân,
Quan bảo: anh có tội;
Phạm nhân thưa: tôi dân lành;
Quan bảo : anh nói dối;
Phạm nhân thưa: tôi nói thật;
Quan tòa tính vốn thiện,
Lại hầm hầm giả làm bộ ác;
Muốn khép người vào tội;
Lại ra vẻ ân cần.
Giữa hai cực này,
Có thần công lý đứng.

Bài này đã được ông Hoàng Ngọc Hiến bình luận trước tiên trong sách Văn học học văn, in năm 1990, tr. 74 – 77. Ông Hoàng Ngọc Hiến cho rằng bài thơ phản ánh tòa án Tưởng Giới Thạch, thể hiện tình trạng tha hóa của quan tòa, do người vốn hiền lành, mà vì vai trò quan tòa là buộc phải khép người phạm nhân vào tội. Do ông dựa vào bản dịch sai của báo Nhân Dân ở câu cuối: “Giữa hai thái cực này, Đã dựng lên thần công lý rõ ràng.” Ông đã bình: “Thần công lý dựng lên rõ ràng giữa hai thái cực, có nghĩa là người xét xử không phải là người đại diện cho công lí. Thần công lí sẽ phán xét lại  người xét xử và người bị xét xử. Người lương dân sẽ được minh oan. Viên quan tòa sẽ bị lên án. Trao cho chúng ta mô hình công lí, tác giả chuẩn bị cho chúng ta một tâm thế, một quan điểm để phán xét lại tất cả những vụ xét xử bất công.” (Tài liệu đã dẫn, tr. 76). Phải công nhận rằng Hoàng Ngọc Hiến phân tích rất sắc sảo, phân biệt người quan tòa và vai trò của hắn là khép tội, hắn sẽ bị thần công lí xét hỏi. Tác giả cũng nhận thấy tay quan tòa khó hiểu. Nó vốn thiện sao lại làm bộ ác? Đã lương thiện sao lại giả ý ân cần để khép phạm nhân vào tội?

Theo tôi, bài thơ nêu vấn đề công lí trong xã hội lưỡng cực, một vấn đề rộng hơn nhiều. Quan tòa và phạm nhân là biểu tượng cho lưỡng cực xã hội. Quan tòa là biểu tượng của quyền lực, còn phạm nhân là biểu tượng người bị trị. Chính ông Hồ Chí Minh đã dùng chữ “xã hội dích lưỡng cực” cơ mà, đâu phải là lưỡng cực của tòa án? Ông Hoàng Ngọc Hiến đã vô tình hiểu hẹp ý nghĩa của bài thơ đi. Đây đâu phải chuyện quan tòa và phạm nhân trên phiên tòa xử án, mà là mô hình xã hội lưỡng cực. Quả vậy, nếu ta xem kĩ việc xử án ở trong bài thơ thì sẽ thấy hoàn toàn không giống với việc xử án trên thực tế tí nào.  Mà việc xử án đâu có chuyện giản đơn chỉ có quan tòa và phạm nhân kẻ nói qua, người nói lại như là hai gã cãi nhau tay đôi như vậy! Phải có nhân chứng, vật chứng, có luật sư bào chữa cho bị can. Sau đó mới đến phần luận tội rồi tòa mới tuyên. Trong xã hội lưỡng cực, người dân chỉ có quyền kêu oan, còn kết tội thì chỉ chức năng trời sinh của  quan tòa. Quan tòa vốn lương thiện, cớ sao ông ta giả bộ hầm hầm làm ác? Đó là vì vai trò của hắn ta là chỉ muốn buộc tội cho bị can, khép tội người lương dân. Hắn làm bộ ác, đánh đập dã man để dọa dẫm, ép cung, nhằm hoàn thành nhiệm vụ. Trường hợp thứ hai, muốn bắt phạm nhân nhận tội, thì lại giả bộ ân cần, quan tâm hoàn cảnh, số phận, gia đình, tương lai, con cái nạn nhân, rồi hắn mớm cung để đưa họ vào tròng tội lỗi lao lí. Dù làm bộ ác hay làm bộ ân cần quan tâm thì mục đích chỉ là một: khép người bị can vào tội…Điều lạ lùng là quan tòa trong bài thơ không bao giờ nghĩ đến trường hợp bị can vô tội. Họ không có khái niệm bị can vô tội.  Ai mới đọc qua bài thơ này, có thể nghĩ rằng ông Hồ Chí Minh uyên bác thế, mà ở đây có vẻ như đã dùng từ sai, không chính xác. Nếu người chưa thành án, thì chỉ là bị can, chưa có tội, thì đâu phải là phạm nhân. Chữ “phạm” ở trong bài thơ rõ ràng chứng tỏ ông cụ đã đồng nhất bị can với phạm nhân làm một là không đúng. Nhưng mặt khác, ông Hồ Chí Minh lại quả là rất thâm thúy, bởi vì trong xã hội phân lưỡng cực, mọi bị can đều đã là phạm nhân, cho nên đâu cần phân biệt làm gì cho mất thì giờ. Đây là điều cực kì sâu sắc. Bởi chính đây mới là sự bất công phổ biến, tất yếu của mọi xã hội lưỡng cực. Khi mọi bị can đều là phạm nhân thì cần gì phải xử án nữa, đâu cần công lí nữa? Vậy công lí đứng ở đâu?

Theo tôi, bản dịch trên báo Nhân Dân mà ông Hoàng Ngọc Hiến sử dụng là không chính xác: “Giữa hai thái cực ấy, Đã dựng lên thần công lí rõ ràng”, bởi trong nguyên văn không hề có chữ “rõ ràng” nào hết. Đó là người dịch tùy tiện thêm vào. Nguyên văn chỉ là: “Giữa hai cực ấy, Có thần công lí đứng”. Nhưng nói vậy thì ông Hồ Chí Minh có vẻ lại rơi vào mâu thuẫn. Bởi xã hội đã phân thành lưỡng cực thì thần công lí đâu có chỗ đứng. Theo tôi hiểu, trong bài thơ này, thần công lí vắng mặt, chứ không phải  là “thần công lí đã dựng lên rõ ràng”. Ông Hồ Chí Minh đã nêu ra một vị trí khuyết. Nếu đã có thần công lí đứng rõ ràng rồi thì xã hội đâu còn là lưỡng cực, mà đã là tam cực rồi, mà như thế thì việc xử án đã công minh. Cái bất hạnh của người dân là chỉ được ở trong xã hội lưỡng cực, mà đã là lưỡng cực thì không có chỗ cho thần công lí đứng. Ông Hoàng Ngọc Hiến nhầm lẫn sâu sắc ở chỗ này. Ông Hồ Chí Minh chỗ này lại cũng sâu sắc thâm thúy. Bởi “Thần công lí” chỉ là cái sương khói vô hình, nó đâu có thực thể, đâu có quyền lực. Ông thần có đứng ở đấy nữa thì cũng chẳng có tác dụng gì. Đó chỉ là hư vị để an ủi tinh thần và che mắt thế gian. Đúng hơn nó là một ước mơ. Ông Hồ đang ước mơ có một thần công lí ở đây. Nhưng vấn đề không phải  là thần. Phải là một cơ quan với con người thực thể có quyền lực xã hội thì nó mới giải quyết được công lí. Mà trong xã hội lưỡng cực nó lại vắng mặt. Thần công lí phải có vị trí xứng đáng trong cơ cấu xã hội. Ta phải hỏi tại sao ông Hồ phải ở tù oan tại Quảng Tây hơn một năm, trong khi đó tại tòa án Hương Cảng, ông được tha. Ta phải hỏi tại sao ông Phan Bội Châu lại được ân xá dưới tòa án của Pháp, chứ không phải của tòa án Nam triều. Công lí nằm trong cơ cấu xã hội, chứ không ở thần phật nào hết. Không có tổ chức xã hội tương ứng thì không có công lí.

Bài thơ dĩ nhiên là phản ánh suy tư của ông Hồ Chí Minh về thân phận lao tù, bị bắt oan ở phố Túc Vinh của mình với tư cách là người bị bắt, bị can, bị nghi là Hán gian mà chưa tìm được thần công lí. Nhưng cái lớn của ông trong bài này là đã vượt lên trường hợp riêng của mình để nghĩ đến tính phi lí của xã hội lưỡng cực. Bài thơ nêu một chân lí bất hủ về mọi xã hội lưỡng cực. Rất tiếc về sau ông cũng bị dư luận quy cho là người xây dựng và duy trì xã hội theo mô hình lưỡng cực mà có lúc ông đã có lúc rơi vào.

Đọc bài thơ Vấn thoại sâu sắc của Hồ Chí Minh ta hiểu rõ ông Nguyễn Thanh Chấn là nạn nhân của xã hội lưỡng cực, nhưng “thần công lí” của ông chẳng ai khác hơn là người vợ tao khang đã 10 năm ròng rả, không quản khó khăn, gian khổ, tìm được một cách hy hữu kẻ giết người đích thực để làm cơ sở kết thúc vụ án oan cho chồng. Nó chỉ là một may mắn hết sức ngẫu nhiên trong một xã hội lưỡng cực.

Hà Nội, 6-12-2013
Nguồn: Trần Đình Sử Blog

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Hiệu Minh: TỪ ÉP CUNG CÁ NHÂN ĐẾN ÉP CUNG QUỐC GIA




Từ ép cung cá nhân đến ép cung quốc gia
Hiệu Minh

Mấy tuần nay, vụ ông Nguyễn Thanh Chấn bị án phạt tù oan đã gây chấn động dư luận. Có kẻ nhận tội nên ông được tha sau 10 năm ngồi tù. Dư luận cả nước băn khoăn, tù nhân này có bị nhục hình, bức cung hay không. Ngay trong Quốc hội, nhiều người phẫn nộ với cách hành xử của tòa án và các điều tra viên.

Khi biết các điều tra viên đều chối bay biến, người ta tự hỏi, một người lương thiện, bỗng nhận tội để tự vào tù. Đứa trẻ con biết đọc, biết viết cũng có thể trả lời được, chẳng cần đến lời giải thích vòng vo của Chánh án Tối cao Trương Hòa Bình.

Thế giới đầy những chuyện tù oan, từ xa xưa đến giờ và sẽ còn tồn tại mãi. Xứ tam quyền phân lập như Mỹ vẫn có người bị án oan. Nhưng không thể dựa vào đó mà nói, người ta sai, mình có quyền làm sai theo. Thấy kẻ khác giết người mà mình vác súng bắn, bởi “có người làm thế nên tôi bắt chước”. Chỉ có trộm cắp, côn đồ đường phố mới lý luận thế.

Tại các quốc gia tiến bộ, pháp luật nghiêm minh, khi phát hiện ra sai như thế, người ngồi ghế quan tòa, cảnh sát điều tra, hoặc là mất việc, nặng hơn là đi tù nếu phạm tội ép cung, nhục hình, hoặc phải đền cả triệu đô la. Hệ thống tòa án độc lập và luật sư có quyền tranh tụng đến cùng để bảo vệ thân chủ, nên án oan sai bớt đi rất nhiều.

Xã hội văn minh sinh ra “tam quyền phân lập” và báo chí là quyền lực thứ tư “chõ mũi” vào ba nhánh quyền lực trên, để đảm bảo “tam quyền” không thành nhóm mafia do thông đồng với nhau vì lợi ích nhóm. Chuyện rõ như ban ngày và chẳng cần chứng minh tính ưu việt của xã hội dân chủ. Nếu có cái nhìn dài hạn trong phát triển không tuyệt đối hóa sự lãnh đạo của bất kỳ ai.

Tại Việt Nam, như TBT Nguyễn Phú Trọng nói “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”, thì chẳng có tam quyền, mà đảng đứng trên tất cả. Báo chí đóng vai trò tuyên truyền cho đường lối của đảng mà không thể phản biện.

Độc đảng tạo nên quyền lực tuyệt đối, dẫn đến quyền lực bị tha hóa, chính là nguyên nhân làm cho khối Đông Âu đã sụp đổ, kéo theo Liên Xô tan vỡ. Thời internet đã dần bạch hóa những khiếm khuyết và lỗi lầm do hệ thống này gây ra. Các cuộc cách mạng mầu nổ ra, những kẻ tàn bạo bị xử bắn, bị dân đập chết trên đường phố, xưa kia xử án dân bằng những phiên tòa kangaroo nay họ ngồi sau song sắt.

Nếu Hiến pháp được thông qua với điều 4 “Đảng lãnh đạo toàn diện” được giữ nguyên tại kỳ họp Quốc hội này thì các vị “Yes – Đồng ý” sẽ giúp cho “quyền lực tuyệt đối” được tiếp tục. Từ khi đảng giành chính quyền tới này, bất kỳ ai nói trái lời đảng dù nhiều lúc đảng sai nghiêm trọng, đều bị dọa dẫm, bị bắt, bị tù đầy, dân phải im mà đồng ý, bởi cơ chế phản biện xã hội không tồn tại. Đó kiểu “ép cung” 90 triệu người.

Ông Nguyễn Thanh Chấn
Quốc hội từng bỏ phiếu “lấy được” cho Hà Nội mở rộng, bắt dân Mường Mán thành người Thủ đô, bauxite Tây Nguyên là chủ trương lớn, và nhiều dự án trời ơi khác. Kết quả thế nào, chắc những người “Yes” còn nhớ.

Ông Nguyễn Thanh Chấn bị ép cung, bị dọa nạt và hạ nhục nên phải nhận tội, suốt 10 năm sống trong ngục tù. Đó là thảm họa cá nhân và nền pháp lý.

Nhưng chuyện gì xảy ra nếu một đất nước bị “ép cung” bởi vài điều trong Hiến pháp. Ở tầm quốc gia, khi nhận ra sai lầm, thời gian không phải là một thập kỷ như ông Chấn ngồi sau song sắt.

Các đại biểu Quốc hội hãy nghĩ một chút trước khi chọn nút Yes or No – Đồng ý hay Không việc sửa đổi Hiến pháp mà thực chất là chẳng thay đổi chút nào.

Hiệu Minh

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

LS TRẦN VŨ HẢI: PHẢI VỪA "ĐẤM" VỪA "XOA"

Vụ 10 năm oan sai
Làm rõ “trắng đen” phải vừa “đấm”, vừa “xoa”
(LĐO) - Thứ ba 12/11/2013 10:00

Ngay sau khi Công an tỉnh Bắc Giang cho biết, các cán bộ điều tra trong vụ án oan sai 10 năm phủ nhận bức cung ông Nguyễn Thanh Chấn, dư luận đã “nảy lửa”, với những “kịch bản”, để làm rõ câu hỏi: Vì sao ông Nguyễn Thanh Chấn không giết người lại nhận tội?
 
Luật sư Trần Vũ Hải - người đã “giải cứu” thành công nhiều người bị kết án oan - hiến kế qua cuộc trao đổi với phóng viên Lao Động.

Ông Nguyễn Thanh Chấn cho biết sở dĩ ông phải nhận là đã giết người là do bị điều tra viên (Công an Bắc Giang) ép cung, dùng nhục hình. Các điều tra viên lại phủ nhận. Quan điểm của ông trong “tình huống” mà “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”? 

Rõ ràng ông Nguyễn Thanh Chấn đã bị kết tội oan. Theo tôi, các cán bộ điều tra viên (ĐTV), kiểm sát viên (KSV), thẩm phán đã điều tra, truy tố, xét xử vụ án này từ cấp sơ thẩm đến cấp phúc thẩm phải chịu trách nhiệm trực tiếp và cần phải được xử lý. 

Sao ông lại “quyết liệt” thế? 

 Làm gương để hạn chế những vụ án oan, sai do cán bộ trong những cơ quan pháp luật gây ra. Mới đây, chúng ta kỷ niệm ngày Pháp luật Việt Nam. Đâu đâu cũng treo khẩu hiệu: Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Các cơ quan pháp luật và cán bộ của họ phải gương mẫu trong việc thực hiện theo pháp luật, nếu họ làm sai phải xử lý.
 

Việc các ĐTV tường trình không ép cung, nhục hình đối với ông Chấn là điều có thể dự đoán trước. Để giúp xử lý những ĐTV, KSV, thẩm phán trong vụ án này một cách tâm phục khẩu phục, tôi xin hiến kế sử dụng biện pháp vừa đấm vừa xoa.

Vừa “đấm” vừa “xoa” - sao lại “ nước đôi” thế ông?

 

“Rắn ngay” là “cú đấm” số 1. Có nghĩa là đình chỉ công tác tức thì đối với các ĐTV, KSV và thẩm phán tham gia vụ án oan này - nếu họ còn đang công tác - để chứng minh các cơ quan pháp luật không bao che các cán bộ làm sai và quyết xử lý nghiêm túc những người này.
 

“Xoa” có nghĩa là: thức tỉnh lương tâm, trách nhiệm của những cán bộ liên quan. Thủ trưởng các cơ quan liên quan hãy “thì thầm to nhỏ” với những cán bộ này, khuyên họ viết đơn từ chức, thôi việc và nhận trách nhiệm, nhận lỗi do đã làm sai. Hẹn trong một tháng, nếu họ chấp nhận như vậy sẽ đề nghị cơ quan có thẩm quyền miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho họ.

Các ĐTV vừa viết tường trình phủ nhận sự cáo buộc của ông Nguyễn Thanh Chấn với họ. Nay tôi e sẽ lại chẳng “đâu vào đâu”?

 

“Vỏ quýt dày có móng tay nhọn” chứ. Ta áp dụng biện pháp “Đấm” số 2, đó là: xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự những kẻ ngoan cố. Giải thích rõ cho họ, những cái sai khi tiến hành tố tụng là rõ ràng, không thể chối cãi được.
 

Cụ thể ĐTV, KSV, thẩm phán nào trong vụ án Nguyễn Thanh Chấn cũng đều biết rõ những tình tiết, yếu tố quan trọng sau đây trong vụ án:
 

- Không có chứng cứ nào xác định ông Nguyễn Thanh Chấn phạm tội giết nạn nhân Nguyễn Thị Hoan ngoài những lời khai, nhận mà ông Chấn đã khẳng định trước các tòa sơ thẩm, phúc thẩm là vì bị mớm cung, nhục hình.
 

- Hiện trường vụ án lưu lại nhiều dấu vết của kẻ gây án, trong đó có dấu vân tay, dấu chân, vết máu. Không có dấu vết nào được kết luận giám định là dấu vết của ông Chấn, tức ông Chấn không có mặt tại hiện trường khi xảy ra vụ án.
 

- Ông Chấn có chứng cứ ngoại phạm. Khi xảy ra vụ án ông ở nhà, được chứng minh bằng bảng kê thanh toán điện thoại của bưu điện và nhiều nhân chứng khác.
 

- Người nhà nạn nhân khai bị mất nhẫn vàng, nhưng không có chứng cứ chứng minh ông Chấn liên quan đến việc mất nhẫn vàng của nạn nhân. Nếu người nhà nạn nhân khai đúng, phải đặt ra khả năng đây là vụ giết người cướp của, tức lời khai, nhận tội của ông Chấn không phù hợp.
 

Với những tình tiết, yếu tố trên, bất cứ ĐTV, KSV, thẩm phán nào đã tiến hành tố tụng cũng phải có trách nhiệm rút bỏ cáo buộc hoặc tuyên vô tội đối với ông Chấn hoặc ít nhất cũng yêu cầu điều tra lại với những điều tra viên khác để khách quan, nếu họ có lương tâm và hiểu chức phận của mình. Làm khác đi, chính là là cố ý làm sai.
 

Với lập luận trên, các ĐTV, KSV, thẩm phán phải hiểu họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong các điều 293 (Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội), điều 295 (Tội ra bản án trái pháp luật), điều 298 (Tội dùng nhục hình), điều 299 (Tội bức cung), điều 300 (Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án) Bộ luật hình sự.

Ông có nghĩ đến tình huống, họ đều là những người am hiểu luật pháp, thấy “căng” quá, họ “hối lỗi” thì sao?

 

Thì ta thực hiện biện pháp “Xoa” thứ 2. Sau khi những cán bộ này nhận thức, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như trên, tiếp tục khuyên họ thành khẩn khai báo và nhận lỗi, đặc biệt đối với những ĐTV đã trực tiếp điều tra vụ án.
 

ĐTV đầu tiên nào dũng cảm thừa nhận đã mớm cung, nhục hình, “đạo diễn” ông Chấn phải khai, nhận tội mà ông không phạm, sẽ được đặc biệt khoan hồng. Còn đối với những cán bộ nào vẫn còn ngoan cố, sau khi được áp dụng biện pháp “xoa” thứ 2, áp dụng biện pháp kỷ luật ở mức cao nhất và Cục điều tra - Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ngay - đó là “cú đấm cuối cùng”.
 

Tôi tin là “trắng, đen” của vụ oan sai 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn sẽ được phân minh.

Thưa luật sư, một cuộc trao đổi khá thú vị và tôi tin, những “biện pháp” của luật sư hẳn sẽ được dư luận đồng tình!

Nguồn: Lao Động.

-->đọc tiếp...

Bùi Hoàng Tám: HỌ VU OAN ÔNG CHẤN ĐỂ LÀM GÌ?

Họ vu oan ông Chấn để làm gì?
Bùi Hoàng Tám 
Theo Dân Trí

Từ ngàn đời nay, một trong những tội ác không thể tha thứ, đó là tội “vu oan giá họa, bốc lửa bỏ tay người”. Thế nhưng họ đã nhẫn tâm gây ra tội ác tày trời này với ông Nguyễn Thanh Chấn và gia đình ông? Vì sao vậy? Họ làm thế để làm gì, vì mục đích gì? Họ có hai chữ gọi là “lương tâm” không nhỉ?

 Đó là câu hỏi day dứt mình suốt từ khi xảy ra vụ án oan thảm khốc của ông Nguyễn Thanh Chấn.

Trước hết, phải khẳng định rằng họ là những người hiểu biết, có ăn có học nên chắc hẳn họ phải biết đó là tội ác trời không dung, đất không tha.

Một tội ác giết người không hơn không kém.

Việc ông Chấn không bị tử hình nhờ chính sách khoan hồng vì người bố liệt sĩ nằm ngoài sự toan tính của họ.

Thế mà họ đã nhẫn tâm thực hiện không phải một ngày, hai ngày mà là nhiều ngày. Cũng không phải một người hay hai người mà là nhiều người. Không chỉ thế, họ còn dàn dựng rất công phu, với các bài bản, lớp lang hẳn hoi…

Hủy hoại danh dự của cả một dòng tộc, đẩy một gia đình có 4 người con đến chỗ tan nát song 10 năm qua, có ai trong số họ dù chỉ một lần cảm thấy lương tâm mình áy náy? Có ai trong số họ run sợ trước quả báo, tâm linh?

Có lẽ không. Họ vẫn thản nhiên sống trong nỗi đau tận cùng của người vô tội. Họ vẫn lên chức, lên tước, lên lương…

Ngay cả khi những “cộng sự” của họ bị tai nạn thảm khốc, không biết từ sâu thẳm lương tâm, có bao giờ họ nghĩ đến điều “nhân quả” như tên bài báo nói về vụ việc này đăng trên Gia đình & Xã hội “"Thuyết nhân quả” trong vụ án oan tại Bắc Giang?”.
Mỗi con người, mỗi gia đình sống trên đời ai cũng có thể bất ngờ gặp tai nạn. Điều khác nhau là với người này thì nhận được sự sẻ chia, thương xỏt còn với người khác thì ngược lại.

Rồi đây, bằng sự nghiêm minh của luật pháp, ai gây nên nỗi oan sai cho ông Chấn sẽ phải chịu trách nhiệm. Song không chỉ có họ, vợ con và người thân của họ sẽ sống như thế nào trong mắt những người dân?

Đây là một nỗi đau lớn nhưng có lẽ cũng là sự công bằng “trời xanh có mắt” vì những gì họ “gieo gió” ra cho gia đình ông Chấn thì giờ đây, chính họ và gia đình họ lại “gặt bão”.

Vậy thì chả lẽ chỉ vì cái gọi là “thành tích” mà họ làm điều khủng khiếp này sao? Chả lẽ vì những tấm bằng khen hay một tràng vỗ tay, một lần lên chức, lên lương… mà họ nhẫn tâm làm điều độc ác này?

Theo thông tin mới đây, trong tất cả các bản tường trình của 6 điều tra viên liên quan còn khẳng định mình không ép cung ông Chấn!?

Ơ hay! Thế họa ông Chấn tâm thần chắc khi mà “tự nhiên như nhiên” lại nhận mình giết người để đối mặt với án tử hình rồi suốt 10 năm đằng đẵng kêu oan? Mà không thể có chuyện ông Chấn bị điên bởi nếu bị điên, ông Chấn đã không bị truy cứu trách nhiệm.

Rồi một Lý Nguyễn Chung nữa, tự nhiên không giết người lại nhận mình giết người để rồi vào tù và thốt lên rằng từ khi nhận tội, thấy lòng mình thanh thản?

Nói trắng ra, cho đến lúc này, ngay cả khi mọi chứng cứ đã rõ như ban ngày, họ vẫn không hề hối hận.

Rốt cuộc, họ có lương tâm không nhỉ và họ làm thế để làm gì nhỉ?
Bùi Hoàng Tám
  
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

LS. TRẦN VŨ HẢI NÓI VỀ THÔNG ĐIỆP CỦA NGÀY PHÁP LUẬT VIỆT NAM (9.11.2013)

Bài thứ 5 trong loạt những bài viết của Trần Vũ Hải
nhân dịp kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIII: 

Ngày Pháp luật Việt Nam, Hiến pháp, Công ước về nhân quyền và Nguyễn Thanh Chấn, Nguyễn Công Nhựt

Luật sư Trần Vũ Hải
Ngày 9/11/1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên. Năm 2012, Quốc hội đã coi ngày 09/11 là Ngày pháp luật Việt Nam. Những ngày này, ít thấy báo chí, trang mạng, người dân bàn về Hiến pháp, trong khi vụ án Nguyễn Thanh Chấn đã được thông tin, bình luận dày đặc.

Vụ án Nguyễn Thanh Chấn có thể sẽ trôi đi, nhưng Hiến pháp vẫn còn đó. Nguyễn Thanh Chấn có thể là người may mắn nhất trong những người bất hạnh. Nhưng có những người bất hạnh khác không bao giờ còn cơ hội gặp may như Nguyễn Công Nhựt (đã chết trong trụ sở công an huyện Bến Cát – Bình Dương), nếu Hiến pháp vẫn không hạn chế được việc bắt bớ tùy tiện từ phía cơ quan công lực. 
Điều 11 Hiến pháp năm 1946 quy định “ Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam”. Theo Hiến pháp này, cơ quan Tư pháp chính là Tòa án các cấp.

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Việt Nam gia nhập năm 1982) quy định tại khoản 4 điều 9: “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước tòa án, nhằm mục đích để tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ  và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp”.

Có thể thấy Hiến pháp 1946 ra đời trước Công ước quốc tế trên, nhưng đã quy định về việc bắt giữ tương tự như Công ước này. Trong khi Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật”. Còn theo điều 20 Dự thảo 4 của Dự án sửa đổi Hiến pháp:Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định”. 

Quy định của Hiến pháp hiện hành và Dự thảo Hiến pháp vẫn cho phép trường hợp bắt theo phê chuẩn của Viện kiểm sát và không quy định quyền của người bị bắt được Tòa án xem xét việc bắt, giam, giữ như theo Hiến pháp 1946 và Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị. Nói cách khác, so với bản Hiến pháp 1946 và Công ước quốc tế này, Hiến pháp hiện hành và Dự thảo Hiến pháp đã có bước thụt lùi về quy định hạn chế việc bắt giữ tùy tiện, chưa đảm bảo được quyền cho người bị bắt giữ.

Thực tế ở Việt Nam, cơ quan công an bắt giữ nghi phạm (phần lớn là bắt theo lệnh khẩn cấp), sau đó chuyển hồ sơ đến Viện Kiểm sát xin lệnh phê chuẩn. Nếu Kiểm sát viên nào có trách nhiệm, họ có thể gặp trực tiếp nghi phạm để kiểm tra việc bắt giữ có hợp pháp hoặc cần thiết hay không trước khi phê chuẩn bắt giữ. Nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam không quy định bắt buộc thủ tục này. Do đó, phần lớn các trường hợp bắt giữ, Viện Kiểm sát chỉ căn cứ vào hồ sơ của cơ quan điều tra để phê chuẩn. Việc này đã tạo kẽ hở cho những điều tra viên kém đạo đức, kém chuyên môn tùy tiện bắt, giữ nghi phạm và bức cung, ép cung họ để có hồ sơ không đúng sự thật chuyển đến Viện Kiểm sát, khởi nguồn việc oan sai. Hoặc sau khi đã “thỏa thuận”, nghi phạm được tự do, không cần có hồ sơ chuyển đến Viện Kiểm sát.

Kỹ sư Nguyễn Công Nhựt chết ở trụ sở công an huyện Bến Cát – Bình Dương ngày 25/4/2011. Theo công an huyện Bến Cát, anh Nhựt tự nguyện xin ở lại trụ sở công an huyện nhiều ngày, công an không bắt giữ. Thế nhưng tại sao anh Nhựt đã tự nguyện ở lại trụ sở công an lại tự tử? Không thể lý giải được. Thực tế không ai tự nguyện ở trụ sở công an (nếu như họ không bị thế lực khác đe dọa về tính mạng). Đây là một kiểu bắt giữ lách luật.

Cuối năm 2012, nhiều thành viên của một gia đình đại gia cũng phải viết đơn tự nguyện ở lại nhiều ngày tại cơ quan công an. Và họ chỉ được tự do sau khi đã ký vào một thỏa thuận. Không có hồ sơ nào được chuyển đến Viện Kiểm sát về vụ tự nguyện này.

Trong vụ Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, theo lời ông Chấn, ngày 20/9/2003, ông được cơ quan điều tra mời lên lấy lời khai và sau đó không được trở về nhà. Đến ngày 28/9/2003, trên đe dưới búa (theo đúng nghĩa đen), ông Chấn đã có đơn đầu thú. Và nhờ đơn đầu thú này và các bản cung nhận tội do ép cung, Viện Kiểm sát đã phê chuẩn việc bắt giữ.

Nếu có quy định như theo Hiến pháp 1946 và Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, nghi phạm sẽ có cơ hội đến trước Tòa án để công khai trình bày, khiếu nại về việc bắt giữ. Nếu có việc ép cung, nhục hình từ công an, nghi phạm đã nêu ngay vấn đề đó cho Tòa án, và Tòa án đương nhiên phải kiểm tra chứng cứ khác (ngoài lời và bản cung của nghi phạm) để quyết định phê chuẩn lệnh giam giữ, sẽ chỉ định luật sư hoặc khuyến cáo nghi phạm nhờ sự trợ giúp của luật sư. Có quy định như vậy, trường hợp oan sai như Nguyễn Thanh Chấn sẽ được sớm ngăn chặn.

Bản Dự thảo Hiến pháp đi kèm Kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức đã đề xuất ít nhất sau 24 giờ kể từ khi bị bắt, người bị bắt giữ sẽ được dẫn giải đến Tòa án để Tòa án quyết định giam hay trả tự do.

Tổ chức theo dõi nhân quyền Quốc tế (HRW) đã khuyến nghị Việt Nam cần áp dụng theo Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, cụ thể quy định trong Hiến pháp sau 48 giờ, nghi can bị bắt có quyền được ra tòa để tòa kiểm tra tính hợp pháp của việc bắt giữ.

Rõ ràng những góp ý trên nhằm giúp Việt Nam cải thiện nhân quyền, thực hiện đúng cam kết khi gia nhập Công ước quốc tế trên. Đáng tiếc, những góp ý này đã bị bỏ qua. Những “Nguyễn Thanh Chấn”, “Nguyễn Công Nhựt” sẽ còn xuất hiện, nếu …. 

T.V.H

-->đọc tiếp...