Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

RFI: VIỆN KHỔNG TỬ HAY LÀ CUỘC XÂM LĂNG VĂN HÓA?




.
Viện Khổng Tử hay cuộc xâm lăng văn hóa Trung Quốc? 

Thanh Phương thực hiện

Trong bản tuyên bố chung Việt Nam- Trung Quốc nhân chuyến viếng thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại Hà Nội giữa tháng 10 vừa qua, hai quốc gia đã thông báo «nhất trí» thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam.  

Thật ra, Viện Khổng tử đã được Trung Quốc thành lập ở rất nhiều nước khác trên thế giới. Việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam đã được chính phủ Hà Nội quyết định từ năm 2009, nhưng thông báo chính thức về việc thành lập viện này đã một lần nữa gây lo ngại cho giới nhân sĩ trí thức Việt Nam về nguy cơ xâm lăng văn hóa của Trung Quốc, trong bối cảnh mà phim ảnh Trung Quốc từ nhiều năm qua tràn ngập các đài truyền hình Việt Nam và văn hóa Trung Qu ốc chi phối ngày càng nhiều đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt là trong kiến trúc đền chùa. 

Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội nêu lên những nguy cơ tiềm ẩn từ Viện Khổng tử sẽ được thành lập ở Việt Nam :

Nghe băng ghi âm cuộc phỏng vấn tại đây:  

RFI: Xin kính chào tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. Thưa ông, những nước như Pháp hay Đức cũng đã có những trung tâm văn hóa ở Việt Nam như Alliance française hay Viện Goethe. Nhưng vì sao việc thành lập Viện Khổng tử của Trung Quốc lại gây lo ngại như vậy?

TS Nguyễn Xuân Diện: Việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam không phải chỉ mới được đặt ra trong chuyến viếng thăm của thủ tướng Lý Khắc Cường, mà từ năm 2009, ông Tập Cận Bình, khi ấy là phó chủ tịch Trung Quốc, khi đi thăm Việt Nam đã thúc giục Việt Nam thành lập Viện Khổng tử để tăng cường hợp tác văn hóa, giáo dục. 

Theo tôi biết, trên thế giới hiện đã có hơn 40 nước có tổng cộng hàng trăm Học viện Khổng tử. Riêng Thái Lan thì đã có 13 Học viện Khổng tử. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có nét tương đồng nhau về mặt văn hóa và gần đây là người ta có nhắc đến tương đồng về chính trị, nhưng đến bây giờ mới xúc tiến mạnh việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam. Theo tôi biết, học viện này sẽ được đặt trong Đại học Hà Nội (Đại học Ngoại ngữ cũ).

Từ khi nhận được tin này, những nhà nghiên cứu, những nhân sĩ, trí thức rất là lo lắng. Lo lắng nhiều hơn là vui mừng. Nhiều nước đã đặt các học viện, các trung tâm văn hóa ở Việt Nam, nhưng những học viện, những trung tâm đó không gây lo ngại nhiều như Học viện Khổng tử này. Lý do là vì trong người dân Việt Nam luôn thường trực một tinh thần phản kháng, một sự tự đề kháng đối với văn hóa Trung Quốc, mặc dù là tư tưởng của Khổng tử, các thiết chế, mô hình Nhà nước theo kiểu Nho giáo của Khổng tử đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ rất lâu rồi.

Chúng tôi rất lo lắng bởi vì Viện Khổng tử này chắc chắn không phải được lập nên để tuyên truyền về giáo lý, tinh thần triết học hay cuộc đời và sự nghiệp của Khổng tử, cũng như về Nho học : Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Tam Tòng Tứ Đức...

RFI: Theo ông biết thì Viện Khổng tử của Trung Qu ốc ở Việt Nam sẽ hoạt động như thế nào?

TS Nguyễn Xuân Diện: Thực chất đây sẽ là một trung tâm văn hóa và ngôn ngữ, nhằm giới thiệu, quảng bá về văn hóa Trung Quốc : thi ca, âm nhạc, ẩm thực, trà đạo..., và sẽ có những giao lưu văn hóa giữa các nghệ sĩ Việt Nam và Trung Quốc. Đằng sau đó luôn là những hoạt động tư vấn về du học, tức là kéo thanh niên Việt Nam đến Trung Quốc du học ngày càng nhiều. Đây cũng sẽ là trung tâm dạy Trung văn, tức là tiếng Hoa.

Đó là những hoạt động bề nổi, còn đằng sau nó chắc chắn sẽ là những hoạt động tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về mặt văn hóa và tư tưởng về một nước Trung Hoa hiện đại. Chính vì vậy nhiều nhà quan sát cho rằng việc thành lập Viện Khổng tử chính một sự thể hiện quyền lực mềm của Trung Quốc, hoặc có người gay gắt hơn thì nói rằng đấy là bước đầu đặt cơ sở cho việc bành trướng văn hóa.

Điều này thật đáng lo ngại, bởi vì sức ép và sự tuyên truyền văn hóa của văn hóa Trung Quốc hiện đại lên Việt Nam hiện nay rất là mạnh mẽ. Nhân dân đã không được những người làm công tác văn hóa dẫn dắt, cho nên, họ có sự sùng bái văn hóa Trung Quốc rất là quá đáng. 

Ví dụ ngôi chùa đạt nhiều kỷ lục ở Việt Nam và Đông Nam Á là chùa Bái Đính ở Ninh Bình. Ngôi chùa ấy chẳng có dáng dấp gì mang bản sắc Việt Nam, mà thực chất là một ngôi chùa Tàu, mà hàng năm lại thu hút hàng triệu du khách. Các phim ảnh Trung Quốc thì chiếu tràn lan trên các kênh truyền hình trung ương và địa phương. Rồi thì việc dựng các tượng sư tử Trung Quốc ở các đình chùa, đền miếu, cũng như ở trụ sở các tổng công ty. Rồi thì hàng hóa, đèn lồng Trung Quốc cũng tràn lan. 

Chính những điều đó khiến người ta lo rằng là với Viện Khổng tử, Trung Quốc coi như đã đặt một bàn chân xâm lăng văn hóa đối với Việt Nam. Chưa bao giờ sức mạnh văn hóa Việt Nam suy yếu nhiều như hiện nay. Khi nào mà chúng ta không chống lại được xâm lăng về văn hóa, thì chúng ta sẽ không còn gì là nền tảng của nước Việt Nam nữa và sẽ bị đồng hóa. Đây sẽ là một điều vô cùng nguy hiểm. Xâm lăng về văn hóa còn nguy hiểm hơn là xâm lăng về quân sự. Cho nên tôi thấy rất lo ngại.

RFI: Nhưng trong sự xâm lăng văn hóa này phải chăng cũng có sự tiếp tay của các lãnh đạo văn hóa, đã cho chiếu quá nhiều phim ảnh Trung Quốc trên truyền hình quốc gia, đến mức giới trẻ Việt Nam bây giờ thuộc sử Tàu hơn là sử Việt ?

TS Nguyễn Xuân Diện: Đúng là bây giờ trẻ con cấp 1, cấp 2, cấp 3 thuộc sử Tàu hơn là sử Việt. Văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng rất nhiều đến ngôn ngữ thường ngày của các em. Sóng truyền hình Trung Quốc tràn lan như vậy. Không những thế các bộ phim của cũng thế. Chúng ta thấy rằng là năm 2010, phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tức là phim Đường tới thành Thăng Long, từ kịch bản, đạo diễn, cho đến diễn viên và vai quần chúng, cũng như bối cảnh, hậu kỳ, trang phục đều là do người Trung Quốc làm.

Bộ phim mang tính phản văn hóa như vậy cho nên các nhà nghiên cứu, các học giả đã yêu cầu không được chiếu bộ phim đó trong đại lễ 1000 năm Thăng Long. Về sau người ta mới phát hiện bộ phim đó không chỉ mang tính phản văn hóa, mà còn phản quốc, vì những nội dung lịch sử đã bị bóp méo và làm sai lạc.

Chúng tôi lo ngại vì giới lãnh đạo văn hóa Việt Nam hiện nay hiễu một cách rất là ấu trĩ và vô cùng hạn chế về văn hóa Trung Quốc. Vì vậy, họ không phát động được trong cán bộ, công chức trên toàn quốc về việc phải có một sự đề kháng như thế nào đối với văn hóa Trung Quốc.

Hậu quả là vào những dịp Tết trong những năm gần đây, có khi cả thành phố, thị trấn thắp toàn đèn lồng Trung Quốc. Hà Nội gần đây đã phải phát động việc dẹp bỏ các tượng đá sư tử ở các đền chùa. Như vậy tức là họ cũng đã thấy được một phần rồi, nhưng những cái mà họ thấy được, nhưng so với những cái mà những người lãnh đạo cần phải có là chưa tương xứng. Chính vì vậy, những người tha thiết với truyền thống, với văn hóa Việt Nam đang rất là lo lắng.

RFI: Thưa tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, để cưỡng lại sự xâm lăng về văn hóa đó, liệu chúng ta có thể phát động một chiến dịch giống như chiến dịch kêu gọi người Việt dùng hàng Việt, để tẩy chay hàng Trung Quốc, cho dù chúng ta vẫn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp của văn hóa Trung Quốc ?

TS Nguyễn Xuân Diện: Cách đây vài năm Bộ Chính trị đã phát động phong trào người Việt dùng hàng Việt. Lúc ấy báo chí cũng làm rùm beng một vài sự hưởng ứng đó. Nhưng bây giờ chuyện ấy đã chìm đi rồi. Người ta cũng không nghĩ đến chuyện giữ gìn những phong trào đó hay phát động một lần nữa.

Nhưng trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ đã ngấm ngầm một phong trào muốn tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, trước hết là hàng thực phẩm và thuốc chữa bệnh, nhưng đó cũng chỉ là những phong trào tự phát, chứ không phải là được phát động sâu rộng, được truyền thông Nhà nước cổ vũ, khuyến khích.

Tôi nghĩ rằng nên khơi dậy một tinh thần dân tộc và một tinh thần bài Hoa đúng mức. Bài Hoa đây không phải là bác bỏ hết những gì có nguồn gốc từ Trung Quốc, một nền văn minh lớn của nhân loại. Nằm cạnh một nền văn minh lớn như thế, Việt Nam cần tiếp thu, thừa hưởng những giá trị văn hóa, những tác phẩm lớn của Trung Quốc mà đã mang tầm mức nhân loại.

Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải giới thiệu trong dân chúng, nhất là cho lớp trẻ, những nét đẹp của văn hóa Việt Nam, những giá trị thẩm mỹ thuần Việt, những tác phẩm văn học, mỹ thuật Việt Nam, những văn hóa chùa, làng...

Muốn đem lại một sự đề kháng đối với sự xâm lăng văn hóa của bên ngoài, thì trước hết cần phải khơi dậy, giáo dục sự hiểu biết cho lớp trẻ về văn hóa của cha ông. Trong mạnh, thì ngoài mới không xâm lăng vào được. Khi người ta yêu quý những nét văn hóa đẹp đó, thì người ta mới dốc sức gìn giữ nó, tạo nên một lớp áo giáp bảo vệ trước sự xâm lăng từ bên ngoài.

Mặc dù Việt Nam đã bị Trung Quốc đô hộ cả ngàn năm, liên miên bị Trung Quốc xâm lược như vậy, mặc dù người Trung Quốc đã truyền chữ Hán vào Việt Nam, thiết lập chế độ cai trị, áp đặt văn hóa lễ nghi, nhưng đã không thể đồng hóa Việt Nam.

Lý do là vì văn hóa Việt Nam trong mấy nghìn năm qua được dựa trên một nền tảng vững bền của văn hóa Việt gốc ở Đông Nam Á, mà điểm son mà văn hóa làng, chống lại được sự xâm lăng về mặt văn hóa, giữ được những giá trị văn hóa và chính những giá trị văn hóa đó trở lại làm nên sức mạnh của dân tộc, đánh thắng được những trận lừng lẫy trong lịch sử.
 

RFI: Xin cám ơn tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện.

-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

RFA PHỎNG VẤN NGUYỄN XUÂN DIỆN VỀ CUỐN SÁCH CỦA BỘ NGOẠI GIAO

Sai lầm của cuốn sách từ Bộ Ngoại giao

Mặc Lâm - RFA thực hiện

TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện vừa gửi một thư yêu cầu Bộ Ngoại Giao Việt Nam ngưng phát hành cuốn sách mang tên “Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” vì những sai sót nghiêm trọng của nội dung cuốn sách có thể phản lại những cố gắng mà Bộ Ngoại Giao mong đạt tới. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn TS Nguyễn Xuân Diện về vấn đề này. 

Mặc Lâm: Mới đây chính TS đã đích thân đến Bộ Ngoại Giao để chuyển thư yêu cầu ngưng phát hành cuốn sách mà Bộ này đã phát hành. Xin TS cho biết nội dung phản đối này là gì?

TS Nguyễn Xuân Diện: Sáng hôm nay tôi có đến trụ sở của Bộ Ngoại giao Việt Nam ở số 1 Tôn Thất Đàm , Ba Đình. Mục đích của chúng tôi là chuyển đến ông Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao văn thư đề nghị thu hồi toàn bộ số sách đã phát hành và không cho lưu hành cũng như lưu trữ cuốn “Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” vì những sai sót nghiêm trọng của cuốn sách về mặt kiến thức.

Như mọi người đã biết, cuốn sách này in bằng 4 thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Hoa và bản gốc chữ Hán Nôm nữa. Sách được in 2.000 bản tại nhà xuất bản Tri Thức, phát hành quí II năm 2013 và ghi rõ là sách không bán. Cuốn sách này do Ủy ban Biên giới Quốc gia chủ trì biên soạn mà  người đứng ra chủ trì là ông Trần Duy Hải, phó chủ nhiệm của Ủy ban này. Đây là cuốn sách quan trọng liên quan đến các văn bản Châu bản về thực thi quyền chủ quyền của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà những người làm cuốn sách này không hiểu thế nào là Châu bản, họ đã đưa một văn bản không phải là Châu bản vào trong cuốn sách này. Đó là tờ lệnh Lý Sơn, một văn bản không phải là Châu bản.

Mặc Lâm: Xin TS vui lòng giải nghĩa Châu bản là gì để quý thính giả tiện theo dõi.

TS Nguyễn Xuân Diện: Châu bản là những văn bản mà trên đó phải có châu phê, tức là những lời phê của nhà vua, mà những lời phê này phải là những lời phê bằng mực son (mực đỏ)[châu = chu = son đỏ; phê = lời phê]. Chúng ta cũng biết là trên các văn bản, tấu biểu ngày xưa đều được viết bằng bút lông với màu mực đen trên giấy bản; Các tờ tấu, biểu của các nơi gởi về thì nhà vua sẽ phê duyệt vào các bản tấu và lời phê của nhà vua bao giờ cũng ngắn gọn và bao giờ cũng viết bằng mực son. Những bản đó chỉ là độc bản có nghĩa là chỉ có một bản duy nhất, không có thêm một bản thứ hai nào nữa.
Trong cuốn sách có đưa vào văn bản tờ lệnh Lý Sơn đã được phát hiện ở Lý Sơn năm 2009 và tôi cũng đã có bản dịch cùng bản khảo cứu công bố rộng rãi trên báo chí, nhưng văn bản đấy không phải là Châu bản. - TS Nguyễn Xuân Diện
Giá trị của những bản này vô cùng quí báu vì đây là văn bản thể hiện quan điểm, ý kiến hoặc là ý chí chính thức từ triều đình, từ các cấp nhà nước đối với các vấn đề được nêu lên trong các bản tấu chương đó.

Mặc Lâm: Như vậy thì Châu bản mà cuốn sách xác định đã không đúng với tinh thần mà TS vừa nói có nghĩa là nó bị gán ghép hai chữ Châu bản vào nội dung tờ lệnh Lý Sơn?
.
 Một trang Châu bản, trên có châu phê của Vua Thiệu Trị

Ngay cả lời phê bằng chữ Quốc ngữ của Vua Bảo Đại cũng màu đỏ (châu phê)

TS Nguyễn Xuân Diện: Trong cuốn sách có đưa vào văn bản tờ lệnh Lý Sơn đã được phát hiện ở Lý Sơn năm 2009 và tôi cũng đã có bản dịch cùng bản khảo cứu công bố rộng rãi trên báo chí, nhưng văn bản đấy không phải là Châu bản. Vậy mà vẫn được đưa vào trong cuốn sách này, không biết vì sao.

Mặc Lâm: Còn những cái sai khác về triều Nguyễn mà cuốn sách đã viết ra TS thấy có nghiêm trọng lắm hay không?

TS Nguyễn Xuân Diện: Có một điều vô cùng nghiêm trọng ở ngay trang thứ hai trong lời giới thiệu của ban biên tập: “Vua Gia Long tạ thế năm 1819, cháu nội là Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi năm 1820 lấy hiệu là Minh Mạng”. 

Ở đây có 3 cái sai:

Cái sai thứ nhất là Vua Gia Long không tạ thế năm 1819 mà là 1820; 1819 là năm dương lịch, mà ở bên đây phải là năm âm lịch [Sử chép Gia Long mất ngày ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (tức ngày 3 tháng 2 năm 1820) hưởng thọ 59 tuổi, ở ngôi 18 năm, Chứ không phải mất năm 1819 tháng Chạp lịch âm thì vẫn là kỷ mão, nhưng Tây lịch đã là tháng 2 rồi]

Cái sai nữa cũng rất nghiêm trọng đó là ai cũng biết vua Minh Mạng là con của Vua Gia Long thế mà ở đây là Vua Minh Mạng được viết là cháu nội của Vua Gia Long. 

Cái sai thứ ba là “lấy hiệu là Minh Mệnh” mà đúng ra thì phải là lấy “niên hiệu là Minh Mệnh” vì hiệu là tên hiệu, ai cũng có thể có tên hiệu, còn niên hiệu thì chỉ có nhà vua mới có niên hiệu vì đó là niên hiệu cho triều đại trong thời gian trị vì của mình. 

Đây là một sai lầm không thể tưởng tượng được và không thể đổ cho lỗi đánh máy được. 

Hình thức  

Mặc Lâm: Đó là nội dung còn hình thức có gì đáng nói không thưa TS? 

TS Nguyễn Xuân Diện: Ngay cả tờ bìa của cuốn sách này thì phần tiếng Anh bị dịch sai, phần tiếng Trung quốc thì đã bỏ sót 2 chữ “triều Nguyễn”. Như vậy người ta chỉ biết đây là những Châu bản chứ không biết Châu bản của triều nào. Bên cạnh đó là đầy dẫy những lỗi cơ bản về dịch thuật, về văn phạm cũng như là các lỗi về in ấn nữa. Vì vậy chúng tôi thấy rằng cuốn sách này không nên để cho lưu hành.

Cuốn sách được in bằng 4 thứ tiếng, ghi là sách không bán và đây là sách do nhà nước bỏ tiền để biên soạn, in ấn và chủ yếu là để biếu tặng trong các hoạt động đối ngoại, các sứ quán hoặc các đoàn ngoại giao. Những lỗi như thế này là không thể chấp nhận được nhất là chúng ta đang đấu tranh chủ quyền và đặc biệt là về vấn đề này với nhà cầm quyền Trung quốc.

Trong khi đó nhà cầm quyền Trung quốc sử dụng những chuyên gia và những học giả lão luyện về công tác văn bản học với một truyền thống rất lâu đời mà nếu chúng ta hớ hênh như thế này thì khi mình đưa ra thì họ sẽ cười chê vào trình độ học thuật của những nhà khảo cứu người Việt Nam với những vấn đề như thế này.
Bên cạnh đó là đầy dẫy những lỗi cơ bản về dịch thuật, về văn phạm cũng như là các lỗi về in ấn nữa. Vì vậy chúng tôi tin rằng cuốn sách này không nên để cho lưu hành. - TS Nguyễn Xuân Diện
Mặc Lâm: Xin được quay lại với những Châu bản triều Nguyễn, theo TS thì sự quan trọng của Châu bản ảnh hưởng thế nào đến tài liệu lịch sử để có thể lấy chúng để chứng minh chủ quyền của Việt Nam?

TS Nguyễn Xuân Diện: Những Châu bản liên quan đến việc Việt Nam đưa ra để thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa rất quan trọng. Thứ nhất nó là độc bản, đó là bản duy nhất không có bản thứ hai. Thứ hai nó là những bản có lời phê của nhà vua, là người đứng đầu nhà nước phong kiến ngày xưa và họ chịu trách nhiệm toàn bộ về những vấn đề đó, những lời phê đó trước lịch sử, toàn thể đất nước cũng như toàn thể quốc gia. Châu bản, bên cạnh những giá trị nghiên cứu quí giá như vậy nó còn thể hiện ý chí của nhà vua cũng như về mặt thư pháp, tức là về mặt văn hóa còn thể hiện được di bút của nhà vua mà chúng ta chỉ có thể nhìn thấy trên Châu bản mà thôi.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

Nguồn: RFA.
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

BÀ LÊ HIỀN ĐỨC LÊN TIẾNG MẠNH MẼ VỀ NẠN THAM NHŨNG TẠI VN


Lê Hiền Đức:
Tình hình tham nhũng tại Việt Nam rất trầm trọng 
và ngày càng trầm trọng hơn

Lời dẫn: Bức thư của Giám đốc phát hành Tạp chí  “Carnets Du Viet Nam”
Dominique Foulon
Giám Đốc phát hành Tạp Chí  "Carnets Du Viet Nam”

Kính chào Bà Lê Hiền Đức,
Tạp Chí Les Carnets du Viet Nam ( Sổ Tay Viêt Nam) , có mặt từ hơn 10 năm qua , và cố gắng mỗi 3 tháng cung cấp những thông tin bằng tiếng Pháp về văn hóa, thời sự và lịch sử Việt Nam .
Chúng tôi đã viết nhiều bài về người nông dân bị mất quyền sử dụng đất đai xảy ra trên khắp nước cũng như về những trường hợp tham nhũng quả tang phản ảnh từ những bài viết trên Internet
Qua những bài trên Internet, chúng tôi đã biết đều đặn đến tên tuổi của Bà, và chúng tôi nghĩ rằng Bà là người có đầy đủ phẩm chất  để nói về những gì đang xảy ra trên nông thôn Việt Nam .
_________________

Toàn văn cuộc phỏng vấn do Dominique Foulon - GĐ phát hành Tạp chí  “Carnets Du Viet Nam” thực hiện:

- Từ khi Bà sinh ra thì nước VN đã trải qua những trang sử sôi động. Bà có thể cho chúng tôi được biết về sự hiện diện của Bà trong khung cảnh lịch sử đó ?

Tôi được sinh ra vào năm 1932, khi VN còn là nước thuộc địa bị chia thành 3 kì với 3 chế độ cai trị khác biệt. Ở tuổi thiếu niên, tôi tận mắt thấy đời sống lầm than, cơ cực của người dân VN dưới ách thống trị tàn ác của thực dân, phong kiến. Đặc biệt vào đầu năm 1945, tôi phải chứng kiến nạn đói khủng khiếp đã cướp đi 2 triệu sinh mạng, tức là hơn 1/10 dân số VN khi ấy. Chúng hun đúc cho tôi lòng yêu nước, thương nòi, căm thù sự áp bức, bất công. Vì vậy, khi Mặt trận Việt Minh hô hào toàn dân vùng lên đoàn kết đánh đổ áp bức, bất công, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho dân tộc, trả lại ruộng đất cho dân cày, nhà máy, hầm mỏ cho dân thợ, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, đem lại hạnh phúc, ấm no, bình đẳng cho toàn thể dân chúng, khiến ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ở tuổi 13, tôi đã cùng các anh chị mình hăng hái hưởng ứng.

30 năm tiếp theo đó, trên các cương vị công an viên rồi giáo sinh, giáo viên, tôi tích cực tham gia 2 cuộc kháng chiến với mục đích giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước.

Nay nhìn lại, tôi rất xúc động và ít nhiều tự hào vì những năm qua mình đã biết sống vì dân, vì nước.

- Vào tình huống nào mà Bà đã đối mặt với vấn đề tham nhũng và vấn đề tước đoạt quyền sử dụng đất một cách phi pháp? Có những ví dụ chính xác nào mà có thể chia sẽ với chúng tôi ?

Tôi có thể đưa ra không phải hàng chục, hàng trăm mà là hàng ngàn, hàng vạn ví dụ rõ ràng và sinh động. Các thông tin về chúng đều đã được kiểm chứng là chính xác.

Về đất đai, là các vụ cưỡng chế, tước đoạt đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, đối với nhiều hộ nông dân ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, ở phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội…

Về y tế, là các vụ lừa đảo người dân để lấy tiền một cách lâu dài, có hệ thống diễn ra tại Bệnh viện Mắt Trung ương, tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội…

Về giáo dục, là vụ tham ô của Tạ Thị Bích Ngọc ở Trường tiểu học Nguyễn Khả Trạc, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội…

Các lĩnh vực khác cũng có nhiều vụ việc nghiêm trọng, như vụ Đặng Thị Bích Hòa ở Tập đoàn Bưu chính viễn thông VNPT… 

- Phản ứng của chính quyền ra sao khi Bà đặt vấn đề với họ về việc tước đoạt quyền sử dụng đất và về tham nhũng?

Phản ứng chung là xấu, là tiêu cực, với những biểu hiện như lảng tránh, câu giờ, ngụy biện, đùn đẩy cho nhau… nhằm làm cho “chìm xuồng” ngay cả khi sự việc đã rõ mười mươi, đã có đầy đủ nhân chứng, vật chứng.

Để lấy ví dụ cụ thể về điều này, ông có thể đọc bài “Chỉ đạo phòng chống hay trực tiếp bao che, lấp liếm?” mà tôi viết vào năm kia.

Từ những trải nghiệm của mình, tôi cho rằng Đảng cộng sản và Nhà nước VN chỉ hô hào suông chứ không thực tâm chống tham nhũng, thậm chí còn bao che, dung túng tham nhũng, sống dựa vào tham nhũng. Việc cách đây mấy năm, khi trả lời chất vấn của Quốc hội trên cương vị Phó thủ tướng thường trực, ông Nguyễn Sinh Hùng (nay là Chủ tịch Quốc hội) nói nếu kỉ luật hết cán bộ sai phạm thì lấy ai làm việc cho thấy rõ tham nhũng, sai phạm là thuộc tính, là bản chất của đội ngũ quan chức của VN hiện nay.
     
- Thái độ của người nông dân đối với Bà như thế nào ?

Bà con nông dân, đặc biệt là những người bị tước đoạt đất đai, nhà cửa… tỏ ra yêu mến, tin tưởng tôi. Thái độ của bà con đem lại cho tôi những cảm xúc lẫn lộn. Trân trọng, xúc động bao nhiêu, tôi lại buồn bã, áy náy bấy nhiêu vì trong hầu hết trường hợp, tôi chưa giúp được bà con đánh đuổi bọn cướp ngày, giành lại đất đai, nhà cửa…       

- Báo chí có nêu lên những mối đe dọa chống lại Bà, đó là những gì ?

Xét riêng việc chống tham nhũng thì đối với người chống tham nhũng, mối đe dọa chủ yếu và trực tiếp nhất là từ kẻ tham nhũng.

Tôi từng phải nhận nhiều thư từ, cuộc gọi nặc danh, từng bị lén lút đổ chất thải bẩn thỉu vào nhà hay bị đặt vòng hoa tang trước cửa nhà.

Tôi cũng từng phải nghe lời đe dọa từ những kẻ bị tôi tố cáo và lời “khuyên nhủ” có hàm ý răn đe từ những quan chức bao che chúng. Trong số quan chức ấy, không ít người ở cấp thứ trưởng, bộ trưởng, cũng không ít người nắm giữ trọng trách bảo vệ pháp luật, phòng chống tham nhũng.

Việc năm ngoái, nhiều tờ báo của Nhà nước đồng loạt đăng bài xuyên tạc, bôi nhọ tôi nhân một sự việc ở Sở thông tin – truyền thông Hà Nội và việc trong vài năm trở lại đây, lực lượng Công an đã nhiều lần cản trở hoạt động chống tham nhũng của tôi, thậm chí còn gửi giấy “triệu tập”, còn ra quyết định xử phạt hành chính đối với tôi một cách vô căn cứ cho thấy ở Việt Nam đang tồn tại những tập đoàn tham nhũng “cấp quốc gia”. Chữ “cấp quốc gia” tôi để trong nháy kép.   

- Năm 2007 Bà đã nhận được giải thưởng quốc tế về sự dấn thân của Bà, điều đó xảy ra như thế nào ?

Năm 2007 tôi có được Tổ chức Minh bạch quốc tế trao tặng một giải thưởng. Khi ấy, tôi hoàn toàn bất ngờ. Mọi việc đã diễn ra công khai, minh bạch đúng như tiêu chí của giải thưởng và tôn chỉ của tổ chức trao tặng nó. Trả lời rõ ràng, đầy đủ câu hỏi này của ông, chắc không ai hơn Tổ chức Minh bạch quốc tế. Ở đây, tôi chỉ muốn nói thêm rằng tôi và những người cùng chí hướng ở VN đấu tranh chống tham nhũng không phải để nhận sự khen thưởng nhưng đối với chúng tôi, giải thưởng năm 2007 của Tổ chức Minh bạch quốc tế có ý nghĩa động viên, khích lệ hết sức to lớn. Chúng tôi chân thành cảm ơn Tổ chức Minh bạch quốc tế về điều đó và mong muốn bạn bè quốc tế kề vai sát cánh cùng chúng tôi hơn nữa trên mặt trận chống tham nhũng.

- Theo Bà thì những thay đổi nào sẽ là quan trọng cho tương lai của VN để người ta có thể sống trong một xã hội bớt tham nhũng và nhiều bình đẳng hơn.

Hiểu theo nghĩa chung nhất thì tham nhũng là lợi dụng quyền hành để tham ô và nhũng nhiễu dân.

Có thể ví tham nhũng như một cái cây với đủ gốc rễ, thân chính, các cành lớn nhỏ, lá già, lá non, chồi, búp…

Ở VN, như tôi từng khẳng định, tham nhũng đang rất trầm trọng và ngày càng trầm trọng hơn, trong đó tham nhũng đất đai là rất kinh khủng, tham nhũng ở nhiều lĩnh vực khác như đầu tư công, y tế, giáo dục cũng không kém phần ghê gớm. Để minh chứng, tôi lấy ngay báo cáo của Chính phủ VN: Riêng năm 2012, các cơ quan hành chính Nhà nước đã tiếp nhận 349.139 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, trong đó có 4.772 lượt đoàn đông người (từ 5 người trở lên); đã tiếp nhận 136.783 đơn thư khiếu nại, tố cáo. Về khiếu nại, cả nước phát sinh 115.344 lượt đơn với 86.814 vụ việc, trong đó khiếu nại về đất đai chiếm 74,7%, khiếu nại về nhà ở chiếm 4,2% tổng số đơn. Về tố cáo, cả nước phát sinh 21.439 đơn với 12.606 vụ việc, trong đó tố cáo về hành chính chiếm 93,9% tổng số đơn.

Nhưng những số liệu đó chỉ phần nào phản ánh các cành lớn nhỏ, lá già, lá non, chồi, búp… chứ chưa hề phản ánh gốc rễ, thân chính của cái cây tham nhũng ở VN, đó là tham nhũng về chính trị, tức tình trạng một thiểu số không do người dân bầu lên hay cử ra nhưng mấy chục năm qua cứ khư khư nắm giữ toàn bộ quyền quản lí, điều hành Nhà nước và xã hội. Sự tham nhũng đó khiến người dân VN không chỉ bị tước đoạt đất đai, nhà cửa, tài sản mà còn bị tước đoạt, xâm hại nhiều quyền lợi chính đáng, phổ quát khác như quyền tự do ngôn luận, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, tự do biểu tình, tự do bầu cử và ứng cử… Chế độ chính trị và xã hội VN hiện nay hoàn toàn không phải là chế độ chính trị và xã hội mà gần 70 năm trước, khi đi theo Mặt trận Việt Minh, tôi mong muốn xây dựng. Có thể nói rằng cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của chúng tôi đã bị phản bội một cách toàn diện. Để hiểu cụ thể hơn điều này, ông có thể đọc bài “Phản cách mạng đã rõ ràng!” mà tôi viết năm ngoái.     

Theo tôi, để được sống trong một xã hội bớt tham nhũng và nhiều bình đẳng hơn, người dân VN phải đốn bỏ thân chính, đào tận gốc, trốc tận rễ cái cây tham nhũng, đó là sự tham nhũng về chính trị mà tôi vừa đề cập. 

Dominique Foulon thực hiện
-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

TS. NGUYỄN XUÂN DIỆN NÓI VỀ KHAI THÁC GIÁ TRỊ DI SẢN HÁN NÔM PHẬT GIÁO

Khai thác giá trị di sản Hán Nôm Phật giáo
Chu Minh Khôi thực hiện 
Trải gần hai nghìn năm đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo để lại khối di sản đồ sộ, trong đó tư liệu Hán Nôm là một mảng vô cùng quan trọng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả khai thác di sản Hán Nôm để tìm ra những giá trị đối với lịch sử đất nước và văn minh dân tộc nói chung, lịch sử và văn minh Phật giáo nói riêng. Tuy nhiên, những gì đã được nghiên cứu vẫn chưa tương xứng với giá trị thực của khối di sản Hán Nôm Phật giáo. 

TS Nguyễn Xuân Diện, cán bộ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam (từng là Phó giám đốc Thư viện Hán Nôm) trao đổi với chúng tôi xung quanh vấn đề này?
Xin TS cho biết đôi nét khái quát về kho di sản hiện đang được lưu giữ tại Thư viện của Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam? 
Viện Nghiên cứu Hán Nôm là một tàng thư lớn nhất nước ta về di sản Hán Nôm, trong đó 2 mảng lớn nhất là sách và thác bản văn khắc. Kho sách Hán Nôm tổng hợp ở đây có khoảng  3,2 vạn đơn vị văn bản; kho thác bản văn khắc có trên 6 vạn đơn vị thác bản.  Sách Hán Nôm được phân thành khoảng 40 chủ đề: Văn học, Sử học, Quan chức, Bang giao, Địa lý, Kinh tế, Gia phả, Pháp chế, Quân sự, Tôn giáo, Phong thủy, Văn hóa giáo dục, Y dược và Văn học các dân tộc ít người. Tuy khối lượng sách Hán Nôm đồ sộ như vậy, nhưng sách Hán Nôm Phật giáo được lưu giữ ở Viện Hán nôm không nhiều, hiện chỉ có 218 bộ sách. Tư liệu Hán Nôm Phật giáo của chúng tôi ít ỏi, có lẽ bởi do không tiếp cận được những nguồn sách từ các nhà chùa cung cấp. Đặc thù nguồn sách của Viện Hán Nôm có được chủ yếu là do bàn giao, thừa hưởng từ di sản của Viện Viễn Đông bác cổ vào năm 1954, phần nữa là tiếp nhận các kho sách của một số gia đình khoa bảng ngày xưa (như thư viện của các cụ Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Dục), những năm sau này  tiếp nhận một phần sách Hán Nôm từ Viện Thông tin KHXH tổng hợp và Thư viện tỉnh Hà Tây, cùng các  cuộc sưu tầm và mua lại.
Sách Hán Nôm Phật giáo có thể chia làm mấy mảng chính. Thứ nhất là loại sách kinh Phật. Đáng chú ý nhất là các bản giải âm, diễn âm, tức là các bản diễn nôm các kinh điển Phật giáo nhằm để tuyên truyền, phổ biến giáo lý nhà Phật trong giới tu hành và nhân dân. Thứ hai, những sách nói về các dòng trong Phật giáo, sự tích và lai lịch của các Thiền sư, các tổ đình. Loại thứ ba là những tác phẩm văn học Phật giáo, trong đó nổi bật nhất là thơ thiền. Những bản sách Phật giáo chúng tôi có được không phải là những bản sách sớm, mà chủ yếu niên đại vào thế kỷ 17-18. Trong số 218 bản sách này, có rất nhiều cuốn sách rất giá trị, như quyển Thiền uyển tập anh được định hình từ thời Trần, và nhiều bản ở các thời sau. Quyển “Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh”  là một cuốn sách rất quý, niên đại rất sớm, thể hiện bằng chữ nôm, đã được Gs Nguyễn Quang Hồng chứng minh có khả năng được dịch sang tiếng Việt vào thời Lý (quãng thế kỷ XII). Đây là một dịch phẩm văn xuôi Nôm xưa nhất mà nay còn lưu giữ được. Tác phẩm là một bản kinh Phật, nội dung thuyết giảng về công ơn cha mẹ, răn bảo phải làm lễ cúng dàng trong dịp Vu Lan (rằm tháng bảy) và thường xuyên tụng niệm kinh này. Ngoài ra có thể kể đến cuốn sách Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, niên đại thế kỷ 18 là bản dịch Nôm khắc in kèm theo từng câu của bản chữ Hán. Cuốn sách Phật thuyết chính giáo huyết bồn kinh cũng là một bản Nôm dịch kinh Phật, xuất hiện khoảng thế kỷ 16.
Kho thác bản văn khắc ở Viện Hán Nôm thế nào, thưa TS?
Trải hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ. Từ những năm cuối của thế kỷ 20 đến nay, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã và đang tổ chức tiến hành điều tra cơ bản và thu thập các văn khắc Hán Nôm hiện có ở các địa phương trong cả nước. Đến năm 2005, Viện đã hoàn thành cơ bản việc sưu tầm văn khắc Hán Nôm ở các địa phương: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình; đang tiếp tục thực hiện ở một số địa phương như: Thanh Hoá, Nghệ An. Kết quả khối lượng tư liệu văn khắc Hán Nôm đã được thu thập khoảng hơn 48.000 mặt thác bản.
Ở nước ta, văn bản khắc Hán Nôm có niên đại sớm nhất hiện nay tìm thấy, là tấm bia Xá lị tháp minh dựng năm 601 tại chùa Thiền Chúng tại Long Biên (Bắc Ninh ngày nay) và bia Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn dựng năm 618 tại chùa Bảo An (Đông Sơn, Thanh Hoá). Kế đến, là bài minh trên chuông xã Thanh Mai là Thanh Mai xã chung minh, khắc năm 789. Xếp thứ tư về độ cổ xưa là chuông Nhật Tảo (Từ Liêm, Hà Nội), đúc năm 948 thời Ngô nói về việc thờ cúng các vị thánh của Nho- Phật- Đạo. Xếp thứ năm là 200 kinh tràng khắc Phật đỉnh tôn thắng gia cú linh nghiệm đà la ni  ở Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), dựng vào thời Đinh – Tiền Lê; các kinh tràng này hiện chỉ còn khoảng chục chiếc tại chùa Nhất Trụ và bảo tàng Ninh Bình. Thời đại Lý-Trần, nhiều chùa chiền thờ Phật được xây dựng và dường như chùa nào cũng có văn bia ghi lại việc xây dựng, trùng tu. Những tấm bia cổ quý phải kể đến như: bia chùa Báo Ân An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký (1100), bia chùa Long Đọi Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (1121), bia chùa Linh Xứng Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (1126), văn bia chùa Thầy ở Quốc Oai, chùa Diên Phúc ở Phú Xuyên…  Chúng tôi đã sưu tầm được thác bản của 67 văn bia chùa có niên đại thời Lý- Trần. Các thời đại sau, số lượng văn bia, văn chuông càng nhiều. Văn bia chùa được chúng tôi chia ra làm ba loại. Một là, bia nói về các vị sư tổ, chủ của các dòng thiền, sự tích của các nhà sư. Thứ hai chiếm số lượng lớn là bia nói về việc trùng tu, mảng thứ ba là bia hậu phật. Mỗi tư liệu thác bản Hán Nôm đều là nội dung chứa đựng tinh hoa của đời sống sinh hoạt Phật giáo.
Từng nhiều năm giữ Phó giám đốc Thư viện Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, anh cho biết hoạt động phục vụ độc giả đến khai thác tài liệu tại thư viện này như thế nào?
Do đặc thù về loại ngôn ngữ và chữ viết, nên số độc giả đến với Thư viện Hán Nôm còn rất khiêm tốn, bình quân mỗi năm có khoảng 3 ngàn lượt độc giả tới đây đọc sách, tra cứu tài liệu.  Đối tượng đến thư viện Hán Nôm đọc sách thường có 4 nhóm chính. Trước hết, là cán bộ nghiên cứu của Viện Hán Nôm. Hai là sinh viên các trường đến khai thác tài liệu để làm luận án, luận văn tốt nghiệp đại học. Ba là các nhà nghiên cứu đến từ nước ngoài. Bốn là các nhà sư đến từ Huế, Hà Nội, TP HCM. Tăng Ni đến Viện Hán Nôm đọc sách chủ yếu là những người cần tra cứu tài liệu để làm luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Thư viện Hán Nôm là thư viện dễ dàng nhất đối với những ai muốn tiếp cận tài liệu, chỉ cần có giấy chứng minh thư và giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể, địa phương nơi cơ trú là đều vào đây đọc tài liệu được. Riêng với mảng sách, hiện nay thư viện không phục vụ bản gốc nữa, chỉ phục vụ bản photocopy cho độc giả. Chỉ khi có yêu cầu cần đối chứng màu mực, hay cần nghiên cứu vấn đề gì mà bản photocopy không đáp ứng được, thì mới lấy bản gốc.
TS nhận định thế nào về giá trị của di sản Hán Nôm Phật giáo đối với nghiên cứu lịch sử, văn hóa?
Di sản Hán Nôm Phật giáo là khối tư liệu hết sức quý giá không chỉ để nghiên cứu Phật giáo mà còn nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc nước ta. Bởi vì Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Trong lịch sử phát triển, Phật giáo đã gắn bó, đồng hành với văn hóa và dân tộc. Vì vậy, những tài liệu này vô cùng giá trị để nghiên cứu quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam, đồng thời cũng giúp nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam, sự gắn bó giữa Phật giáo với vận mệnh dân tộc trong các thời kỳ lịch sử. Một số tài liệu Hán Nôm Phật giáo đã được một số nhà nghiên cứu sử dụng để qua đó dựng lại lịch sử của một thời đại, của một giai đoạn. Chẳng hạn như học giả Hoàng Xuân Hãn, thông qua các tài liệu Hán Nôm Phật giáo đã hoàn thành công trình nghiên cứu “Lý Thường Kiệt và lịch sử ngoại giao triều Lý” rất uyên bác. 
Ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, văn khắc Hán Nôm Phật giáo còn là nguồn tư liệu rất có giá trị để tìm hiểu quá khứ dân tộc thuộc ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: tư tưởng chính trị xã hội, lịch sử, văn hóa, kinh tế, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ văn tự...
Tuy số lượng bia văn, sách vở Hán Nôm liên quan đến Phật giáo khá phong phú, nhưng cho đến nay chưa có một chuyên luận nào về tổng quan khu vực Hán Nôm Phật giáo, mà mới chỉ có các công trình, luận án nghiên cứu từng đề tài đơn lẻ, cùng những bài viết tản mát về đề tài này. Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, công việc dịch thuật và nghiên cứu Hán Nôm Phật giáo hiện nay còn sơ sài, chưa tưng xứng với khối di sản đồ sộ này, cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của bản thân ngành Hán Nôm, cũng như của xã hội nói chung.
Ngày nay, nhiều nhà khoa học gặp phải hạn chế trong nghiên cứu do không biết chữ Hán, chữ Nôm. Những người này khi nghiên cứu, thường không đọc trực tiếp vào tài liệu Hán Nôm, mà đọc những bản đã dịch ra tiếng Việt rồi. Thế nhưng, những cuốn sách, tài liệu Hán Nôm đã được dịch ra tiếng Việt hiện mới chỉ chiếm tỷ lệ quá ít ỏi trong số lượng di sản Hán Nôm Phật giáo. Nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cổ, trung đại, từ năm 1945 trở về trước mà không biết chữ Hán thì không thể giải quyết được vấn đề. Đó là một thực trạng có thể gọi là “bi hài” đối với nghiên cứu lịch sử hiện nay.       
Chu Minh Khôi thực hiện
12.4.2013

-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

NGUYỄN XUÂN DIỆN: LỄ HỘI ĐẦU XUÂN ĐANG MẤT ĐI Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC

Lễ hội đầu xuân ở Việt nam đang mất đi ý nghĩa đích thực

.

Khách hành hương đi hái lộc đầu xuân tại chuà Trấn Quốc 14/02/2013 (Reuters)
Khách hành hương đi hái lộc đầu xuân tại chuà Trấn Quốc

Anh Vũ
 
Sau Tết Nguyên đán, một mùa lễ hội đang mở ra khắp nơi tại Việt Nam. Cũng như nhiều năm gần đây, không ít người có tâm huyết với văn hóa truyền thống ở Việt Nam không khỏi băn khoăn lo lắng về tình trạng biến tướng, thương mại hóa xô bồ trong các họat động lễ hội, vốn được coi là nơi hội tụ sức sống của văn hóa của dân tộc Việt Nam.


Mùa lễ hội đầu xuân ở Việt Nam, mới chỉ bắt đầu được ít ngày nhưng cũng đã xuất hiện trở lại những lộn xộn làm mấy đi ý nghĩa cao đẹp của họat động văn hóa này. 

RFI phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, Viện nghiên cứu Hán Nôm tại Hà Nội về hiện trạng họat động lễ hội đầu xuân ở Việt Nam.

 

RFI : Xin thân chào Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, thưa anh, chắc hẳn đầu xuân này anh cũng đã tham dự nhiều lễ hội. Xin anh cho biết một vài nhận xét về họat động lễ hội đầu xuân năm nay tại Việt Nam ?

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Sau những ngày Tết Nguyên Đán, lễ hội ở khắp nơi đã được mở ra, từ lễ hội làng, lễ hội vùng rồi lễ hội quốc gia. Có những lễ hội chỉ kéo dài trong một ngày, có những lễ hội kéo dài vài ngày, thậm chí có những lễ hội được kéo dài hết cả ba tháng mùa xuân, đó là lễ hội Chùa Hương và lễ hội Yên Tử. Một mùa lễ hội đang đến và chúng ta thấy cũng giống như mọi năm thì năm nay lễ hội đầu xuân ở Việt Nam đã được mở ra khắp tất cả các nơi. Gần như là tỉnh nào cũng có những lễ hội lớn.

Trong truyền thống của chúng ta thì lễ hội chính là một phần của văn hóa và đạo đức của toàn xã hội. Đây là một dịp để người ta tưởng nhớ đến tổ tiên, cầu phúc và để ôn lại lịch sử, thể hiện niềm tôn kính đối với các vị anh hùng dân tộc, với Phật với Thánh. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng lễ hội chính là một cái nơi hội tụ sức sống của dân tộc, sức sống của văn hóa Việt Nam từ ngàn xưa để lại. Thực trạng của lễ hội trong mấy năm gần đây cho thấy có rất nhiều vấn đề, để lại một cái sự ưu tư lo lắng, lo lắng lắm, trong lòng những người nghiên cứu văn hóa và những người còn thiết tha với nền văn hóa lâu đời và đầy truyền thống nhân bản của Việt Nam hôm nay.

RFI : Cụ thể những lo lắng của các anh đó là những điều gì ?


TS Nguyễn Xuân Diện : Các lễ hội đã được mở ra rất nhiều. Những cái lễ hội đầu xuân này thường là những lễ hội gắn với truyền thống và lịch sử của đất nước. Nhưng những điều này thực sự là không được những nhà tổ chức hay là những nhà quản lý văn hóa, ở đây là Bộ Văn hóa, quan tâm cổ vũ cho cái điều đó. Cái nền cảnh của những truyền thống lịch sử của đất nước thì như một cái cớ để cho những người làm công tác quản lý văn hóa mà cụ thể là Bộ Văn hóa, sở Văn hóa của các tỉnh, dựa vào đấy để làm lên những cái lễ hội ầm ĩ lòe loẹt, thu hút sự quan tâm của mọi người với một sự ồn ào và sự lệch lạc, đem lại những cái lo lắng lớn lắm.

Chẳng hạn như chuyện về tâm linh, chuyện về văn hóa thì gần đây ở trong nước ta đã dấy lên rất là nhiều. Nhưng mà thực sự ra, những người làm quản lý văn hóa của Việt Nam chỉ dựa vào những cái hào quang của truyền thống lịch sử để mà cổ súy cho những cái lệch lạc, mê lầm của dân chúng.

Tôi lấy ví dụ như là lễ hội đền trần tổ chức vào đêm 14 tháng Giêng. Đáng lẽ đây phải là nơi để giáo dục hào khí Đông A và tinh thần yêu nước thì ngườii ta lại biến chuyện đó thành ra lại cổ súy cho cái chuyện ấn triện, thăng tiến rồi lợi lộc, rồi mua quan bán chức, thậm chí có sự tham gia của cả lãnh đạo cao cấp. Đáng lẽ ra đền Trần Thương ở tỉnh Hà Nam hay là đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh phải là những nơi ở đó giáo dục tinh thần tận tụy và liêm chính, trách nhiệm đối với kho dự trữ của Nhà nước, thì lại thành ra nơi mặc cả, vay mượn mua bán quàng xuyên.

Vừa rồi mùng bảy tháng Giêng lễ hội Tịch điền và tới đây nữa là lễ hội Đàn Xã tắc, đáng lẽ phải là nơi giáo dục lòng kính trọng đối với những người làm nông nghiệp, trọng nông thuần phác thì lại biến ra thành những nơi tụ tập đông người, lòe loẹt, cờ đèn kèn trống. Thật là vô cùng lo ngại đấy.

Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có phát biểu trên báo chí là: Ở đâu mà lòng người bất an thì, xã hội bất trắc thì mê tín dị đoan cũng có cơ hội nhiều, như cỏ dại gặp đất hoang. Tôi thấy rằng qua nhìn cái tâm thế của những người đi lễ hội ở Việt Nam hôm nay trong mùa xuân này, thậm chí mới chỉ có 10 ngày nay thôi, chúng ta thấy rằng là chưa có bao giờ mà lòng người lại bất an, xã hội lại bất trắc như hôm nay.

Người dân gần như không tìm được niềm tin nơi trần thế cho nên đành phải tìm kiếm trong niềm tin hoang mang vũ trụ. Các nhà quản lý thì cũng không làm được việc gì để mà định lại các chuẩn tắc cho lễ hội hoặc là hướng dẫn mọi người đi lễ hội như thế nào, gần như bỏ mặc người dân trong một cái cuộc hành hương đi vào lễ hội, tín ngưỡng như là đi vào bến lú sông mê như hiện nay.

RFI: Còn một thực tế, nhiều năm qua hoạt động lễ hội vẫn cứ nhếch nhác và biến tướng theo hướng thương mại hóa. Đây là do người dân không hiểu được hết giá trị của lễ hội hay là do cách quản lý của cơ quan văn hóa cứ để thả nổi ?

TS Nguyễn Xuân Diện: Về vấn đề này có cả hai. Thứ nhất người dân không hiểu hết giá trị của lễ hội. Các nhà quản lý văn hóa phải chịu trách nhiệm trong vấn đề này. Bởi vì ở các lễ hội như thế, người dân không dược hướng dẫn một cách tỉ mỉ, không được giáo dục truyền thống một các sâu sắc và chuẩn tắc. Những nhà quản lý văn hóa thì gần như mới chỉ làm được cái việc như thu xếp chỗ gửi xe, rồi thu tiền nơi ăn ở.

Chính vì vậy người ta đi đến lễ hội, đã không bằng sự chính tâm như ngày xưa mà người ta đến với lễ hội với những lời cầu khẩn rất là quyết liệt nhưng mà đầy mê lầm, bằng những mâm phàm tục để mặc cả với thần thánh, bằng những đồng tiền lẻ rải khắp lên tượng Phật tượng Thánh và bằng những cuộc nhậu nhẹt say sưa bên những bàn nhậu thịt thú rừng, ở cả đất Phật Hương Sơn lẫn bên chùa Yên Tử.

Sau đó là xả rác không thương tiếc. Họ đi đến lễ hội chỉ là để chen chân như vậy thôi. Những lời khấn nguyện với Phật thánh cầu nguyện cho quốc thái dân an, tri ân thì không được người dân thực tâm thực hiện đâu. Cái này trách nhiệm là của các nhà quản lý văn hóa.

Những nhà nghiên cứu thì rất lo lắng rằng các cơ quan văn hóa hiện nay chỉ lo làm thế nào cho nó không xảy ra chết người, lo làm sao cho có an ninh trong lễ hội thôi, chứ còn hướng dẫn về mặt văn hóa thực sự, về sự tích của các ngôi đền, ngôi chùa, về phép tắc khi đến cửa Phật cửa thánh thì không được cơ quan quản lý văn hóa hoặc là các nhà đền người ta hướng dẫn. Tôi cho là trách nhiệm này của cả người dân và kể cả các cơ quan quản lý văn hóa.

Xin thành thật cảm ơn TS Nguyễn Xuân Diện.

Nguồn: RFI Việt ng.
 
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013

PHỎNG VẤN NÓNG VỀ VỤ THỬ HẠT NHÂN LẦN 3 CỦA TRIỀU TIÊN



Phỏng vấn nóng TS. Đinh Hoàng Thắng:
Triều Tiên lại thử hạt nhân: Giương Đông kích Tây

Bối cảnh lần thử này có ba điểm khác các lần trước. Thứ nhất, thử trước khi tổng thống Obama đọc thông điệp liên bang. Thứ hai, thử trước khi ông Tập Cận Bình “lên ngôi” vào tháng ba tới, và gần đây thế giới đang “lùm xùm” về việc Bắc Kinh sẽ có những điều chính trong quan hệ với đồng minh bị coi là cô lập nhất thế giới nhưng lại cũng gần gũi nhất với Trung Quốc. Và thứ ba, bối cảnh này Việt Nam và ASEAN cần hết sức để ý: thử để phá “cuộc mặc cả” mà Triều Tiên cho rằng đang ngầm diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc…

NCHDCND Triều Tiên thử hạt nhân lần thứ ba đang làm náo loạn cả “làng toàn cầu”, riêng TS. có cảm thấy ngạc nhiên?

Những điều tưởng rằng Triều Tiên đã, đang và có thể gây ngạc nhiên cho thế giới thật ra ít làm ai ngạc nhiên. Chắc rằng tôi cũng không ngoại lệ! Triều Tiên là trường hợp hiếm hoi mà các nhà quan sát quốc tế sẽ còn phải “dụng công” để tìm được một khung lý thuyết phân tích các tình huống diễn ra ở đấy.

Ý ông là những hành động của Triều Tiên không theo một quy luật nào cả?

Nói không theo quy luật nào cả thì cũng không hẳn! Thế giới đã phân tích nhiều và từ lâu đề cập tới chính sách ngoại giao bắt bí của CHDCND Triều Tiên (blackmail diplomacy). Thử hạt nhân cấp độ cao và phóng tên lửa (vệ tinh/phi đạn) tầm xa là hai lá bài trong chương trình hạt nhân phục vụ cho chính sách này của Triều Tiên. Đây cũng là nước duy nhất liên tiếp thực hiện các vụ thử nghiệm hạt nhân trong thế kỷ thứ 21…

Triều Tiên thử nghiệm nhiều lần như vậy để làm gì? Đằng nào thì nước này cũng đã được xếp vào câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân?

Đúng là từ tháng 4 năm ngoái, Triều Tiên đã sửa đổi hiến pháp để chính thức định nghĩa nước này là một "quốc gia có vũ khí hạt nhân". Nhưng vấn đề không phải chỉ để “đánh trống ghi tên” vào Câu lạc bộ. Giới phân tích nói nhiều về các ý đồ sâu xa của các vụ thử nghiệm, mỗi lần thử như thế đều nhằm tới những mục tiêu nhất định trong tầm ngắn hạn, nhưng đồng thời cũng phục vụ cho chiến lược dài hạn.

Vậy bối cảnh thử lần này có gì đặc biệt?

Bối cảnh lần thử này có ba điểm khác các lần trước. Thứ nhất, thử trước khi tổng thống Obama đọc thông điệp liên bang. Thứ hai, thử trước khi ông Tập Cận Bình “lên ngôi” vào tháng ba tới, và gần đây thế giới đang “lùm xùm” về việc Bắc Kinh sẽ có những điều chính trong quan hệ với đồng minh bị coi là cô lập nhất thế giới nhưng lại cũng gần gũi nhất với Trung Quốc. Và thứ ba, bối cảnh này Việt Nam và ASEAN cần hết sức để ý: thử để phá “cuộc mặc cả” mà Triều Tiên cho rằng đang ngầm diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc…

Và để phục vụ cho chiến lược dài hạn nào?

Trước sau Triều Tiên cũng phải thay đổi. Myanmar, Triều Tiên sẽ là những mảnh ghép cuối cùng để hoàn thiện nốt bức tranh toàn cảnh về các bước chuyển giao ngoạn mục giữa thế giới cũ và thế giới mới. Nhưng trước khi thay đổi, Triều Tiên phải chứng tỏ trước bàn dân thiên hạ rằng, nước này vẫn tiếp tục cứng rắn với Mỹ, phương Tây, thậm chí với cả đồng minh “ruột”. Đấy là chưa kể giương cao thanh thế có thể còn vì lý do nội bộ, mà đối với các xã hội khép kín như Triều Tiên thì quả tình chưa thể đoán định hết được. Ngoài ra, khuyếch trương thanh thế còn cho phép Triều Tiên tăng cường khả năng mặc cả trong các cuộc đàm phán tương lai với Mỹ và các đối tác.

Căn cứ vào đâu để có thể dự đoán về khả năng “móc ngoặc” giữa Trung Quốc và Mỹ, vốn đang được coi là hai kỳ phùng địch thủ?

Cứ nhìn vào cuộc chiến Việt Nam trước đây và căn cứ vào các tình thế “lưỡng nan về an ninh” hiện nay ở Đông Á thì thấy cả hai gã khổng lồ này đang cần đến nhau để giải quyết chính những bê bối ở bên trong mỗi nước. Nhìn vào quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên đang ngày càng xấu đi, vì Bình Nhưỡng khăng khăng theo đuổi chương trình vũ khí hạt nhân để “chống Mỹ”, trong khi Bắc Kinh phản đối cách đi này đủ thấy…

Tại sao đối với bối cảnh thứ ba ta và ASEAN cần để ý?

Đơn giản, vì “mặc cả” trong quan hệ giữa các nước lớn là bệnh hay lây! Đã mặc cả được về an ninh Đông Bắc Á, thì chẳng có gì loại trừ họ sẽ không mặc cả về an ninh Đông Nam Á, không mặc cả về tranh chấp trên Biển Đông…

Nhưng Trung Quốc đòi đến hơn 80% diện tích Biển Đông, làm sao Mỹ có thể thỏa hiệp được?

Trước đây mấy năm, Trung Quốc đã từng “rủ” Mỹ cùng chia đôi Biển Thái Bình Dương nhưng Mỹ không chịu. Trong tâm thế đang hưng phấn cao độ, lại thấy Mỹ có những khó khăn nhất định trong việc triển khai chiến lược “Á tâm” (pivot/chuyển trục sang châu Á), ban lãnh đạo mới ở Bắc Kinh cho rằng thời điểm này có thể “nắn gân” Mỹ. Nắn được hay không còn là chuyện khác! Trước đây, Trung Quốc cũng được “bật đèn xanh” để chiếm Hoàng Sa, nhưng rồi có thay đổi được kết quả của cục diện cuối cùng của cuộc chiến đâu!

Vậy theo ông, để bảo vệ biển đảo ta và ASEAN cần làm gì trước mắt?

ASEAN phải đoàn kết, phải giữ được vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các cấu trúc khu vực. Cả ta lẫn ASEAN không bao giờ được quên bài học, các cường quốc bao giờ cũng đánh những ván bài lớn. Lợi ích các nước nhỏ chỉ là các thứ gia vị trong mâm cỗ lớn của họ…

Cám ơn TS. đã trả lời phỏng vấn nóng. Hy vọng thực tế quan hệ quốc tế trong khu vực, nhất là những vấn đề liên quan đến ta sẽ vui hơn, lạc quan hơn trong năm mới.

Muốn vui hơn, lạc quan hơn, phải có những đột phá mới về chính sách!

Xin cám ơn Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng! Và xin chúc Ông và gia đình một năm mới an lành, hạnh phúc!


Nguyễn Xuân Diện thực hiện chiều 4 Tết Quý Tỵ 
*TS. Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hà Lan, 
nguyên TBT tuần báo Quốc tế (Bộ Ngoại giao).
_________________________
Chương trình hạt nhân và phi đạn của Bắc Triều Tiên
Tháng 12, 1985: Ðồng ý với Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí Hạt nhân.
Tháng 8, 1998: Phóng thử nghiệm Taepodong-1, hỏa tiễn tầm xa đầu tiên của BTT.
Tháng 9, 1999: Cam kết đình chỉ các cuộc thử nghiệm phi đạn tầm xa vào lúc cải thiện bang giao với Hoa Kỳ.
Tháng 1, 2003: Loan báo rút ra khỏi Hiệp ước Cấm phổ biến Hạt nhân.
Tháng 3, 2005: Chấm dứt việc đỉnh chỉ thử nghiệm phi đạn, quy lỗi cho chính sách “thù nghịch” của Hoa Kỳ.
5 tháng 7, 2006: Phóng thử nghiệm hỏa tiễn tầm xa Taepodong-2, thất bại chưa đầy 1 phút sau khi phóng.
15 tháng 7, 2006: Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc yêu cầu Bình Nhưỡng đình chỉ chương trình phi đạn.
9 tháng 10, 2006: Thực hiện cuộc thử nghiệm hạt nhân đầu tiên dưới mặt đất.
15 tháng 10, 2006: Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc yêu cầu đình chỉ các cuộc thử nghiệm hạt nhân và phi đạn, cấm bán vũ khí.
5 tháng 4, 2009: Phóng hỏa tiễn tầm xa rơi xuống Thái Bình Dương, Tuyên bố thành công, nhưng Hoa Kỳ nói không có vệ tinh nào được đưa vào quỹ đạo.
13 tháng 4, 2009: Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lên án vụ phóng, siết chặt các biện pháp chế tài. Bình Nhưỡng rời khỏi các cuộc đàm phán hạt nhân 6 bên.
Tháng 5, 2009: Thực hiện cuộc thử nghiệm hạt nhân dưới mặt đất lần thứ hai.
Tháng 2, 2012: Thông báo đình chỉ các chương trình hạt nhân và phi đạn tầm xa để đổi lấy viện trợ lương thực của Hoa Kỳ.
Tháng 4, 2012: Phóng hỏa tiễn tầm xa, nổ tung ngay sau khi cất cánh.
Tháng 12, 2012: Phóng hỏa tiễn Unha-3, và tuyên bố đưa thành công vệ tinh vào quỹ đạo.
Tháng 1, 2013: Hội đồng Bảo an LHQ lên án vụ phóng hỏa tiễn tháng 12, Bắc Triều Tiên vẫn tuyên bố sẽ thực hiện cuộc thử nghiệm hạt nhân lần thứ ba.
Tháng 2, 2013: Thực hiện cuộc thử nghiệm hạt nhân lần thứ ba.

.
-->đọc tiếp...