Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viện KHXH VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viện KHXH VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Hoàng thành Thăng Long - KHAI QUẬT 10 NĂM CHƯA TỔNG KIỂM KÊ VÀ BÀN GIAO

Khai quật khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long
10 năm chưa tổng kiểm kê, bàn giao hiện vật
08:50 | 29/08/2013
Khai quật khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu, thuộc khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã thu được bao nhiêu di vật, thuộc những chủng loại nào? Câu hỏi này, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội, đơn vị được giao quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản này cũng không trả lời được, vì từ khi khai quật cuối năm 2002 đến nay chưa tiến hành tổng kiểm kê và bàn giao hồ sơ, hiện vật.


Ảnh: An Thành Đạt

Quyết định đầu tiên về khai quật khảo cổ tại khu vực 18 Hoàng Diệu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ký ngày 26.11.2002, cho phép Viện Khảo cổ học, thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay là Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), khai quật thăm dò khu vực xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình mới, trên diện tích 2.000m2, trong thời gian từ ngày 25.11.2002 - 31.2.2003. Tiếp đó, từ năm 2003 - 2008 còn có 4 quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, nay là Bộ VH, TT và DL, về việc khai quật khảo cổ tại khu vực này. Tất cả các quyết định đều nêu rõ: những hiện vật thu thập được trong quá trình khai quật thăm dò giao cho Sở VH - TT Hà Nội (nay là Sở VH, TT và DL Hà Nội) gìn giữ, bảo quản; sau khi kết thúc đợt khai quật, chậm nhất là 3 tháng, Viện Khảo cổ phải có báo cáo sơ bộ và sau 1 năm phải có báo cáo khoa học gửi về Cục Bảo tồn bảo tàng (nay là Cục Di sản văn hóa). 

Tuy nhiên đến nay, toàn bộ hồ sơ, kết quả nghiên cứu hiện vật tại khu A - B và khu C - D với diện tích 13.000m2 vẫn chưa được Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam bàn giao cho thành phố Hà Nội, nên không ai nắm được số lượng cũng như chủng loại di vật đã khai quật. Năm 2010, để tổ chức triển lãm chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - đơn vị được thành lập với chức năng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - phải ký mượn hiện vật của Viện Khảo cổ để trưng bày. Sau Đại lễ, đến nay, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam mới chỉ bàn giao 215 di vật của khu di sản. 

Chưa tổng kiểm kê và bàn giao hiện vật sẽ gây khó khăn trong việc quản lý, nghiên cứu, trưng bày, bảo tồn và phát huy giá trị của Di sản thế giới này, đưa di sản đến với công chúng; cũng như không thể thực hiện quy hoạch tổng mặt bằng khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu. Lý do chưa thể tiến hành tổng kiểm kê và bàn giao hồ sơ, hiện vật, theo công văn Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam gửi UBND thành phố Hà Nội ngày 7.11.2012, là vì đang thực hiện dự án chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học khu di tích, nhằm từng bước hoàn thiện công trình nghiên cứu tổng thể để khẳng định tính toàn vẹn về khảo cổ học; “công tác này chỉ thực hiện được sau khi đã hoàn thành công việc chỉnh lý, nghiên cứu, đánh giá giá trị và lập hồ sơ khoa học”, dự kiến đến năm... 2025. Cũng theo công văn này, các loại hình di vật khảo cổ học khai quật được tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long ước tính khoảng vài triệu di vật. Tất cả đang được bảo quản trong hệ thống 7 nhà kho ở khu C - D, có diện tích khoảng 3.825m2 và hệ thống nhà chỉnh lý, khu văn phòng làm việc của các nhà khoa học đang thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu tại khu di tích.

Năm 2013 là thời điểm 3 năm khu di sản Trung tâm Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, theo quy định của Ủy ban Di sản thế giới, ICOMOS sẽ kiểm tra, đánh giá công tác thực hiện cam kết của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. Nếu những cam kết không được thực hiện đầy đủ, đặc biệt là việc bàn giao mặt bằng khu di tích 18 Hoàng Diệu cùng toàn bộ tài liệu, hiện vật về TP Hà Nội quản lý, thì khu di sản sẽ bị cảnh cáo và có nguy cơ đưa ra khỏi danh sách Di sản thế giới.

Trước tình hình này, ngày 11.7.2013 vừa qua, UBND thành phố Hà Nội đã có văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với UBND thành phố tổng kiểm kê di tích, di vật và bàn giao toàn bộ tài liệu, hiện vật, mặt bằng tại khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu cho Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội trong năm 2013. Việc làm này cũng sẽ giúp thực hiện quy hoạch tổng mặt bằng khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu phù hợp với tiến độ hoàn thành xây dựng Nhà Quốc hội vào tháng 10.2014. Trước đó, Bộ VH, TT và DL, Hội đồng tư vấn khoa học nghiên cứu bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội đều đã có văn bản kiến nghị tổng kiểm kê di tích, di vật và bàn giao toàn bộ tài liệu, hiện vật, mặt bằng tại khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu cho Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội trong năm 2013. 

Tuy nhiên, thông báo ngày 19.8.2013, kết luận của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp về dự án Công viên lịch sử văn hóa Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, mới chỉ yêu cầu Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam bàn giao toàn bộ mặt bằng di tích khu C - D vào tháng 10.2013; “các vấn đề về hồ sơ và di vật đã khai quật tại 18 Hoàng Diệu sẽ bàn giao cho UBND thành phố Hà Nội vào giai đoạn sau” (?).
Nguyên Anh
Nguồn: Người ĐBND
-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

THƯƠNG TIẾC VĨNH BIỆT TS. NISHIMURA MASANARI - NGƯỜI BẠN CỦA VIỆT NAM

 TS. Nishimura Masanari (1965 - 2013)

TS khảo cổ học người Nhật Bản Nishimura Masanari (ảnh) vừa qua đời hôm qua 9.6 tại Hà Nội sau một tai nạn giao thông.

TS Nishimura Masanari là Giảng viên Đại học Osaka Nhật Bản, và ông đã gắn bó với khảo cổ học Việt Nam suốt 20 năm nay. “TS Nishimura Masanari đã dành cả cuộc đời cho sự phát triển của khảo cổ học Việt Nam”, PGS-TS Nguyễn Giang Hải, Tổng thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam nói.

TS Nishimura Masanari là người đã phát hiện một mảnh khuôn đúc trống đồng có niên đại khoảng thế kỷ 1-3 sau Công nguyên. Là mảnh khuôn đúc đồng duy nhất được tìm thấy từ trước tới nay, tư liệu này cho phép khẳng định trống đồng được đúc ra chính tại Việt Nam, chứ không phải từ nơi khác mang đến. Cũng chính ông cùng đồng nghiệp khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện các khuôn đúc mũi tên tại Luy Lâu. Những khuôn đúc này cho thấy những mũi tên có niên đại thời kỳ An Dương Vương được sản xuất tại chỗ.

Nhà nghiên cứu sinh năm 1965 bắt đầu gắn bó với Việt Nam từ năm 1990, khi ông tham gia chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản về di chỉ làng Vạc. Sau đó, luận án thạc sĩ của ông nghiên cứu về công cụ đá của văn hóa Hòa Bình và văn hóa Sơn Vi. Luận án tiến sĩ của ông nghiên cứu về khảo cổ học ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Mê Kông - Đồng Nai. 

Nhưng Nishi không đến VN một mình, và cũng không chỉ quan tâm đến trống đồng cùng các di sản vùng Trung và Nam Trung bộ. Nishi đã đến và gặp ở VN người bạn đời Nishino Noriko - một nghiên cứu sinh về ngôn ngữ VN. Tình yêu với khảo cổ và với Nishi đã khiến Noriko bỏ ngôn ngữ sang nghề “đào bới”, họ thành đôi và sau khi trở về Tokyo bảo vệ tiến sĩ, Noriko và Nishi đã mang hai con trở lại VN, tiếp tục những con đường khảo cổ khắp nẻo làng quê Việt.
Vợ chồng nhà khảo cổ học Nhật Bản đã góp phần cùng những nông dân làng gốm cổ Kim Lan ven sông Hồng thành lập bảo tàng gốm Kim Lan - một trong những bảo tàng gốm địa phương phong phú, đa dạng về hiện vật và hình thức hoạt động nhất hiện nay (Duyên nợ làng gốm cổ, Tuổi Trẻ Xuân 2013). Người dân làng Kim Lan đã và sẽ mãi mãi yêu mến Nishi và Noriko khi họ không chỉ làm việc ở đây, mà còn cùng những đứa con gắn bó máu thịt với làng gốm này suốt 12 năm qua.
TS Nishimura đã tham gia hàng chục cuộc khai quật lớn nhỏ, tham dự rất nhiều hội thảo khoa học quốc tế về VN và luôn dành cho mảnh đất chứa nhiều trầm tích văn hóa này những lời lẽ đầy tình cảm trên các chứng cứ khoa học.
Vĩnh biệt Nishimura - nhà khảo cổ tài năng và tận tụy với VN, PGS.TS Lâm Thị Mỹ Dung (ĐH KHXH&NV Hà Nội) nghẹn ngào: “Cầu mong vợ và hai con em vững vàng vượt qua cơn sóng gió này và Noriko tiếp bước con đường mà hai em đã chọn! Cảm ơn em về tất cả!”.
PGS-TS Nguyễn Giang Hải cho biết, do cả hai vợ chồng ông Nishimura đều gắn bó với Việt Nam nên gia đình có nguyện vọng thực hiện việc tang lễ theo nghi thức của một người Việt. Do đó, dự kiến sau lễ truy điệu, hỏa táng tại đài hóa thân Hoàn Vũ, tro cốt của ông mới được cha mẹ mang về Nhật Bản.
PGS-TS Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, cho biết Viện Khảo cổ học sẽ đứng ra tổ chức tang lễ TS Nishimura Masanari.

Thông tin về Lễ viếng, Lê truy điệu và An táng TS. Nishimura Masanari
Lễ viếng từ 12h10 đến 13h10 thứ Năm ngày 13 tháng 6 năm 2013 tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội
Lễ truy điệu cử hành lúc 13h15 cùng ngày
An táng tại Nghĩa trang xã Kim Lan - huyện Gia Lâm - Hà Nội

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

HIẾN PHÁP KHÔNG PHẢI ĐỂ BAN ƠN CHO NHÂN DÂN!

“Hiến pháp không phải để ban ơn cho nhân dân”

Cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy.

Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) hiện nay, người ta nhắc rất nhiều đến Hiến pháp 1946 và tư duy xây dựng luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách thức thiết kế, thể hiện các quyền con người, quyền công dân trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã chứa đựng những tư tưởng tiến bộ mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Pháp Luật TP.HCM đã trao đổi với PGS-TS Nguyễn Như Phát, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), xung quanh vấn đề này.

. Phóng viên: Những giá trị tiến bộ của Hiến pháp 1946 về quyền công dân là gì, thưa ông?

+ PGS-TS Nguyễn Như Phát (ảnh): Dưới thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, do bối cảnh chính trị xã hội lúc bấy giờ, những người soạn thảo Hiến pháp 1946 là những người có tài, thức thời và không bị chi phối bởi tư tưởng giai cấp hoặc chính trị quá nhiều. Do đó, bản Hiến pháp đầu tiên này có những giá trị rất cấp tiến, tư duy mạch lạc, thể hiện tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lập hiến hiện đại. Theo đó, Hiến pháp là “văn bản ủy quyền” của nhân dân cho Nhà nước, trao cho Nhà nước hệ thống quyền lực cụ thể của nhân dân, ấn định việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và các nguyên tắc, phương pháp thực thi quyền lực Nhà nước cũng như ghi nhận và xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. 

Tinh thần của Hiến pháp 1946 như vậy nên ngay cả việc sắp xếp các chương thì quyền con người, quyền công dân cũng nằm ở chương hai trong khi trong Hiến pháp hiện hành là chương năm. Sắp tới, bản Hiến pháp sửa đổi chắc sẽ có sự thay đổi và quay về cách sắp xếp của bản Hiến pháp ban đầu. 

Mặt khác, Hiến pháp vẫn là văn bản quy phạm pháp luật và phải có giá trị thi hành. Điều đó có nghĩa là quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp có giá trị áp dụng trực tiếp, không có nhu cầu cần phải cụ thể hóa. Những quyền của công dân trong Hiến pháp 1946 thể hiện rõ nhất điều đó chứ không kèm thêm câu “theo quy định của pháp luật” như từ Hiến pháp 1980 trở đi.

Trên thực tế thì quyền và nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp thường cần đến luật quy định cụ thể. Muốn điều chỉnh những quyền này của công dân thì Nhà nước phải có luật nhưng không phải là cắt xén tinh thần của Hiến pháp. Luật đó chỉ mang tính chất trình tự thủ tục và dĩ nhiên, ở một xã hội văn minh thì quyền đó phải được thực hiện trong một khuôn khổ và trình tự nhất định. Tuy vậy, việc hạn chế quyền của công dân có thể được thể hiện theo quy định của luật (chứ không phải của mọi pháp luật) và phù hợp với Hiến pháp chứ không phải hạn chế vì lợi ích Nhà nước.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, phát biểu trong phiên họp lần thứ tư năm 2012. Ảnh: TTXVN

Giữ gìn sự thiêng liêng của Hiến pháp

. Vậy quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 có gì khác so với hiện nay?

+ Trước giờ chúng ta vẫn quen đánh đồng lợi ích công cộng với lợi ích Nhà nước là một nhưng hoàn toàn không phải như thế. Nhà nước chỉ là một chủ thể trong xã hội và có lợi ích riêng của mình còn xã hội có rất nhiều chủ thể có lợi ích riêng. Những quy định hạn chế một phần, hạn chế quyền của công dân để đảm bảo lợi ích công cộng đều phải được cân đong đo đếm để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp. 

Theo tôi, cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy. Đây là sự khác biệt rất lớn về tư tưởng lập hiến từ Hiến pháp năm 1980 trở đi so với Hiến pháp 1946. 

Từ Hiến pháp 1980, triết lý lập hiến của ta là mọi quyền cơ bản của công dân đều phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật nhưng cách ban hành pháp luật của chúng ta lại có vấn đề. Nếu hiểu theo cách đó thì theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những ông nghị làng nghị xóm cũng có thể xóa đi một điều trong Hiến pháp. Đơn giản là do các ông ấy có thể ra nghị quyết (được coi là pháp luật) mà nghị quyết này trên thực tế lại không bị kiểm soát. Hơn nữa, trên thực tế, rất ít thấy việc văn bản pháp luật của cấp dưới bị hủy bỏ bởi cấp trên. Như vậy, sự thiêng liêng của Hiến pháp đã bị ảnh hưởng.

Pháp luật không phải để cai trị 

. Từ triết lý lập hiến như vậy, ông có suy nghĩ gì về cơ chế ban hành pháp luật hiện nay?

+ Cách thức, tư duy làm luật cũng không khác gì so với việc ban hành Hiến pháp. Lâu nay người ta vẫn nghĩ pháp luật là của Nhà nước, là công cụ mà Nhà nước dùng để cai trị và quản lý xã hội. Vì thế, hiểu theo nghĩa thô thiển, cơ quan ban hành pháp luật dễ “tự do” ấn định ý chí của mình vào văn bản pháp luật để cho dân thực hiện. Đặc biệt, cách tư duy như vậy sinh ra tư tưởng làm luật ban ơn, Nhà nước ban phát đến đâu, dân hưởng đến đó. 

Cạnh đó, mọi người vẫn nghe khẩu hiệu đưa pháp luật vào cuộc sống song chưa ai đặt ra vấn đề đưa cuộc sống vào pháp luật. Nếu không đưa cuộc sống vào pháp luật thì pháp luật đang tồn tại có được coi là pháp luật hay không? Đó là chưa bàn tới câu chuyện nó có khả năng thực thi hay không. Luật không phản ánh nhu cầu thật của xã hội thì làm sao xã hội có thể thực hiện nó, ấn nó vào xã hội làm sao được? Đây là vấn đề về tính chính đáng của pháp luật.

. Ông có thể đưa ra những ví dụ cụ thể?

+ Thí dụ việc giao cho Bộ Công an chủ trì soạn thảo Luật Biểu tình thì đương nhiên Bộ Công an phải nghĩ làm sao cho hoạt động an ninh được đảm bảo. Và người ta sẽ có những quy định về biểu tình để đảm bảo an ninh theo nghĩa của những người làm an ninh chứ chưa chắc đã phải là của nhân dân.

Một thí dụ khác là trong ngành tài chính của ta, từ cơ quan nhỏ đến cơ quan to cứ chăm chăm làm sao thu được nhiều thuế của dân. Nhưng kinh tế học chứng minh đó là tư duy sai lầm, kể cả khi việc đó phục vụ cho mục tiêu làm giàu ngân sách quốc gia. Anh thu nhiều thuế, thu thuế cao thì người ta không đóng và sinh ra đủ kiểu trốn thuế. Không có nhà nước nào khôn hơn dân và không có nhà nước nào mạnh hơn dân cả! 

Cân đối lợi ích trong ban hành pháp luật 

. Thế tại sao tư duy làm luật này vẫn còn tồn tại, thưa ông?

+ Theo tôi, hệ thống thực thi pháp luật, trình tự thủ tục hành chính, tư tưởng đạo đức của con người trong bộ máy nhà nước đang làm cho vấn đề này càng trầm trọng thêm. Thêm vào đó là vấn đề quan trí. Báo chí cũng đã từng lên án về tệ chạy chức chạy quyền. Có mua ắt có bán. Đây là thị trường béo bở mà nhà đầu tư kém cỏi nhất cũng nghĩ đến chuyện hoàn vốn. Trong đó thời gian hoàn vốn chính là nhiệm kỳ, đó là một trong những vấn đề sinh ra tư duy nhiệm kỳ. Tư duy chính trị, truyền thống lập pháp, thực trạng của hệ thống quản lý trên đều là những yếu tố có thể giải thích nguyên nhân tại sao luật pháp lại hay vơ vào cho Nhà nước như vậy. 

Bên cạnh đó, tham nhũng chính sách là thứ vô cùng nguy hiểm. Loại tham nhũng này được dựa trên những cơ sở của pháp luật, xuất phát từ vai trò chủ trì soạn thảo pháp luật. Loại tham nhũng này dựa trên cơ sở hợp pháp nên có hậu quả khôn lường. 

Lợi ích và cục bộ ngành cũng là vấn đề làm suy yếu Nhà nước. Các bộ, ngành, các địa phương đều cùng ngồi trong một con thuyền là Nhà nước. Nếu họ không cùng phối hợp nhịp nhàng và trên tinh thần phục vụ nhân dân toàn quốc vì sự phát triển chung và đồng đều của đất nước thì sẽ không là những vector cùng chiều để tạo thành sức mạnh chung cho Chính phủ. 

Trên thực tế, có những vấn đề vượt phạm vi của một ngành, một bộ, buộc họ phải ngồi lại cùng nhau để ban hành chính sách hay pháp luật (thí dụ như thông tư liên bộ). Những vấn đề lớn hơn sẽ phải do tập thể Chính phủ bàn bạc và quyết định (dưới dạng nghị định). Những vấn đề quan trọng của đất nước phải do Quốc hội quyết định. Trong quá trình đó, nếu không “cân đối” được lợi ích ngành, địa phương với lợi ích quốc gia thì quản lý đất nước sẽ không minh bạch, không thông suốt và tạo kẽ hở cho tiêu cực trong hệ thống và lãng phí xã hội, tạo cơ chế xin - cho. 

Những hiện tượng như các địa phương, các ngành tìm cách để xin cơ chế riêng, thậm chí cả các đoàn đại biểu Quốc hội có thể tạm quên đi lợi ích quốc gia mà phấn đấu cho lợi ích địa phương mình… đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cục bộ. Những “phi vụ” đó thành công thì cơ chế và chính sách sẽ được hợp pháp hóa. Nếu không đổi những tư duy này từ gốc thì pháp luật của chúng ta không thể làm bà đỡ cho xã hội phát triển.

. Xin cảm ơn ông.
THANH LƯU thực hiện
-->đọc tiếp...