Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn bạn bè. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bạn bè. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

CÙNG XEM LẠI GIÂY PHÚT HẤP HỐI CỦA HÀ TÂY YÊU DẤU 5 NĂM TRƯỚC


Có nhớ Xứ Đoài mây trắng lắm?
Tặng hai anh PBC và NXD 
cùng những người “nhớ” Hà Tây

Mai anh thành người Hà Nội
Xứ Đoài mây trắng còn bay?
Mai anh thành người Hà Nội
Có còn nhớ... mắt Sơn Tây?

Thạch Thất, Ba Vì, Phúc Thọ
Phú Xuyên, Chương Mỹ, Ứng Hòa
Thường Tín, Mỹ Đức, Thanh Oai
Hoài Đức, Quốc Oai, Đan Phượng...

Tất cả vẫn đều là huyện
Nhưng không phải tỉnh Hà Tây!
Tất cả vẫn còn nguyên vẹn
Mà sao thương đến lắt lay!...

Mai anh thành người Hà Nội
Có đi đâu, vẫn quê mình
Mà sao thấy lòng tồi tội
Rứt ray như kẻ phụ tình!

Đá ong khô buồn rớm lệ
Mây Đoài trắng lắm..., đành quên
Sài Sơn... lúa vàng..., thôi kệ
Mặc đồng Bương Cấn ai lên!

Mai anh thành người Hà Nội
Uống cùng anh cạn đêm nay
Ước chi hóa thành chén rỗng
Lòng đau - anh cứ rót đầy!

Đ.H.T
Đà Nẵng, chiều 31.7.2008

****
Cùng xem lại chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam 
về giây phút lâm chung của tỉnh Hà Tây

-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

VỀ XỨ ĐÔNG THƯỞNG THỨC MÓN RƯƠI CÙNG TS VŨ THẾ LONG


Ẩm thực Rươi 
Vũ Thế Long

Tặng Khôi để nhớ ông bạn Thanh Bẩn người Hải Dương
đã cho chúng mình thưởng thức mắm rươi tuyệt diệu ngày nào.

Thưở nhỏ mỗi khi trở trời, Hà Nội oi nồng và lất phất mấy hạt mưa, ông tôi nằm trở mình lại bảo “lại sắp có rươi rồi đây!”. Quả nhiên, sớm dậy có bà bán rươi gánh hai thúng rươi rao ngay đầu phố “Ai mua rươi ra mua” Cái tiếng rao trầm bổng thật đặc trưng mà nếu ta không ghi âm lại để giữ cho con cho cháu thì liệu sau này còn ai biết nữa không? Cái thời buổi điện tử số hóa này, đến rao thuốc chuột, bán báo người ta cũng dùng loa ắc quy cho quay đi quay lại tòan những câu thơ vần vui vui:

“Chuột lớn chuột bé, chuột mẹ chuột con
Chuột nga la tư, chuột thổ nhĩ kì
Chuột gỉ chuột gi
Chuột gì cũng chết”
 
hay:

“Còn thừa tiền lẻ làm chi
Mua liều thuốc chuột phòng khi chán đời”…

Cái tiếng rao loa điện lại sọan thành thơ nghe ngồ ngộ thì may ra đời sau người ta đọc thơ thì còn nhớ được, còn cái lối rao giọng Teno như hát opera khi chèo thuyền trong dòng sông cổ kính ở Venice bên Ý nhưng là giọng của bà già quê từ Hải Dương vội vã chuyến tàu sáng để kịp gánh thúng rươi còn tươi rói lúc nhúc đem về phục vụ cho những cái mồm sành ăn Hà Thành “Ai mua rươi ra mua” thì ngân vang, kéo dài, đánh thức cả ngõ phố thì không nghe không ghi âm lại, không ai nhớ dược. Nghe tiếng rao lanh lảnh, nhà nào nhà ấy đều vội vớ cái bát ô tô ra tranh mua một bát. Mua ngay kẻo bà đi một lúc là hết. Biết đến bao giờ mới được ăn.

Tôi chạy vội theo lũ trẻ xúm đông xúm đỏ quanh cái thúng rươi được kê ngiêng dưới chân cái cột điện sắt đầu phố. Lũ rươi bò nhung nhúc trong thúng nhưng lạ thật cái mặt thúng rươi dàn thành một bề mặt phẳng như bát chè đặc. Những con rươi như quyện chặt vào nhau thành một khối. Con thì màu hồng, con thì chuyển màu xanh đùng đục xam xám, tim tím. Bà bán rươi tươi cười khéo léo vét ra từng bát bán cho khách. Lũ trẻ chúng tôi, đứa mạnh bạo thì lấy tay nhón trộm một con chơi. Tôi bắt chước cũng lấy que chọc lấy vài con bỏ vào cái lá bàng rồi cả lũ kéo nhau ra một góc ngắm nghía thú vị với món đồ chơi tươi sống mới lạ. 

Đứa thì lấy que tre cứa đứt thân rươi xem trong bụng nó có gì rồi cãi nhau ỏm tỏi. Đứa thì bảo đấy là gan rươi, đứa lại cãi đấy là trứng rươi. Đứa thì thả con rươi xuống cống cho nó bơi xem lông rươi nó cử động trong nước ra làm sao. Cãi nhau chán nhưng bất phân thắng bại. Chẳng biết đứa nào đúng, đứa nào sai vì thời ấy chẳng có sách vở gì cho trẻ con dạy về con rươi cả. Ừ mà cho đến tận bây giờ, sách vở tòan là chuyện tranh. Hết siêu nhân lại đến Đô Rê môn. Hình như chẳng có trang nào viết về con rươi cả. Trẻ con Hà Nội bây giờ chẳng mấy đứa thích thú gì khi chơi cái trò giải phẫu rươi , thả rươi bơi thi hay đổ dế, bắt ve như cái thủa chúng tôi còn chân guốc mộc la cà trên vỉa hè ngày ấy. Cũng chính vì cái thú tò mò ấy nên sau này tôi chọn theo ngành Sinh vật học và có ai ngờ trong những giờ học đầu tiên trong phòng thí nghiệm tôi lại được tiếp cận một cách sâu sắc nhất thứ động vật gắn bó với tuổi thơ của tôi. Đấy là những mẫu vật rươi thuộc bọn nhóm “giun nhiều tơ” được sưu tập từ đất Hải Dương với cái địa danh Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Tứ Kỳ…Là Những vùng có nhiều rươi và thời gian thu thập mẫu cũng nằm gọn trong cái thời vụ mà các cụ vẫn thường nói “tháng chín đôi mươi, tháng mười mồng năm” có nghĩa là trong năm có hai vụ rươi chính . Vụ chiêm được bắt đầu từ tháng 5 cho đến giáp tết, còn vụ chính là vào cuối tháng 9 âm lịch. 

Cũng từ đó, tôi được nhận thức một cách chính xác và đầy đủ nhất về cấu tạo cơ thể của con rươi nó ra làm sao, nó sinh đẻ thế nào. Chúng tôi còn phải mổ rươi dưới kính phóng đại để hiểu biết tường tận lục phủ ngũ tạng của con rươi nó ra làm sao. 

Tôi thầm cảm ơn bà Tam bán rươi, dân Tứ Kì Hải Dương ngày nào. Nhờ bà mà tôi đã thỏa cái trí tò mò khí ngồi hàng giờ ngắm chú rươi thân đầy những sơi lông nhỏ li ti cố gắng vượt dòng nước cống ra sao. Cái sự sống kì lạ của con vật nhỏ bé từ xứ Hải Dương đã kính thích cái tò mò của tôi, nó như một chất xúc tác đưa tôi đến niềm say mê tìm hiểu sự sống, nó dẫn tôi vào đời với nghề nghiên cứu sinh vật học. Nếu như không có gánh hàng rươi từ Hải Dương, chắc tôi vẫn cứ theo nghề sinh học vì tôi vốn yêu thích tự nhiên ngay từ nhỏ. Dẫu sao tôi cũng biết ơn bác Tam, Biết ơn những chú rươi xứ Đông đã làm bùng lên trong tâm hồn trẻ thơ của tôi cái lòng yêu thiên nhiên, xứ sở và lòng yêu cái nghề mà mình suốt đời theo đuổi.

Thôi, xin trở lại cái chuyện gánh rươi đầu phố. Khác với mọi người, mẹ tôi không hào hứng như các bà các cụ khác trong ngõ. Tôi chạy vào giục mẹ “Sao mẹ không ra mua rươi đi”. Bà chỉ cười hiền hậu bảo “Ăn làm gì thứ ấy, ghê chết. Các cụ bảo ăn rươi, ăn cá bể là độc lắm. Thôi, kiêng cho nó lành con ạ” Ông tôi cũng chỉ nói thế chứ cụ cũng chẳng hào hứng gì với con rươi cả. Thấy mẹ bảo thứ ấy độc thì tôi tin là độc nhưng cũng chẳng biết dộc ra sao.

Buổi sau bữa cơm trưa, tôi và lũ bạn ôm sách kéo nhau đến trường. Thời ấy chỉ học nửa buổi thôi, có phải học thông tầm cả ngày, ăn cơm trưa ở trường như lũ trẻ bây giờ đâu. Đến trưa còi nhà hát lớn ủ là bố tôi lại từ nhà dây thép Bờ Hồ đạp về nhà ăn cơm trưa với cả nhà. Ăn xong chợp mắt một chút rồi lại đạp xe đến sở làm việc. Lũ chúng tôi thì cũng chải đầu ăn mặc chỉnh tề tụ tập nhau í ới đi bộ tới trường chẳng cần ai đưa ai đón. Những cuốc đi bộ từ nhà tới trường hay từ trường về nhà là những thời gian vô cùng thích thú. Thú nhất là trở về sau tiếng trống tan lớp vì được la cà xem xiếc khỉ, xem các món ăn lạ, ngửi những mùi xào nấu, hấp dẫn bay ra từ những nhà bán thịt thú rừng góc phố trong lúc bụng đói mèm, tiền chẳng có một xu. 

Trưa ấy , cả lũ thi nhau kể về bữa ăn rươi kì thú trong bữa trưa, kể về cách làm lông, đúc chả, xào xáo rươi ra sao…Tôi nghe mà thèm nhưng chỉ biết nghe vậy, chẳng dám bình luận “ăn rươi độc thế mà sao chúng mày dám ăn?” Ai lại dại dột đi chê chúng nó. Chê chúng nó là chê cả nhà chúng nó chê cả lũ bạn cùng phố. Thôi. thiểu số phải phục tùng đa số. Tôi hèn nhát nên cũng không dám nói cái lời mẹ dạy “ăn rươi nó độc. Ghê chết người ăn làm cái quái gì”. Thì ra từ nhỏ người ta đã có cái tâm lí sợ số đông, sợ đa số. số đông nghĩ như thế, mình thấy khác thì cách khôn ngoan nhất là cứ im lặng thì an tòan. Im lặng là vàng dù mình cảm thấy có cái gì đó không hợp. 

Sau này, khi thảo luận với cụ Trần Quốc Vượng chúng tôi mới nhận thức ra rằng trong sự ăn uống ta cần khoan dung, cần Tolérance. Anh không ăn được mắm tôm, thịt chó, tiết canh, ậm phịa, thậm chí ghê sợ thì chớ có chê họ là man di, là mọi rơ. Người ta không ưa cái mùi pho mát thum thủm của Hà Lan anh ăn được nó thì cũng chớ chê là người ta quê mùa. Phải biêt tôn trọng sở thích của nhau, biết lắng nghe các ý kiến cá nhân của nhau. Anh không ăn được rươi, không biết ăn rươi thì là cái việc riêng của anh. Cấm không được chê người Hải Dương ăn rươi là ăn của độc. 

Sau này, sau khi tôi lấy vợ, ăn cùng gia đình nhà vợ tôi. Bố mẹ vợ tôi chẳng ghê sợ con rươi mà còn là những người hễ thấy bán rươi là phải mua bằng được. Các cụ đặc biệt ưa thích cái món khóai khẩu này. Bố vợ tôi bảo ăn rươi vào nó khỏe người. Nhất là trong cái ngày có mưa rươi người đau ê ẩm. 

Bà mẹ vợ tôi thường làm món chả rươi theo lối thông thường: Chần qua nước sôi cho lông rươi rụng hết, thịt rươi săn lại (gọi là làm lông rươi) sau đó trộn rươi với trứng vịt, thịt lợn băm, rau thìa là và vỏ quýt thái nhỏ đúc trứng trên chảo mỡ. Thế là có đĩa chả rươi thơm lừng. Cũng có lần cụ xào rươi với củ niễng thái mỏng. Củ niễng này cũng được trồng ở nhiều ruộng nuớc ngoài Hải Dương. Lần đầu được ăn các món này, tôi mới thực hiểu được cái đặc sản Hải Dương nó ngon làm sao. Tôi tự hỏi : ngon như vậy sao mẹ mình không ăn mà lại bảo là độc? Sao ông mình, bà mình lại chối bỏ? Thì ra người Hà Nội quê tôi nhiều người cũng có chung cái tâm lí ấy. Tất cả chỉ vì ngại tiếp nhận cái gì mà mình thấy lạ, thấy hình thù kì dị mà thôi. Những người Hà Nội nào từng trải, đi Nam về Bắc, những người Hà nội có quê gốc Hải Dương, lấy vợ lấy chồng người Hải Dương thì hẳn phải coi là rươi là món ăn quốc hồn quốc túy. 

Sau này, tôi có ông bạn tên Thanh Bẩn người Hải Dương làm bên Đại học Y khoa. Mỗi lần về quê ra, bao giờ Thanh cũng dành một bữa mắm rươi thịnh sọan mời cả tổ bộ môn và bè bạn đến đánh chén một bữa túy lúy món mắm rươi do chính tay bà cụ Thanh làm để dành cho ông con là cán bộ ở Trung Ương. Tôi quen ăn mắm tép đồng Hà Nội. Lần đầu được mời ăn mắm rươi, thấy ông Thanh “Bẩn” dọn mâm cũng lại rau sống, thịt lợn luộc, chuối xanh, gừng tươi, hành củ, lạc rang, ớt tươi… nghĩ bụng: cũng chẳng khác gì mắm tép. Khi rót mắm rươi ra, một màu vàng ươm kì lạ và khi gom thịt, rau và đủ các gia vị chua cay mặn ngọt , chát hăng, rưới tí mắm rươi kèm chút bún, nhấp chén rượu tăm thì cái cảm giác thần tiên nó xuất hiện ngay lập tức trong cái lưỡi, trong con tỳ con vị. Đố ai mô tả được nó lạ, nó ngon ra sao? Ẩm thực lạ kì thế. Không ai có thể dùng văn chương, chữ nghĩa mà mô tả được cái ngon của mắm rươi, cái vị của cà cuống nó ra sao. Chữ nghĩa không phải là công cụ đủ khả năng mô tả cái thi vị mà chỉ cái lưỡi, cái răng và nhiều cái giác quan của con người mới nhận thức được khi thưởng thức các báu vật ẩm thực của trời đất ban cho.

Sau này, tìm hiểu ẩm thực Việt Nam tôi mới được biết cụ vua ẩm thực đồng họ với tôi , cu. Vũ Bằng sinh thời có nhắc khéo “mắm rươi ăn với tôm he bông không có rau cần và rau cải cúc thì hỏng kiểu “và ông nhận xét “không thể nào quan niệm được một bữa mắm rươi "ra giáng" mà lại thiếu hai món rau quan yếu đó. Thiếu nó, thật y như một ngườiđàn bà đẹp mà vô duyên: tẻ lắm”

Ô hay nhỉ? Thì ra ăn mắm rươi đúng kiểu nó lại phả như thế ư ? Kiếm đâu ra tôm he bông bây giờ ? Rau cần , cải cúc thì không hiếm. Thì ra tôi vẫn ăn mà vẫn ăn theo lối vô duyên thế sao?

Tôi luớt web để tìm hiểu xem người Hải Dương xứ Đông còn có kiểu ăn rươi nào nữa không. Mở ra mới giật mình vì cái hiểu biết về ăn rươi của mình còn khiếm khuyết quá. Chả rươi, mắm rươi cũng có muôn vàn kiểu ăn khác nhau. Ngòai chả rươi người xứ Đông còn có xôi rươi, canh rươi và nhiều món thú vị khác.

Tôi quyết định một ngày nào đó phải thử ăn mắm rươi đúng kiểu sành điệu của cụ Vũ Bằng, Đệ nhất ẩm sỹ Người Hà Nội gốc thuở xưa xem cái giá trị của tôm he bông, của cải cúc cần ta nó đến đâu trong bản tổng phổ mắm rươi cổ điển

Tôi quyết định sẽ rủ bạn Nhậu về quê Thanh Bẩn khám phá cho bằng được cái bí ẩn của ẩm thực rươi Hải Dương để rồi giới thiệu với những tay sành điệu ẩm thực Hà Nội. 

TP HCM. 25-9-2010
 
*Bài viết do TS. Vũ Thế Long gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!


-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

GỬI EM TRAI NƠI QUÊ NHÀ - thơ Mai Văn Lạng

Gửi em trai nơi quê nhà
Mai Văn Lạng

Về quê như người mắc lỗi
Cả đời chẳng biết lo toan
Lúng túng như gà mắc tóc
Anh làm gì cũng dở dang

Cha mẹ sinh ba anh em
Mỗi người một tính một nết
Em thì việc gì cũng biết
Còn anh: đèn sách miệt mài

Cuộc đời nhiều khi đến lạ
Anh thì thuyền đỗ bến êm
Em thì sóng to gió cả
Loay hoay, xoay xỏa chẳng nên

Anh đi xa quê biền biệt
Một năm về quê vài lần
Vào nhà anh giờ như khách
Còn em việc quýnh lấy chân

Việc quê: Họ, hàng, làng nước
Trăm điều trông cậy vào em
Giỗ chạp, ma chay, hiếu hỷ
Việc gì anh cũng không quen

Biết rắng mỗi người một phận
Mà anh vẫn thấy xót xa
Cha mẹ sinh anh là cả
Mà em gánh hết việc nhà

Đã lại thứ hai rồi đấy
Anh lại bắt đầu vòng quay
Mặc quê với bao bề bộn
Để em “chăm chút“ từng ngày.

8h00 sáng thứ hai ngày 21/ 1/ 2013


-->đọc tiếp...

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

HÁN NÔM HỌC - KHOA HỌC LIÊN NGÀNH ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Hán Nôm học - khoa học liên ngành để phát triển đất nước 

Trần Trọng Dương


VNN - Hán Nôm học là một ngành khoa học liên kết con người hiện đại, xã hội hiện đại với lịch sử và truyền thống văn hóa. Ngành khoa học này có một độ lùi nhất định so với cách ngành sử học, triết học, văn hóa..., nhưng độ lùi đó là cần thiết cho những nghiên cứu chuyên sâu luôn được khai thác từ những tư liệu gốc (original texts).

Ở khía cạnh rộng rãi, Hán Nôm học là một khoa học liên ngành, ngoài ba chuyên ngành “chính danh” là văn bản học, thư tịch học và văn tự học ra, thì Hán Nôm học còn bao quát một phạm vi rộng lớn của rất nhiều ngành khoa học khác như trình bày dưới đây. 

Hán Nôm học là ngành nghiên cửu về cổ sử và lịch sử Trung đại Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Muốn biết lịch sử Việt Nam 4000 năm ra sao chúng ta chỉ có hai ngành khoa học chính đó là Khảo cổ học và Hán Nôm học. Khảo cổ học cho ta những hiện vật của quá khứ để giải mã lịch sử của con người Việt Nam từ thuở mới xuất hiện loài người trên lãnh thổ Việt Nam cho đến các giai đoạn văn minh Đông Sơn, Óc Eo, Sa Huỳnh … Còn Hán Nôm học cho chúng ta biết các sử liệu thành văn (chữ Hán và chữ Nôm) trong khoảng thời gian 2000 năm trở lại đây. Người làm về lịch sử cổ - trung cận đại Việt Nam biết Hán Nôm cũng như đã nắm được chiếc chìa khóa vạn năng để nghiên cứu về lịch sử của dân tộc. Những bản dịch, những công trình nghiên cứu của giới Hán Nôm học trong nhiều thập kỷ qua là những thành quả khó có thể bác bỏ, ví dụ Giáo sư Đào Duy Anh với các công trình Đất nước Việt Nam qua các đời, Lịch sử cổ đại Việt Nam, giáo sư Hà Văn Tấn với các công trình Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Giáo sư Trần Quốc Vượng với bản dịch Việt sử lược, Tiến sĩ Hoàng Văn Lâu, Pgs Ngô Đức Thọ với các bài nghiên cứu chuyên sâu và bản dịch nổi tiếng của sách Đại Việt sử ký toàn thư… 

Đó chỉ là một số ít những công trình về lịch sử của các giáo sư các nhà nghiên cứu lão thành có sử dụng Hán Nôm như là một công cụ để nghiên cứu về lịch sử dân tộc. Những công trình này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với xã hội. Nó giúp nhiều thế hệ người Việt Nam hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, lịch sử xây dựng một đất nước văn hiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhiều công trình trong số này đã có những ảnh hưởng lớn đối với quốc tế.


Hán Nôm học còn là ngành nghiên cứu về lịch sử tư tưởng và triết học Việt Nam. Như ta biết, tư tưởng triết học luôn luôn phải đi với ngôn ngữ - văn tự. Bởi vì, chữ viết và ngôn ngữ viết là hai nhân tố quan trọng nhất cho sự truyền bá mọi tư tưởng triết học. Ngôn ngữ là điều kiện tiên quyết và bắt buộc đối với triết học. Việt Nam trong lịch sử hai ngàn năm trở lại đây, đã sử dụng chữ Hán- tiếng Hán và chữ Nôm- tiếng Việt như là hai công cụ chính để ghi chép về tư tưởng triết học. Trong đó, các tôn giáo có ảnh hưởng rộng lớn ở tầm khu vực như Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo. Biết Hán Nôm, tức là chúng ta có thể nghiên cứu tư tưởng và tư duy triết học bằng NGUYÊN NGỮ. Tư duy nguyên ngữ mới là tư duy triết học. 

Muốn nghiên cứu triết học trước hết phải biết ngôn ngữ gốc của mỗi một nền triết học đó. Nghiên cứu triết học Mác ta phải đọc được và tư duy triết học bằng tiếng Đức, muốn hiểu triết học Phật giáo nguyên thủy ta phải đọc được chữ Sanscrit, muốn hiểu tư tưởng Nho- Phật- Đạo chúng ta cần phải biết chữ Hán. Không những thế Hán Nôm còn là công cụ ghi chép, phiên dịch của cả đạo Thiên chúa giáo. Mặc dù Thiên chúa giáo mới chỉ vào Việt Nam từ thế kỷ XVI- XVII, nhưng ngay lập tức, các giáo sĩ phương Tây đã phải học chữ Nôm học tiếng Việt và chuyển dịch các văn bản kinh Thiên chúa sang tiếng Việt. Chúng ta có thể kể đến các văn bản Majiorica thế kỷ XVII với 4000 ngàn trang kinh điển dịch sang chữ Nôm. Đây là một nguồn tư liệu hết sức phong phú để chúng ta nghiên cứu về giáo lý cũng như lịch sử truyền giáo của Thiên chúa và nước ta. Từ những nghiên cứu toàn diện về lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học đó, chúng ta sẽ có những tư duy hợp lý để điều chính và đóng góp thêm những giá trị vững bền cho minh triết Việt Nam và những tư tưởng có giá trị cho công cuộc xây dựng đời sống tâm linh, đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của con người Việt Nam hiện đại, góp phần xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh hơn, nhân văn hơn, nhân bản hơn.

Hán Nôm học còn là ngành nghiên cứu về lịch sử địa lý, lịch sử cương vực của Việt Nam. Như chúng ta biết, lãnh thổ Việt Nam có được như ngày hôm nay là phải trải qua 4000 năm dựng nước, giữ nước. Quá trình dựng nước không chỉ gói hẹp trong việc thành lập các chế độ nhà nước, mà còn bao hàm cả việc các nhà nước dần dần tiến hành mở rộng lãnh thổ và xác lập chủ quyền trên những vùng đất mới: “từ thuở mang gươm đi mở nước, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Những quá trình mở nước, cắm mốc chủ quyền đó đều được ghi chép lại trong các thư tịch Hán Nôm. Vì thế, Hán Nôm học góp phần xây dựng một bộ môn khoa học chuyên sâu, đó là “địa lý học lịch sử”- diễn đạt phổ thông ta gọi đó là “lịch sử hình thành lãnh thổ đất nước”. 

Chính những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này sẽ góp phần quan trọng vào quá trình xác lập chủ quyền và giữ vững lãnh thổ. Như những năm vừa qua, tình hình biển Đông và các vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa luôn là những điểm nóng của đất nước. Lúc này các nhà Hán Nôm học cùng với các nhà sử học, luật học… cùng phải chung lưng đấu cật trên từng con chữ, trên từng văn bản, trên từng bản đồ để chứng minh về tính pháp lý, và chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo này. Đó là những đóng góp thiết thực và có ý nghĩa quan trọng của chuyên ngành hẹp đối với đất nước.

Hán Nôm học còn là ngành nghiên cứu về lịch sử văn học. Việt Nam trước nay vẫn được biết đến là đất nước của thơ ca. Từ những câu ca dao, hò, vè thân thuộc từ thuở nằm nôi, ngoài việc “truyền khẩu” qua lời ru của mẹ, còn có sự truyền bản của các văn bản Hán Nôm. Truyền khẩu có chức năng như là truyền cảm xúc, truyền yêu thương; còn truyền bản bằng chữ Hán chữ Nôm thì văn tự đã tồn tại như một mã gen văn hóa có khả năng truyền qua nhiều thế hệ, truyền xuyên thời gian. Rất nhiều mảng của văn học dân gian đều được mã hóa qua các văn bản Hán Nôm. 

Chúng ta đều biết công trình Truyện cổ tích Việt Nam của nguyên viện trưởng Viện NC Hán Nôm- GS Nguyễn Đổng Chi được coi như là cuốn sách làm nên tuổi thơ của bao thế hệ người dân Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ qua. Chúng ta cũng biết đến công trình Ca dao Việt Nam của Giáo sư Vũ Ngọc Phan. Cả hai công trình này ngoài việc sưu tầm dân gian, còn dựa trên rất nhiều văn bản chữ Nôm hiện còn lưu trữ được. Ngoài ra còn phải kể đến hàng loạt các tác phẩm văn học khác như Tổng tập văn học Việt Nam (42 tập) trong đó phần lớn là các văn học Việt Nam cổ trung đại do hàng loạt các thế hệ Hán học biên soạn, dịch chú. Hàng trăm cuốn sách chuyên luận, các bản dịch thơ văn của các nhà Hán học, Nôm học đã xuất bản trong vòng vài chục năm qua là những đóng góp to lớn của ngành Hán Nôm đối với nền văn học cổ điển nước nhà. Hiểu rõ hơn nền văn học của cha ông chúng ta đó là một yếu tố quan trọng để làm nên diện mạo và bản sắc của văn học Việt Nam hiện nay. 

Hán Nôm học còn là ngành nghiên cứu về văn hóa dân tộc. Việt Nam còn được biết đến với lịch sử văn hiến lâu đời. Chữ “văn hiến” là một khái niệm gồm hai yếu tố “văn” và “hiến”. Trong đó, “văn” là “văn tự, văn chương, văn tịch, văn bản”, “hiến” là “con người hiền tài” là “nguyên khí quốc gia”. Trong bản thân khái niệm “văn hiến” đã bao gồm cả khía cạnh các yếu tố văn vật của một nền văn hóa và chủ thể của nền văn hóa đó. Khái niệm “văn hiến” còn bao quát luôn cả khái niệm “nguồn nhân lực” theo quan điểm của khoa học hiện đại. Nghiên cứu Hán Nôm học là nghiên cứu về các văn bản có ghi chép về mọi đời sống văn hóa của con người Việt Nam xưa. Văn hóa làng xã được phản ánh trong hàng ngàn khoán ước, hương ước. Văn hóa gia đình được lưu trữ trong các gia phả, tộc giả. Văn hóa tôn giáo được ghi chép các bộ sách nghi quỹ của Phật giáo, lễ nghi của Nho giáo, sách cầu cùng bùa chú của Đạo giáo… Không chỉ cung cấp nguồn tư liệu về dân tộc Kinh, Hán Nôm học còn nghiên cứu về lịch sử văn hóa của các dan tộc thiểu số Việt Nam, như Mường, Mông, Tày, Nùng,… 

Các dân tộc này trong thời gian dài cũng đã sử dụng chữ Hán để ghi chép lại đời sống văn hóa của mình. Nghiên cứu Hán Nôm học như vậy đã mở rộng biên độ và đối tượng của mình để tiếp cận cả đến dân tộc học lịch sử- và lịch sử văn hóa dân tộc- hai ngành khoa học mà cho đến nay vẫn còn đang hứa hẹn. Từ những nghiên cứu ấy, Hán Nôm học sẽ góp phần giúp các dân tộc hiểu nhau hơn, xích gần lại nhau hơn, và quan trọng nhất củng cố sức mạnh đoàn kết các dân tộc anh em.

Hán Nôm học còn là ngành nghiên cứu về ngôn ngữ, về lịch sử tiếng Việt. Theo giáo sư Nguyễn Tài Cẩn và nhiều nhà ngữ học hàng đầu hiện nay, tiếng Việt có một lịch sử 12 thế kỷ. Để nghiên cứu được lịch sử của tiếng Việt và những đóng góp của nó cho văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể nào bỏ qua một bộ phận quan trọng đó là các văn bản chữ Nôm dùng để ghi tiếng Việt từ thời Lý Trần cho đến nay. Như ta biết, tiếng Việt đã được dùng để dịch thuật kinh Phật từ thế kỷ XII, và trong suốt gần một ngàn năm, tiếng Việt luôn là ngôn ngữ của triết học, được dùng để dịch cả Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo. Tiếng Việt còn được dùng để sáng tác văn học, từ các bài phú Nôm của các hoàng đế và thiền sư đời Trần, cho đến thơ Nôm Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du… Đó là những bước phát triển quan trọng của tiếng Việt với tư cách là một ngôn ngữ văn chương.

Để có được một kiến thức cơ bản như vậy về lịch sử tiếng Việt, chúng ta cũng phải kể đến công sức của nhiều thế hệ các nhà Hán Nôm học- Việt ngữ học nổi tiếng như Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Ngọc San… Nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, làm rõ những đặc điểm của tiếng Việt qua từng giai đoạn phát triển của nó, đó chính là những đóng góp to lớn của ngành Hán Nôm học cho sự giàu đẹp của tiếng Việt. Tiếng Việt có khả năng hòa nhập với thế giới, tiếng Việt có khả năng diễn đạt được ngôn ngữ của triết học, của văn chương, của khoa học hay không, đó đều từ sự nhận thức của người Việt Nam về ngọn nguồn lịch sử của nó.

Hán Nôm học còn là ngành khoa học nghiên cứu về lịch sử của các ngành khoa học. Như ta biết, Hán và Nôm là hai văn tự chính để ghi chép lại toàn bộ đời sống xã hội của con người Việt Nam xưa. Vì thế, Hán Nôm học về bản chất chính là Việt Nam học. Ngành khoa học này nghiên cứu mọi khía cạnh của đời sống của người Việt trong lịch sử. Chúng ta muốn biết nông nghiệp Việt Nam thời cổ ra sao, cây trồng, vật nuôi thế nào, chúng ta đều phải khai thác qua các nguồn tư liệu Hán Nôm. Muốn biết người Việt Nam xưa đã biết dùng các phép toán gì, chúng ta buộc phải nghiên cứu về lịch sử toán học Việt Nam qua các tư liệu Hán Nôm còn lại. Rồi rất nhiều các ngành khác như kiến trúc, mỹ thuật, nghệ thuật, đê điều, giao thông, y học, dược học, thú y, nông học, lịch pháp, chiêm tinh học, nhân tướng học, địa lý học, ngoại thương, ngoại giao, thương mại, khai khoáng, ứng xử tự nhiên… mọi lĩnh vực đời sống đều có thể nghiên cứu qua các tư liệu Hán Nôm. 

Những nghiên cứu ấy sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mọi khía cạnh của đời sống tinh thần, đời sống vật chất của con người Việt Nam xưa. Hiểu được như vậy, chúng ta sẽ thấy được sẽ phải tiếp tục làm gì để kế thừa và phát huy nền khoa học, nền văn hóa cổ truyền mà cha ông ta đã dày công vun đắp. Những hiểu biết về quá khứ dân tộc sẽ giúp chúng ta biết được con đường phải đi trong tương lai. Hán Nôm học với tư cách một khoa học xã hội- nhân văn, một khoa học đa ngành, liên ngành cùng với những ngành khoa học khác sẽ góp phần tạo dựng nên những yếu tố mới, những yếu tố tiên tiến đủ để hòa nhập với thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa, nhưng những yếu tố ấy luôn có độ đằm của quá khứ, của lịch sử của bản sắc văn hóa Việt Nam.
.
Trần Trọng Dương
Nguồn: VNN
 
-->đọc tiếp...

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

CHÚC MỪNG GIÁO SƯ TRẦN NGHĨA VÀ TIẾN SĨ TRẦN TRỌNG DƯƠNG

BTC giải thưởng Balaban (Hoa Kỳ) vừa gửi thư mời các học giả tới dự lễ trao giải thưởng Balaban năm 2012 cho học giả Trần Nghĩa "vì những đóng góp lớn lao" của ông trong nghiên cứu và phổ biến chữ Nôm; đồng thời cũng trao giải thưởng Học giả trẻ yêu chữ Nôm cho ông Trần Trọng Dương.

Lễ trao giải thưởng Balaban 2012 sẽ diễn ra vào lúc 10h ngày 8.11.2012 tại giảng đường Trường ĐH KHXH và Nhân văn Hà Nội, 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. 

Giải thưởng Balaban là giải thưởng được Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Hoa Kỳ) trao hàng năm cho các cá nhân hay các nhóm cá nhân có đóng góp ý nghĩa trong việc thực hiện viễn kiến của hội về bảo tồn và quảng bá di sản chữ viết Hán Nôm của dân tộc Việt Nam, bao gồm những văn bản cổ Hán Nôm được sử dụng trước sự ra đời của chữ Quốc ngữ latin.

Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm là một tổ chức phi chính phủ đã đăng ký hoạt động ở Việt Nam và là một tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ.

Hân hoan chúc mừng Giáo sư Trần Nghĩa và Tiến sĩ Trần Trọng Dương về sự kiện vui mừng này; Kính chúc Giáo sư và Tiến sĩ tiếp tục có thêm nhiều thành tựu trong nghiên cứu di sản Chữ Nôm của dân tộc!
_______________________________________

GIÁO SƯ TRẦN NGHĨA
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Hán Nôm. 

Ông sinh 1936 tại Quảng Ngãi. Tốt nghiệp Đại học khoa Văn, Sơn Đông, Trung Quốc, năm 1960. Công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm từ năm 1980 đến nay. Ông là đồng chủ biên bộ sách thư mục "Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu" xuất bản năm 1993 miêu tả chi tiết về từng cuốn sách chữ Hán Nôm hiện đang được tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các thư viện ở Paris.
Trần Nghĩa còn có các bút danh Tuấn Nghi, Thọ Nhân.
Các công trình đã xuất bản:
Sách
1. Trùng san Lam Sơn thực lục (dịch, giới thiệu). Nxb. KHXH, H, 1992
2. Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san (đồng chủ biên). Đài Loan thư cục, 1992
3. Lục Vân Tiên truyện (phiên âm, chú thích, giới thiệu). Nxb. KHXH, H, 1994
4. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (đồng chủ biên). Nxb. KHXH, H, 1993
5. Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam(chủ biên). Nxb. Thế giới, H, 1997
6. Sưu tầm và Khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỷ X. Nxb. Thế giới, H.2000.
7. Truyện Phan Trần. Bản Nôm mang niên đại cổ nhất mới sưu tầm ở Paris. Nxb. Văn học, H. 2009. 
..........
Tạp chí
Đã viết khoảng gần 200 bài, đăng trên các Tạp chí Văn học, Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Hán Nôm, Sciences Socils, Études Vietnamiennes  và các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế v.v.

TIẾN SĨ TRẦN TRỌNG DƯƠNG

Sinh năm 1980 tại Hà Nội. Tốt nghiệp ngành Hán Nôm, Đại học KHXH và Nhân văn Hà Nội. Bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ năm 2005, luận án Tiến sĩ năm 2011. Hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Đã từng giảng dạy tại Đại học Văn hóa, tham gia nhiều công trình khoa học cấp Bộ và xuất bản nhiều sách và bài báo khoa học.

Các công trình của Trần Trọng Dương chia làm 4 nhóm vấn đề:
- Nhóm các công trình các bài viết nghiên cứu về chữ Nôm
- Nhóm các công trình phiên chú khảo cứu về văn bản Nôm.
- Nhóm công trình từ điển.
- Nhóm tác phẩm phục vụ việc giảng dạy.
.
Sách
1. Trần Trọng Dương (Khảo cứu, phiên chú), Thiền tông khóa hư ngữ lục, (Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học. 2009).
2. Phan Văn Các , Trần Ngọc Vương (chủ biên), Phạm Văn Ánh, Trần Trọng Dương, Dương Văn Hoàn .Văn Miếu- những giá trị văn chương.  (Hà Nội: Nhà xuất bản Hà Nội, 2011).
3.Trần Trọng Dương. Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua các bản dịch “Khóa Hư Lục. (Hà Nội: Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2012).
7.Trần Trọng Dương . “Vài ý kiến về cách đọc một số chữ Nôm trong “Truyền kỳ mạn lục giải âm”. Thông báo Hán Nôm học 2002. (Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2003).
8. Trần Trọng Dương. “Khảo sát hệ thống từ cổ trong bản giải âm “Khóa hư lục” của Phúc Điền hòa thượng”. Thông báo Hán Nôm học 2005. (Hà Nội:  Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2006).
9. Trần Trọng Dương. “Thử tầm nguyên hai chữ “Tha La””. A Study on Nom Script. (Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội - Nom foundation, 2008).
10. Trần Trọng Dương. “GS Nguyễn Tài Cẩn với hướng nghiên cứu diễn biến chữ Nôm qua mô hình ngữ âm”.  (Nghệ An: Nhà xuất bản Nghệ An, 2011).
11. Trần Trọng Dương. “Từ nguyên một số từ đơn tiết gốc Hán”. Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam: những vấn đề lý luận và thực tiễn. (Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 2011): 688-699.
12. Trần Trọng Dương. “Thiết tha” hay “Thướt tha” ?. Thông báo Hán Nôm học  (Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2007).
Bài nghiên cứu
1. Trần Trọng Dương. “Cách dịch cấu trúc bị động trong “Truyền kỳ mạn lục giải âm”. Tạp chí Hán Nôm, 3 (2004).
2. Trần Trọng Dương. “Đi tìm âm đọc cổ cho chữ “Lơ thơ”. Tạp chí Hán Nôm, 3 (2006): 44-53.
3. Trần Trọng Dương. “Khảo sát hệ thống từ cổ trong bản giải nghĩa “Thiền tông khóa hư ngữ lục” của Tuệ Tĩnh”, Tạp chí Ngôn ngữ. 8 (2006): 5- 68.
4. Trần Trọng Dương. “Tình hình cấu trúc chữ Nôm qua ‘Khóa hư lục giải nghĩa” và “Khóa hư lục giải âm”. Tạp chí Hán Nôm, 2 (2008): 43-58.
5. Trần Trọng Dương. “Vấn đề khai thác từ cổ qua hệ thống từ điển và các văn bản chữ Nôm. Tạp chí Hán Nôm, 1 (2010): 17-37.
6. Trần Trọng Dương. Phật thuyết có phải là bản dịch ở thế kỷ XII?”. Tạp chí Ngôn ngữ. 4 (2011), 31-48.
7. Trần Trọng Dương. “Từ nguyên của từ VĂN HIẾN trong bối cảnh tri thức Việt Nam – Trung Hoa”. Nghiên cứu Văn hóa. 3 (2012): 5-14.
8. Trần Trọng Dương, “Về dấu vết chữ Nôm kỵ húy trong sách “Phật thuyết”. Văn hóa Nghệ An. 2010.
9. Trần Trọng Dương. “Khảo về Đại Cồ Việt- nước Việt- nước Phật giáo”. Tạp chí Hán Nôm, 2 (2009): 53- 75.
10. Trần Trọng Dương. “ (Tổng thuật tình hình nghiên cứu diễn biến cấu trúc chữ Nôm.). Tạp chí Hán Nôm, 2 (2011): 11-28.
11. Trần Trọng Dương. “Khảo sát ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi trong môi trường giảng dạy- dịch thuật kinh điển Nho gia (Từ góc nhìn liên văn bản)”. Tạp chí Hợp Lưu. 115 (2011): 5-38.
12. Trần Trọng Dương. Thủy âm kép tiếng Việt thế kỷ XIV- XV qua các chữ Nôm cổ trong “Quốc âm thi tập”. Tạp chí Ngôn ngữ. số 8/2012. tr.44-61.
Bài dịch
1. Nguyễn Đình Hòa. Ngữ âm tiếng Việt và những vay mượn tự hình chữ Hán qua cuốn Tam thiên tự . Tạp chí  Hán Nôm [Journal of Han- Nom]. 2008.
[Vietnamese Phonology and Graphemic Borrowings from Chinese: the Book of 3000 Character Revisited]. Journal of Mon- Khmer Studies. 20 (1992): 163-182. www.sealang.net/mks/copyright.htm 
2. Nguyễn Đình Hòa. Những vay mượn hình thể chữ Hán: trường hợp Chữ Nôm- văn tự bình dân Việt Nam. (chưa xuất bản).
[Graphemic Borrowings from Chinese: the Case of Chữ Nôm- Vietnamese’s Demotic Script]. The Bulletin of the Institute of History and Philology. Academia Sinica. Vol.LXI, Part II. Taipei, Taiwan,China.1990.
3.  Nguyễn Đình Hòa. Sơ bộ nghiên cứu “Tự Đức thánh chế tự học”- cuốn tự điển Hán Việt thế kỷ XIX. Tạp chí Suối Nguồn. 6/2012.
A Preliminary Study of TỰ ĐỨC THÁNH CHẾ TỰ HỌC- a 19th-Century Chinese-Vietnamese Dictionary. Mon-Khmer Study 26: 207-216 . www.sealang.net/mks/copyright.htm
Thuyết trình
1.(cùng Lê Quốc Việt và Vũ Kim Thư). Thư pháp chữ Nôm, trong triển lãm “Oscilloscope”. L’Espace-Centre Culturel Français de Hanoi (French Embassy). 2008.
2. Dịch thuật kinh Phật với văn hiến Việt Nam. L’Espace- Centre Culturel Français de Hanoi (French Embassy). 2010.
3.Đinh Bộ Lĩnh- Loạn sứ quân: từ sử liệu đến sử thực. Tạp chí Tia Sáng và Không gian sáng tạo Trung Nguyên. 2012.
4.Kiến giải mới về kiến trúc “Một Cột” chùa Diên Hựu. Tạp chí Tia Sáng và Không gian sáng tạo Trung Nguyên. 2012.



-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

CHÚC MỪNG TRIỂN LÃM "CAO NGUYÊN ĐÁ" CỦA HỌA SĨ ĐỖ ĐỨC



Trân trọng kính mời quý vị
Tới dự Khai mạc triển lãm cá nhân lần thứ VII của Họa sĩ Đỗ Đức

CAO NGUYÊN ĐÁ

Khai mạc: 16h30 Thứ Năm, ngày 1 tháng 11 năm 2012
Tại: Nhà triển lãm Hội Mỹ Thuật Việt Nam
Số 16 Ngô Quyền, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

Triển lãm mở cửa từ 1//11 đến 15/11/2012.

Xin chúc mừng Họa sĩ Đỗ Đức và chúc triển lãm thành công tốt đẹp!
________________________________________________________________
-->đọc tiếp...

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

TS. TRẦN TRỌNG DƯƠNG: TIẾN SĨ VẪN PHẢI NHỜ CHA MẸ

Anh Trần Trọng Dương, Viện Nghiên cứu Hán Nôm:
Không phải cứ tăng lương là thích

Trước thông tin Chính phủ dự kiến hoãn tăng lương theo lộ trình vào năm 2013 vì tình hình thu ngân sách năm nay khó khăn, anh Trần Trọng Dương, chuyên viên tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho rằng, “lương tăng là điều ai cũng mong muốn. Thế nhưng, nếu chỉ nghĩ đến việc tăng lương mà không có biện pháp kiềm chế lạm phát, quản lý giá cả thị trường thì thà không tăng lương còn hơn”.

Sự cào bằng đáng sợ

Tôi tò mò, không hiểu với một chuyên viên nghiên cứu như anh, lại có học vị Tiến sĩ thì tiền lương chắc cũng… đủ sống?

Nước mình có cái lạ, học vị Tiến sĩ thì tiền lương cũng chỉ tính như cử nhân và tăng theo thâm niên công tác thôi- đó là một sự cào bằng đáng sợ. Thế nên, lương của tôi cũng chỉ ba triệu với hai lần tăng bậc. Một bài nghiên cứu (để kiếm thêm), tôi viết mất vài tháng, đợi 2 năm mới được in trên tạp chí, nhuận bút năm trăm ngàn, trừ thuế còn bốn trăm rưỡi. Tôi thấy nghề nghiên cứu là nghề rẻ mạt nhất trên đời.

Tiền lương như thế thì anh sống như thế nào?

Tôi cứ nói vui với bạn bè là “lương này thì cứ tập yoga- hít thở đều là sống”. Còn thực tế, tôi phải cắt bớt nhiều khoản thì mới tạm đủ.

Nếu có thể, hãy chia sẻ khoản mà anh buộc phải cắt bớt!

Tôi cắt nhiều thứ lắm: giảm ăn, giảm tiêu, giảm mua sách vở, giảm tối đa các giao đãi xã hội, mỗi lần ra nhà là kết hợp vài việc một lúc.v.v.

Sách chuyên ngành có vai trò như thế nào đối với những người làm công tác nghiên cứu như anh?

Rất quan trọng chứ. Thế nhưng, hầu như sách tôi có được là từ trước khi lấy vợ. Còn từ ngày lấy vợ thì hầu như không mua được mấy. Vì mua sách là lạm ngay vào tiền sữa, tiền thức ăn của con.

Cảm nhận của anh như thế nào nếu so sánh với mức thu nhập ngoài xã hội?

Đấy, như đã nói tôi mất hai năm rưỡi để có 450 ngàn cho một bài nghiên cứu khoa học, tính ra nhuận bút khoa học của tôi chỉ bằng 1/ 912 lần so với nhuận bút của một nhà báo. Còn nếu so với các anh công an, bác sĩ,…thì so làm sao được.

Tiến sĩ vẫn phải nhờ cha mẹ

Vợ chồng anh sinh được mấy cháu rồi?

Vợ tôi đang mang bầu đứa thứ hai, con lớn gần hai tuổi.

Tiền lương chỉ đủ nuôi mình như thế thì không hiểu anh xoay xở như thế nào để lo cho gia đình?

Với người làm nghiên cứu thì mỗi năm, ngoài tiền lương chúng tôi còn được Nhà nước giao cho một nhiệm vụ nào đấy, được trả chừng 15- 25 triệu đồng/người/năm. Thời gian còn lại, tôi xoay xở đủ chiều, viết báo, viết nghiên cứu, làm thuê viết mướn.

Tiền lương của anh như thế, của chị nhà chắc cũng phải khá hơn thì mới đủ trang trải chứ?

Có thể bạn không tin, nhưng lương của hai vợ chồng tôi gộp lại cũng chỉ 6 triệu/tháng.

Thế thì phải ăn tiêu như thế nào đây?

Được cái chúng tôi không phải thuê nhà. Vợ tôi làm ở trại chăn nuôi nên thịt, cá, trứng được mua với giá gốc nên cũng đỡ đi được phần nào. Thêm nữa, thi thoảng ông bà hai bên cũng đỡ cho khoản nào đó.

Giả dụ bây giờ, cần một lúc 20 triệu tiền mặt?

Với đồng lương như thế chúng tôi hoàn toàn không có tích cóp gì hết. Thậm chí có tháng còn âm, nếu như tháng đó không may bị ốm, có đám cưới, ma chay…

Không có tiền tích cóp mà chẳng may lúc cần tiền thì làm thế nào, ví như lúc vợ sinh chẳng hạn?

Thì đành đi vay mượn chứ biết làm thế nào. Nếu không thì cũng phải tăng ca sản xuất, làm thuê cho người ta.

Không tăng lương là tốt

Lương như thế, chắc hẳn anh cũng mong tăng lắm?

Như Mác đã tính, một người lao động là một người có mức lương đủ nuôi sống ba người khác nữa. Ở Việt Nam, lương như thế mình tự nuôi mình cũng khó. Tăng lương ai chẳng thích. Thế nhưng tăng như nào. Tăng xong liệu có thể kiểm soát hậu quả của nó không?

Tại sao lại thế?

Như những năm vừa rồi, lương chưa kịp tăng thì mọi thứ đã tăng trước rồi. Tăng như thế thì tăng làm gì? Nhà nước tưởng tăng lương là có lợi cho 20 triệu công chức, nhưng thực ra là làm hơn tám mươi triệu người gánh thêm sức nặng của sự trượt giá.

Nghĩa là, Chính phủ dự kiến hoãn lộ trình tăng lương vào năm tới là tốt, theo anh?

Quyết định như thế là đúng, nếu biết sớm từ chục năm trước thì tốt hơn, vì mỗi lần tăng lương là một sự thụt lùi. Đồng tiền mất giá, con người cũng “mất giá” từng ngày.

Anh có thể nói cụ thể hơn?

Năm 2004, tôi ra trường và đi làm. Lương khi ấy khoảng 800.000 đồng, đổ xăng hết chừng 9.000/lít, bữa trưa 10.000 đã ngon lắm rồi. Tôi vẫn có tiền để đi chơi, mua sách. Giờ lương 3 triệu/tháng nhưng tiền xăng hơn 20.000/lít, bữa ăn trưa (cơm bụi) từ 30 – 35.000 đồng. Lương tăng nhưng chất lượng sống giảm. Thế chẳng phải thụt lùi là gì?

Theo anh, căn nguyên của nó là do đâu?

Do Nhà nước không có khả năng quản lý thị trường giá cả. Chỉ coi tăng lương là một sự cải thiện đời sống công nhân viên chức nhưng lại không có khả năng quản lý được giá cả thị trường. Thế mới có chuyện, lương tăng nhưng đời sống giảm.

Không tăng lương sẽ bớt đi một cớ tăng giá

Anh bảo tăng lương mà không quản lý được giá cả thì thà giữ nguyên. Thế nhưng, thực tế thì giá cả thị trường còn nhảy múa theo giá xăng, điện?

Đúng thế. Xăng với điện cũng do nhà nước độc quyền, việc tăng giá của hai mặt hàng đó cũng là do nhà nước. Việc tăng lương cũng là việc của nhà nước nốt. Nhưng riêng thị trường lại không phải của nhà nước. Ngành khoa học quản lý của ta còn quá kém, nên xã hội giờ mới như một mớ bòng bong.

Có ý kiến lo ngại rằng, Chính phủ hoãn tăng lương vào năm tới theo lộ trình sẽ làm cho niềm tin trong 22 triệu người bị ảnh hưởng bởi quyết định này giảm đi. Anh có thấy thế?

Thực ra, tôi có tin đâu mà mất hay giảm niềm tin, còn 22 triệu người còn lại thì tôi không dám nói. Vì bao nhiêu việc chính phủ, nhà nước còn không làm được kia mà. Ví như tham nhũng đang đục khoét từng tế bào của đất nước, chất lượng giáo dục thấp nhất trong vòng bảy mươi năm qua, y tế là chỗ để kiếm tiền vào lúc bệnh tật của con người... Tôi thấy chúng ta chưa đủ tầm trí tuệ và đạo đức để tự cứu mình. Vậy thì tôi biết tin vào đâu?

Theo anh, liệu việc hoãn tăng lương vào năm tới có khiến cho nhiều người buộc phải xoay xở mọi cách để có thêm thu nhập, vì thế mà những khoản thu không chính đáng sẽ tăng?

Dù có tăng hay không thì toàn dân vẫn xoay xở mọi cách đó thôi. Lên cơ quan nấu để nấu nướng, tắm giặt, ăn bớt thời gian công vụ để làm việc riêng thì người ta đã làm từ lâu rồi. Những cái đó chỉ là “cò con” so với sự lãng phí của các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Xưa các cụ bảo “dân thì gian, quan thì tham”, hẳn cũng có cơ sở.

Bây giờ, để có thể sống được từ lương thì theo anh lương phải cần bao nhiêu?

Theo cách tính của Mác như đã nói. Tôi tính chừng 10 triệu/tháng/ người lao động hy vọng sẽ đủ lo cho vợ con. Còn mức lương dành cho người làm nghiên cứu như Gs Ngô Bảo Châu được hưởng thì tôi không bao giờ dám mơ tới. Tôi biết tôi là ai và tôi đang ở đâu.

Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện!
Vũ Thủy (Thực hiện)
Ảnh: Trần Hải

Box 1: Sáng 16/10, Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2013. Theo Bộ trưởng, do tình hình thu ngân sách năm 2012 rất khó khăn và tiếp tục khó trong năm tới, Chính phủ không bố trí nguồn thực hiện chi cải cách tiền lương theo lộ trình vào năm 2013. Chủ nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai tính toán, sẽ có khoảng 22 triệu người dân bị tác động nếu không tăng lương này.
 
Box 2: Có thể thông cảm với lý do Chính phủ nêu ra nhưng với điều kiện những khoản thu ưu tiên cho năm tới phải quan trọng hơn cả việc tăng lương chứ không phải đầu tư dàn trải, lãng phí như khi rót vào các tập đoàn Nhà nước. Đương nhiên, giá như các tập đoàn bớt chi tiêu lãng phí đi thì sẽ có tiền để tăng lương. Nhưng người nghĩ thì không làm được còn người làm được thì lại không nghĩ được như thế”, anh Trần Trọng Dương.

Trên đây là bản gốc của bài đã đăng trên Kienthuc.net.


-->đọc tiếp...