Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015

Thái Doãn Hiểu: SỰ THẬT VỀ NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM

TRẢ LỜI CÁC CƯ DÂN MẠNG CÓ THAM GIA “BÌNH LOẠN” 
.
Thái Doãn Hiểu 
Thưa qúy ông qúy bà, ...

Sự thật về Nhật ký Thùy Trâm đã được giải quyết khá rốt ráo khi quyển sách ra đời năm 2005. Hàng ngàn bài báo đã vào cuộc. Kẻ khen khen hết lời, người chê chê tới số. Tôi thấy người ta mở diễn đàn rất sôi động bàn về tính chân xác của Nhật ký ĐặngThùy Trâm. Và họ đã đi đến kết luận sau: 

“Nhật Ký Đặng Thùy Trâm”: Sản phẩm dối trá, phản bội 

Việc tìm ra thông tin này không khó trong thế giới bùng nổ thông tin qua internet. Khi viết công trình triết học Minh triết Thật - Giả, tôi TDH đã huy động đến khoảng 300 nghi án văn học, nghệ thuật, cuộc đời để làm điểm tựa cho cho việc tranh biện triết học. Đặng Thùy Trâm là một trong số nghi án nhỏ đó. Là người làm triết học, tôi không quan tâm tới đời tư của Đăng Thùy Trâm mà chỉ lưu ý đến tính thật giả của nhân vật này. Tôi nghĩ rằng mỗi dẫn luận đã được bạch hoá trên mạng hoàn cầu thì khi dẫn nó chỉ cần viết rất ngắn gọn, không cần đối chứng cà kê. để chiều lòng những bạn đọc có trình độ thấp và mù internet, kẻo không quyển sách sẽ đội lên hàng ngàn trang không tiện cho việc in ấn. Và tai họa đã đến. Vì quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng (khách hàng), tôi đã chỉ cho các vị món hàng trên tay mình là hàng giả. Thay vì phải xem xét thật giả ra sao thì các vị lại nông nổi gom đá hè nhau ném tới tất vào ân nhân của mình. Tôi bị quý ông quý bà ném đá kiểu trung cổ suốt 5 ngày đêm không ngớt. Chỉ khi một cư dân mạng Văn nghệ và Cuộc sống tên là Võ Sơn hạ câu:

-->đọc tiếp...

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

NHÂN PHÁT BIỂU CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG


Nhân lời phát biểu của Giáo sư Nguyễn Phú Trọng

Phật tử Phúc Thịnh
Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Gần đây, trong một dịp tiếp xúc cử tri, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng có nói “Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ. Bước chân sang nước Phật đã phải hối lộ...". Câu nói ấy khiến cư dân mạng bàn tán nhiều lắm! Nhưng Phật tử Phúc Thịnh đã cống hiến một bài viết rất hay về vấn đề này theo kiến giải của người hiểu Đạo Phật, hiểu văn học cổ Trung Hoa. Xem xong bài viết, ai cũng phải giật mình khi nhớ lại rằng, ông Nguyễn Phú Trọng vốn là sinh viên Tổng hợp Văn (khóa 8). Sinh viên Khoa Văn trường Tổng hợp Hà Nội đều được học về văn học Trung Quốc, trong đó có Tây Du Ký. Vậy mà, trong một phút hưng phấn giữa chốn đông người, ví dụ mà ông đưa ra vừa khập khiễng, vừa tỏ ra là ông chẳng hiểu gì về văn học và về Phật giáo! 
Có người nói rằng: “Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ. Bước chân sang nước Phật đã phải hối lộ..." là có ý nói việc hối lộ không những là bản tính của tất thảy con người phàm tục, mà ngay cả những con người ở thế giới thanh tịnh được coi là đã diệt trừ được Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác kiến cũng vẫn có chuyện tham nhũng và hối lộ. Nói như thế là để ngụ ý: việc chống tham những là việc cực kỳ khó, và không chống được tham nhũng cũng là điều hết sức hiển nhiên. 
Vâng, việc chống tham nhũng đương nhiên là khó. Nói là khó, nhưng nếu thực tâm thì vẫn có cách tốt hơn rất nhiều để hạn chế việc này. Ở đây, tôi không bàn đến việc chống tham nhũng được hay không, cũng không bàn đến việc hạn chế tham nhũng bằng cơ chế ưu việt nào, mà chỉ bàn đến một khía cạnh mà người ta hay hiểu nhầm về đoạn kết của câu chuyện Tây Du Ký. 
Lòng người luôn tham dường như là đúng. Chúng ta luôn muốn có nhiều, nhiều hơn nữa những giá trị về mọi mặt. Những giá trị ấy nhìn dưới góc độ Phật giáo thì chỉ là phù du, bóng nước. Phật chỉ thừa nhận có 2 giá trị thực sự mà thôi, đó là sức khỏe và trí tuệ. Ngoài 2 giá trị Sức khỏe và Trí tuệ ra, các giá trị còn lại khác chỉ làm cho con người luẩn quẩn lâu hơn mà không thể liễu thoát sanh tử, không thể Đáo Bỉ Ngạn, hay không thể đạt đến cảnh giới Niết bàn và thành Phật được. Nhà Phật thường nói: muốn đến Niết Bàn, chứng đắc thành Phật thì con người phải biết từ bỏ Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác kiến. Vậy, làm thế nào để từ bỏ những điều trên? Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác kiến từ đâu mà ra? Vâng, nếu biết những điều trên từ đâu mà ra thì giải trừ nó mới dễ dàng, giống như người chuyên gia chăm sóc sức khỏe, nếu biết rõ nguyên nhân vì sao bạn bị bệnh, thì mới mong cải thiện được nó. Nhà Phật xác định rõ nguyên nhân của Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác Kiến là do thái độ Tư Tình và Tư Sản tạo ra. Vâng, đúng vậy. Nếu chúng ta không đau đáu về tình cảm riêng (nghĩa rộng) và tài sản riêng thì Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác kiến sao dễ dàng nổi nên cho được. Vậy, trong truyện Tây Du Ký thì cái bát vàng chính là vật đại điện cho cả Tư Tình và Tư Sản của Đường Tăng. Mặc dù trong đời sống xuất gia, bình bát vốn là biểu tượng của nhà tu khất thực (khất sĩ trì bát). Nhưng ở đây, chiếc bình bát của Đường Tam Tạng nguyên là của vua Đường tặng cho ngự đệ (em vua) kết nghĩa – đó chính là Tư tình. Bình bát ấy bằng vàng – một l thứ kim loại quý hiếm – đó chính là Tư sản. Vì vậy, bình bát của Đường Tăng trong tình huống này tượng trưng cho của cải, tình riêng và danh vọng ở thế gian. Để nhận kinh báu của Phật, thì buộc phải dâng nạp bình bát là ngụ ý: muốn thọ lãnh đạo giải thoát của Phật, con người phải xuất gia, phải lìa bỏ danh vọng và của cải thế tục.
Ngày xưa, khi Thái tử Cồ đàm tìm đạo giải thoát, Ngài đã phải đánh đổi cả ngai vàng, vợ đẹp, con thơ, cả cuộc sống nhung lụa đế vương. Ngay ở Việt Nam ta cũng vậy, thì khi vua Trần Nhân Tông đi tìm đạo giải thoát cũng phải bỏ lại tất cả, ngai vàng, quyền lực, tam cung, lục viện.v.v…lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà) và tu hành, thì mới được người đời sau cung kính gọi là “Phật Hoàng”.
Tóm lại, việc buộc Đường Tăng phải trao bát vàng trước khi nhận kinh Phật là phương pháp áp dụng trực tiếp trong hoàn cảnh cụ thể của Đường Tăng, để diệt trừ Tư tình, diệt trừ Tư sản, loại bỏ mọi của cải và danh vọng của thế tục, diệt cái cội nguồn của tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến, chứ không phải là vấn đề tham lam, hay hối lộ gì ở nơi nước Phật.
Vài lời ngắn ngủi xin được chia sẻ với những ai còn hiểu nhầm, hay cố tình hiểu nhầm để làm gì đó. Xin cảm ơn. 

Nam Mô A Di Đà Phật!
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

GS. Trần Đình Sử: HỒ CHÍ MINH VÀ NGUYỄN THANH CHẤN


Bài thơ Vấn thoại của Hồ Chí Minh 
và vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn

Trần Đình Sử

Gần đây vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang phải ngồi tù 10 năm mà ông không hề có tội giết người đã chấn động dư luận xã hội. Mặc dù ông Chấn và gia đình đã kêu oan nhiều lần mà vẫn bị y án. Mãi đến khi người nhà ông Chấn điều tra, động viên người phạm tội ra đầu thú, thì ông Chấn mới được trả tự do. Từ vụ án đó, tôi bổng nhớ tới một bài thơ độc đáo của ông Hồ Chí Minh. Trong tập Nhật kí trong tù ông Hồ Chí Minh có bài thơ “Vấn thoại”rất đặc biệt, nó khác hẳn mọi bài thơ trong tập. Nếu các bài thơ khác hoặc kêu oan, hoặc tố cáo, hoặc phản ánh sinh hoạt trong tù, hoặc thể hiện ý chí gang thép, hoặc nỗi nhớ đồng chí trong nước, hoặc lấy lòng bọn quan coi tù… thì bài thơ này đứng riêng ra,  nó nói một vấn đề triết học xã hội, một chân lí phổ biến. Nó không còn là thơ trữ tình, mà là một bài thơ triết học duy nhất trong sự nghiệp thi ca của ông. 

Nguyên văn chữ Hán của bài thơ được phiên âm Hán Việt như sau:

Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: Nhĩ hữu tội,
Phạm viết: Ngô lương dân;
Quan viết: Nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: Ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần ;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần. 
(Tài liệu đã dẫn, tr. 320)

Nhan đề bài thơ hiện có nhiều cách dịch. Báo Nhân Dân ra ngày 13 tháng 5 năm 1978 dịch là “Hỏi tội” thực ra là không đúng, Vấn thoại không phải là hỏi tội, mà dịch là “hỏi chuyện” thì chẳng liên can gì tới nội dung bài thơ. Bản dịch do Nxb Giáo dục cung cấp năm 1993 trong sách Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, dịch là “Lời hỏi” (tr. 321), đã sát hơn nhiều, nhưng chưa rõ tinh thần. Theo tôi có thể dịch là “Đặt câu hỏi” hay “Nêu vấn đề” sẽ làm rõ vấn đề hơn.

Bản dịch nghĩa bài thơ của nxb Giáo dục, tr. 321 như sau:

Hai cực của xã hội,
Quan tòa và phạm nhân,
Quan bảo: anh có tội;
Phạm nhân thưa: tôi dân lành;
Quan bảo : anh nói dối;
Phạm nhân thưa: tôi nói thật;
Quan tòa tính vốn thiện,
Lại hầm hầm giả làm bộ ác;
Muốn khép người vào tội;
Lại ra vẻ ân cần.
Giữa hai cực này,
Có thần công lý đứng.

Bài này đã được ông Hoàng Ngọc Hiến bình luận trước tiên trong sách Văn học học văn, in năm 1990, tr. 74 – 77. Ông Hoàng Ngọc Hiến cho rằng bài thơ phản ánh tòa án Tưởng Giới Thạch, thể hiện tình trạng tha hóa của quan tòa, do người vốn hiền lành, mà vì vai trò quan tòa là buộc phải khép người phạm nhân vào tội. Do ông dựa vào bản dịch sai của báo Nhân Dân ở câu cuối: “Giữa hai thái cực này, Đã dựng lên thần công lý rõ ràng.” Ông đã bình: “Thần công lý dựng lên rõ ràng giữa hai thái cực, có nghĩa là người xét xử không phải là người đại diện cho công lí. Thần công lí sẽ phán xét lại  người xét xử và người bị xét xử. Người lương dân sẽ được minh oan. Viên quan tòa sẽ bị lên án. Trao cho chúng ta mô hình công lí, tác giả chuẩn bị cho chúng ta một tâm thế, một quan điểm để phán xét lại tất cả những vụ xét xử bất công.” (Tài liệu đã dẫn, tr. 76). Phải công nhận rằng Hoàng Ngọc Hiến phân tích rất sắc sảo, phân biệt người quan tòa và vai trò của hắn là khép tội, hắn sẽ bị thần công lí xét hỏi. Tác giả cũng nhận thấy tay quan tòa khó hiểu. Nó vốn thiện sao lại làm bộ ác? Đã lương thiện sao lại giả ý ân cần để khép phạm nhân vào tội?

Theo tôi, bài thơ nêu vấn đề công lí trong xã hội lưỡng cực, một vấn đề rộng hơn nhiều. Quan tòa và phạm nhân là biểu tượng cho lưỡng cực xã hội. Quan tòa là biểu tượng của quyền lực, còn phạm nhân là biểu tượng người bị trị. Chính ông Hồ Chí Minh đã dùng chữ “xã hội dích lưỡng cực” cơ mà, đâu phải là lưỡng cực của tòa án? Ông Hoàng Ngọc Hiến đã vô tình hiểu hẹp ý nghĩa của bài thơ đi. Đây đâu phải chuyện quan tòa và phạm nhân trên phiên tòa xử án, mà là mô hình xã hội lưỡng cực. Quả vậy, nếu ta xem kĩ việc xử án ở trong bài thơ thì sẽ thấy hoàn toàn không giống với việc xử án trên thực tế tí nào.  Mà việc xử án đâu có chuyện giản đơn chỉ có quan tòa và phạm nhân kẻ nói qua, người nói lại như là hai gã cãi nhau tay đôi như vậy! Phải có nhân chứng, vật chứng, có luật sư bào chữa cho bị can. Sau đó mới đến phần luận tội rồi tòa mới tuyên. Trong xã hội lưỡng cực, người dân chỉ có quyền kêu oan, còn kết tội thì chỉ chức năng trời sinh của  quan tòa. Quan tòa vốn lương thiện, cớ sao ông ta giả bộ hầm hầm làm ác? Đó là vì vai trò của hắn ta là chỉ muốn buộc tội cho bị can, khép tội người lương dân. Hắn làm bộ ác, đánh đập dã man để dọa dẫm, ép cung, nhằm hoàn thành nhiệm vụ. Trường hợp thứ hai, muốn bắt phạm nhân nhận tội, thì lại giả bộ ân cần, quan tâm hoàn cảnh, số phận, gia đình, tương lai, con cái nạn nhân, rồi hắn mớm cung để đưa họ vào tròng tội lỗi lao lí. Dù làm bộ ác hay làm bộ ân cần quan tâm thì mục đích chỉ là một: khép người bị can vào tội…Điều lạ lùng là quan tòa trong bài thơ không bao giờ nghĩ đến trường hợp bị can vô tội. Họ không có khái niệm bị can vô tội.  Ai mới đọc qua bài thơ này, có thể nghĩ rằng ông Hồ Chí Minh uyên bác thế, mà ở đây có vẻ như đã dùng từ sai, không chính xác. Nếu người chưa thành án, thì chỉ là bị can, chưa có tội, thì đâu phải là phạm nhân. Chữ “phạm” ở trong bài thơ rõ ràng chứng tỏ ông cụ đã đồng nhất bị can với phạm nhân làm một là không đúng. Nhưng mặt khác, ông Hồ Chí Minh lại quả là rất thâm thúy, bởi vì trong xã hội phân lưỡng cực, mọi bị can đều đã là phạm nhân, cho nên đâu cần phân biệt làm gì cho mất thì giờ. Đây là điều cực kì sâu sắc. Bởi chính đây mới là sự bất công phổ biến, tất yếu của mọi xã hội lưỡng cực. Khi mọi bị can đều là phạm nhân thì cần gì phải xử án nữa, đâu cần công lí nữa? Vậy công lí đứng ở đâu?

Theo tôi, bản dịch trên báo Nhân Dân mà ông Hoàng Ngọc Hiến sử dụng là không chính xác: “Giữa hai thái cực ấy, Đã dựng lên thần công lí rõ ràng”, bởi trong nguyên văn không hề có chữ “rõ ràng” nào hết. Đó là người dịch tùy tiện thêm vào. Nguyên văn chỉ là: “Giữa hai cực ấy, Có thần công lí đứng”. Nhưng nói vậy thì ông Hồ Chí Minh có vẻ lại rơi vào mâu thuẫn. Bởi xã hội đã phân thành lưỡng cực thì thần công lí đâu có chỗ đứng. Theo tôi hiểu, trong bài thơ này, thần công lí vắng mặt, chứ không phải  là “thần công lí đã dựng lên rõ ràng”. Ông Hồ Chí Minh đã nêu ra một vị trí khuyết. Nếu đã có thần công lí đứng rõ ràng rồi thì xã hội đâu còn là lưỡng cực, mà đã là tam cực rồi, mà như thế thì việc xử án đã công minh. Cái bất hạnh của người dân là chỉ được ở trong xã hội lưỡng cực, mà đã là lưỡng cực thì không có chỗ cho thần công lí đứng. Ông Hoàng Ngọc Hiến nhầm lẫn sâu sắc ở chỗ này. Ông Hồ Chí Minh chỗ này lại cũng sâu sắc thâm thúy. Bởi “Thần công lí” chỉ là cái sương khói vô hình, nó đâu có thực thể, đâu có quyền lực. Ông thần có đứng ở đấy nữa thì cũng chẳng có tác dụng gì. Đó chỉ là hư vị để an ủi tinh thần và che mắt thế gian. Đúng hơn nó là một ước mơ. Ông Hồ đang ước mơ có một thần công lí ở đây. Nhưng vấn đề không phải  là thần. Phải là một cơ quan với con người thực thể có quyền lực xã hội thì nó mới giải quyết được công lí. Mà trong xã hội lưỡng cực nó lại vắng mặt. Thần công lí phải có vị trí xứng đáng trong cơ cấu xã hội. Ta phải hỏi tại sao ông Hồ phải ở tù oan tại Quảng Tây hơn một năm, trong khi đó tại tòa án Hương Cảng, ông được tha. Ta phải hỏi tại sao ông Phan Bội Châu lại được ân xá dưới tòa án của Pháp, chứ không phải của tòa án Nam triều. Công lí nằm trong cơ cấu xã hội, chứ không ở thần phật nào hết. Không có tổ chức xã hội tương ứng thì không có công lí.

Bài thơ dĩ nhiên là phản ánh suy tư của ông Hồ Chí Minh về thân phận lao tù, bị bắt oan ở phố Túc Vinh của mình với tư cách là người bị bắt, bị can, bị nghi là Hán gian mà chưa tìm được thần công lí. Nhưng cái lớn của ông trong bài này là đã vượt lên trường hợp riêng của mình để nghĩ đến tính phi lí của xã hội lưỡng cực. Bài thơ nêu một chân lí bất hủ về mọi xã hội lưỡng cực. Rất tiếc về sau ông cũng bị dư luận quy cho là người xây dựng và duy trì xã hội theo mô hình lưỡng cực mà có lúc ông đã có lúc rơi vào.

Đọc bài thơ Vấn thoại sâu sắc của Hồ Chí Minh ta hiểu rõ ông Nguyễn Thanh Chấn là nạn nhân của xã hội lưỡng cực, nhưng “thần công lí” của ông chẳng ai khác hơn là người vợ tao khang đã 10 năm ròng rả, không quản khó khăn, gian khổ, tìm được một cách hy hữu kẻ giết người đích thực để làm cơ sở kết thúc vụ án oan cho chồng. Nó chỉ là một may mắn hết sức ngẫu nhiên trong một xã hội lưỡng cực.

Hà Nội, 6-12-2013
Nguồn: Trần Đình Sử Blog

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Đào Hùng: GIỚI THIỆU SÁCH "VĂN HỌC CỔ CẬN ĐẠI VIỆT NAM..." CỦA GS. HUỆ CHI

Giới thiệu sách: 
Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật của Nguyễn Huệ Chi 

Đào Hùng 
Xưa & Nay 

NGUYỄN HUỆ CHI, Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, NXB Giáo dục, H. 2013, 1200 tr.

Cuốn sách tuyển chọn các công trình của GS Nguyễn Huệ Chi, phản ánh một cách đọc, hiểu và cảm của một người nghiên cứu chuyên sâu văn học cổ cận đại dân tộc trong 50 năm, nhằm giới thiệu với những người nghiên cứu văn học công trình của một tác giả, có thể làm mẫu mực cho những sinh viên khi chọn con đường nghiên cứu văn học. Sách được sắp xếp thành bốn phần, phát triển theo hệ thống tư duy khoa học của tác giả.

Hai phần đầu dành cho sự Tiếp cận các hiện tượng văn học, mà trước hết là truy tìm các “mã nghệ thuật” như những chìa khóa và xoay quanh các thủ pháp diễn ngôn của từng nhà thơ nhà văn, để cố gắng nắm bắt đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của các kiểu loại sáng tác và tư tưởng thẩm mỹ của chủ thể nghệ thuật như những cá tính sáng tạo không lặp lại, cũng không tách rời khát vọng tự do của những cái “tôi” cá thể cá nhân. Ta có thể thấy qua các tác phẩm như: Cáo tật thị chúng, Phò giá về Kinh, Lĩnh Nam chích quái, Quân trung từ mệnh tập, Phú tụng Tây Hồ, các bài thơ Thăng Long của Nguyễn Du, Truyện Kiều, Giai nhân kỳ ngộ diễn ca…Tiếp đến phác họa gương mặt một số văn gia, thi gia trải dài mười thế kỷ: từ Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trương Hán Siêu, Chu An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Văn Giai, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, đến Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền…

Qua các hiện tượng văn học cụ thể, tác giả đã đưa ra một mẫu mực về mối quan hệ giữa “khảo” và “luận”. Cái thói xấu chưa khảo mà đã luận – chưa nói khảo chưa kỹ, khảo chưa đúng – chưa đọc hoặc đọc chưa kỹ mà đã phê, đã phán, đã nảy sinh từ lúc nào, song phải nói “học phong” ấy trước đây đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền phê bình, nghiên cứu nước ta trong một thời gian không ngắn, và vẫn còn di chứng đến ngày nay(1). Đối với văn bản cổ, khâu “khảo” là hết sức quan trọng, đặc biệt là các văn bản thơ viết bằng chữ Hán.

Phần thứ ba, Tiếp cận các tiến trình văn học, theo chiều hướng biến chuyển của chế độ quân chủ, hết thời thịnh trị đến thời suy tàn, hoặc thông qua các chuyển động lịch sử bất thường có ảnh hưởng đến tâm lý toàn xã hội như biến cố chống xâm lăng, giải phóng dân tộc, cùng với cả những biến đổi tiệm tiến, sâu xa trong phạm vi vĩ mô của vùng văn hóa Đông Á có tác động nhiều ít đến quan niệm thẩm mỹ chi phối văn học mỗi thời kỳ. Phần này có ba dạng bài, đề cập một vài vấn đề văn học sử liên quan đền từng chặng đường: văn học đời Lý, văn học thế kỷ XV, văn học Mạc và văn học từ nửa đầu thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX; bàn đến tác giả và trường phái: Hoàng Đức Lương, Nguyễn Thượng Hiền và Tự lực văn đoàn; bàn những vấn đề liên quan đến vùng văn hoá và văn học (Nam Bộ, Trường Lưu – Hà Tĩnh và Thăng Long). Ở mỗi tiến trình tác giả chú ý vạch ra một dấu mốc riêng của lịch sử văn học, trong đó, đằng sau biểu hiện nghệ thuật, là tinh thần dân tộc từng bước trưởng thành và rõ nét bản sắc. Thông điệp nhân văn cho con người với phẩm chất người và hạnh phúc trần thế cũng ngày một nảy nở.

Phần thứ tư, Tư duy phương Đông và một vài đặc trưng văn học sử, là những nghiên cứu nhấn mạnh tính chất “khu vực” quy định phương thức tư duy nghệ thuật đặc thù của văn học Việt Nam cổ cận đại, tạo nên sự dung hợp các nhân tố Nho, Phật, Lão, các phạm trù “động” và “tĩnh” cũng như quy luật tiếp thu và thanh lọc thường xuyên qua lại giữa ngoại vi và trung tâm như một chu trình diễn ra không ngừng trong mười thế kỷ sáng tác văn học của Việt Nam. Ở đây tác giả tiếp tục xuất hiện với tư cách một nhà văn học sử, đồng thời cũng cho thấy sự quan tâm tới những vấn đề lý luận, đặc biệt là việc vận dụng lý luận hiện đại vàonghiên cứu những vấn đề văn hoá – văn học của phương Đông.

Công trình của Nguyễn Huệ Chi  đã được GS Vũ Khiêu đánh giá là: “Nguyễn Huệ Chi thuộc số không nhiều trong những nhà nghiên cứu văn học thuộc thế hệ thứ hai, bộc lộ một vốn kiến thức sâu rộng, một tư duy khoa học khúc chiết với một sự uyên súc trong học thuật. Đọc các công trình của anh, ta thấy có độ tin cậy cao, những thông tin chính xác và được kiểm chứng khắt khe, một sức liên tưởng rộng, và một khả năng phân tích suy xét sâu sắc”(2).

Còn GS Nguyễn Khắc Phi thì đặt kỳ vọng vào tác giả với lời phát biểu: “Văn học cổ trung đại có vai trò rất quan trọng trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con người Việt Nam hiện đại, nhưng do nhiều nguyên nhân, thanh niên nói chung và học sinh sinh viên nói riêng còn lãnh đạm, nếu không muốn nói là dị ứng với nó. Rất mong GS Nguyễn Huệ Chi, với sự hiểu biết uyên bác và tài năng phân tích, thuyết phục của mình, sẽ đóng góp được nhiều hơn nữa vào việc khắc phục nhược điểm to lớn nói trên”(3).

Đây là một công trình nghiên cứu văn học sử, nhưng nó có thể làm mẫu mực cho những ai muốn đi vào con đường nghiên cứu lịch sử nói chung, vì tuy khác nhau về phương pháp, nhưng có những tố chất mà người nghiên cứu ở bất cứ lĩnh vực nào cũng đều phải có: đó là sự trung thực với chính mình và sự học hỏi không biết mệt mỏi. 

Đ.H. 

1. Ấy vậy mà có người trình độ chỉ mới vào loại “bổ túc văn hóa” lại tự xưng là “nhà phê bình” để gán cho tác giả một số “tội” mà quan trọng nhất là tội “đạo văn”: đã “phóng tác” từ tác phẩm của Trần Nhân Tông nhưng lờ đi, không nói rõ nguồn gốc, hoặc bắt chước Nguyễn Lang (tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận); rồi khi tác giả đi tìm nhân thân Tuệ Trung thượng sĩ thì lại cho là “thủ pháp huy động mắm, muối, gia vị thêm thắt cho dài dòng, màu mè”. Ngoài ra còn một số điểm khác được “nhà phê bình” cố tình vạch ra, như cái gọi là “rút ruột” một luận án vô danh nào đó…; nhưng thiết tưởng không cần phải tranh luận với những người không có tí kiến thức gì về Hán học, lại dùng đao to búa lớn để đả kích nhằm những mục đích khác (xem trên báo Văn Nghệ). Xem bài tại đây.
2. Vũ Khiêu, “Nguyễn Huệ Chi, một nhà nghiên cứu văn học tài hoa, uyên bác”, lời giới thiệu đầu sách, tr. 9-12.

3. Nguyễn Khắc Phi, chuyên gia văn học cổ cận đại Trung Quốc, nguyên Tổng biên tập NXB Giáo dục. Phát biểu mở đầu trong dịp Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh và Trung tâm văn hóa Pháp (L’Espace) đồng tổ chức buổi tọa đàm giao lưu về cuốn sách, mang tiêu đề “Một hành trình văn học xuyên suốt 10 thế kỷ”.

Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, số 441, tháng 12-2013

 

-->đọc tiếp...

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

CUỘC TỌA ĐÀM VỀ "SÓNG HẬN SÔNG LÔ" VANG DỘI SÓNG TRƯỜNG SA


15h00 ngày 10/8/2013 tại Thư viện café sách Đông Tây, đường Trần Quý Kiên Hà Nội đông đảo các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học, các PV báo in và báo hình đã có mặt để tham dự buổi tọa đàm ra mắt cuốn tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô của nhà văn Vũ Ngọc Tiến. Sách dày 352 trang, do NXB Hội nhà văn & TTVH Đông Tây liên kết ấn hành tháng 7/2013.

Dưới đây, xin giới thiệu bài lược ghi tại cuộc tọa đàm của PGS.TS nhà phê bình văn học Vũ Nho và tham luận của nhà văn Lê Mai về tiểu thuyết Sóng hận sông Lô.  Mời độc giả xem thêm Lược thuật của Bauxite Vietnam tại đây nữa. 
 
Lược thuật của Vũ Nho
Theo thư mời đã được thông báo trên các trang mạng, chiều 10 tháng 8, tại trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, buổi ra mắt tiểu thuyết được tổ chức với sự tham gia đông đảo các nhà văn, nhà nghiên cứu và bạn đọc.

Nhà văn Phạm Xuân Nguyễn dẫn chương trình giới thiệu tóm tắt về tiểu thuyết Sóng hận sông Lô, những thành công và đóng góp mới của nhà văn Vũ Ngọc Tiến.

Nhà văn Vũ Ngọc Tiến phát biểu đôi điều về việc chọn đề tài, lối viết mới cho Sóng hận sông Lô.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải, cây tiểu thuyết lịch sử chúc mừng thành công của đồng nghiệp Vũ Ngọc Tiến. Ông nhấn mạnh vai trò của nhà Lê. Nếu cuộc kháng chiến của Lê Lợi không thành công, không biết có còn tồn tại nước Đại Việt. Nhà văn dẫn chứng sự tàn bạo cướp sạch, đốt sạch của bọn xâm lược phương Bắc. Ông dẫn chứng đồ gốm nhà Trần rực rỡ thế, nhưng đến thời nhà Lê thì “tuyệt diệt”. Bởi bọn giặc bắt đi những người thợ tài hoa nhất. Ông mời mọi người lên chùa ĐỌI để xem tấm bia đá to, bọn giặc Minh đập vỡ một góc như là chứng tích tội ác. Ông tự tin tuyên bố đầy trách nhiệm rằng từ xưa đến tận bây giờ, âm mưu thôn tính Đại Việt của bọn thống trị phương Bắc không hề thay đổi. Không phải ngẫu nhiên, các bậc đế vương của nước ta, khi trăng trối cho con cháu luôn nhắc cái họa phương Bắc.

Nhà văn cho rằng “Sóng hận sông Lô” là cuốn sách kịp thời cảnh tỉnh những ai giả vờ, hoặc cố tình ngủ quên trước hiểm họa đất nước. Đồng thời thổi một luồng sinh khí mới vào tinh thần yêu nước có lúc bị xúc phạm. Ông tâm đắc với bài học lịch sử về nhà Hồ xây thành đá và chịu thất bại được nói tới trong tiểu thuyết này. Nhà Hồ “xa dân, ngờ dân, sợ dân, ép dân” nên thất bại. Thành nhà Hồ xây kiên cố thế, nhưng không bắn được một mũi tên, không giết nổi một tên lính quèn nhà Minh. Từ góc độ nghiên cứu riêng, ông khẳng định Hồ Quý Ly không có tài, chưa đánh thắng một trận nào.

Hoàng Quốc Hải tâm đắc với những thông điệp nổi và chìm trong tiểu thuyết này. Ông nhắc lại lời của Mác về lịch sử, không phải là triệu bóng ma lịch sử trở về.

Nhà giáo Phạm Xuân Thạch phát biểu cảm nhận tiểu thuyết như viên ngọc nhưng chưa được mài giũa kĩ. Ông thấy xu hướng “phức tạp hóa” nhân vật lịch sử ( trong chính sử họ thường đơn giản). Ông cho rằng thành công của nhà văn là đã dựng nên một Lê Lợi không chỉ là một thủ lĩnh ( điều này quen thuộc), mà dựng lên Lê Lợi như một nhà vua, một người đứng đầu quốc gia. Lê Lợi vừa là thủ lĩnh, vừa là nhà vua, đó là nét mới.

TS sử học Đinh Công Vĩ viết một tham luận dài. Ông là nhà Lịch sử, nên chăm chú xem xét sự “vi phạm” lịch sử đến đâu trong hư cấu của nhà văn. Sợ mất thì giờ của mọi người, ông tóm tắt bài viết và sẽ góp ý chi tiết với tác giả.

Nhà văn Lê Mai viết một tham luận dài. Ông thích khoe giọng đọc trầm của mình nên nói với cử tọa rằng chỉ đọc mất bảy phút. Thực tế là nhiều hơn gấp hai lần. Lê Mai liên hệ “trực tiếp” âm mưu của bọn giặc Minh trong tiểu thuyết với thực tế bây giờ bọn Tàu khai mỏ, lập phố Tàu, thu mua đỉa…

TS Nguyễn văn Khải- ông gìa Ozon chúc mừng nhà Văn, ông nhớ con phố Trần Nguyên Hãn thủa ấu thơ và viên tướng tài Trần Nguyên Hãn trong tiểu thuyết. Với tư cách bạn đọc, ông thích tiểu thuyết này.

Nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Văn Hồng cảm nhận tính kịch trong tiểu thuyết, đặc biệt là với nhân vật Trần Nguyên Hãn. Ông trao đổi với tác giả về một số chi tiết muốn hiểu rõ.

PGS TS La Khắc Hòa phát biểu với tư cách người đọc, đã đọc tiểu thuyết qua bản vi tính do PGS TS Trần Mạnh Tiến cùng khoa Văn gửi cho. Ông nói đùa “bổ chính” ý kiến của nhà văn Hoàng Quốc Hải. Nhà nước ta rất quan tâm đến Lịch sử. Ông dẫn chứng là thành nhà Hồ ở thanh Hóa quê ông. Trước ra vào tự do. Từ ngày nhà nước “quan tâm”, có bảo vệ, không được “tự do” vào nữa. Và chuyện thành cổ Tuyên Quang, sau khi được “quan tâm” đầu tư thì trở thành “cái lò gạch”!

La Khắc Hòa thích khái quát mô hình, hệ thống. Ông cho rằng Vũ Ngọc Tiến đã dựng được cái khung mới cho tiểu thuyết lịch sử ở ta. Vũ Ngọc Tiến không viết Lịch Sử như ngụ ngôn, rút ra bài học; nhà văn đã kể “câu chuyện thú vị” về Lịch Sử để người đọc nhận lấy thông điệp. Tán thành ý kiến của nhà văn Hoàng Quốc Hải, La Khắc Hòa cho rằng chúng ta nên “ngủ một mắt” khi ở cạnh anh bạn láng giềng lắm thủ đoạn.

PGS TS Trần Mạnh Tiến nhấn mạnh vốn kiến thức lịch sử dày dặn của nhà văn. Tiểu thuyết lịch sử này đã dựng lại thành công nhân vật lãnh tụ cuộc kháng chiến có tầm văn hóa. Đây là tiểu thuyết thành công vì đã đánh thức ý thức lịch sử của mọi người.

PGSTS Vũ Nho là người phát biểu sau cùng. Vì có bài viết in ở cuối tập sách nên diễn giả chỉ nói miệng thêm mấy điều:

- Nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã rất thành công khi viết bộ ba tiểu thuyết lịch Sử : Trần Thủ Độ, Đào Duy Từ, Khúc Hạo, được in 3, 4 lần.

- Ông viết “Tiểu thuyết giáo trình”, “Tiểu thuyết Bài”, “Tiểu thuyết bài học”, “Tiểu thuyết giáo khoa” ( Lesson Novel) là viết thử nghiệm đầu tiên ở nước ta. Vì là đầu tiên, nên ngay cả tên gọi cũng chưa có cách gọi thống nhất. Nhưng đáng nói ở đây là thử nghiệm thành công. ( nếu là người đầu tiên mà thất bại thì có gì đáng nói nhiều?). Diễn giả cũng có ý “tranh luận” thân ái với nhà văn Hoàng Quốc Hải khi nhà văn cho rằng tiểu thuyết đáp ứng sự “đói sử” của dân ta. Vâng!, diễn giả đồng tình với nhà văn, nhưng lại thêm : dân ta đói sử, nhưng lại kén ăn. Những món sử không chất lượng, không ngon thì dù đói cũng không ăn ( Dân ta phải biết sử ta/ Cái gì không biết thì tra Gâu gần!). Vì vậy, tác phẩm lịch sử có hay thì dân ta mời xài. “Sóng hận sông Lô” đáp ứng được tiêu chí đó.

Diễn giả tâm đắc với các ý kiến trước đó và dẫn thêm: Nhà văn Tiệp Phu xích trong tác phẩm “Viết dưới giá treo cổ” đã viết câu nổi tiếng “ Hỡi nhân loại, hãy cảnh giác!”. Tiểu thuyết này của nhà văn Vũ Ngọc Tiến cũng có một thông điệp nhắc nhở “ hỡi con dân Đại Việt, hãy cảnh giác!”
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên mời bạn bè tăng hoa, mời nhà văn Vũ Ngọc Tiến phát biểu.

Nhà văn Vũ Ngọc Tiến xúc động vì bạn bè đến đông, các bạn miền Nam cũng gửi tham luận góp ý. Nhà văn cho biết đây là thử nghiệm cho tập đầu. Ông sẽ viết tiếp hai tập nữa cũng theo bút pháp Uy liam Phuôc-nơ. Ông cám ơn mọi người, nhất là cám ơn ba người phụ nữ : nhạc mẫu của ông, Minh Thi, vợ ông; và cháu gái giúp việc gắn bó với gia đình ông.

Mọi người chụp ảnh lưu niệm với nhà văn và sau đó ra quán Bầu bạn trong Trung tâm thể thao của quận Cầu Giấy để uống bia mừng sự thành công của cuốn sách.


“SÓNG HẬN SÔNG LÔ” DỘI ĐẾN TRƯỜNG SA
(Nhân đọc cuốn "Sóng hận sông Lô" của Vũ Ngọc Tiến, 
Nxb Hội Nhà văn 7/2013)
Lê Mai
Hội Nhà văn Hà Nội
Vũ Ngọc Tiến sinh năm Bính Tuất (1946) ở làng Bưởi, nay là phường Bưởi, quận Tây Hồ- Hà Nội. Ờ mà đất Hà Thành cũng lạ, năm 1946 giữa khói lửa ngút trời của chiến tranh chống Pháp bỗng dưng đẻ ra một đám linh cẩu sau này cùng theo đuổi nghiệp văn: Nguyễn Mạnh Tuấn, Chu Lai, Hòa Vang, Nguyễn Đình Chính, Vũ Ngọc Tiến… Họ mỗi người mỗi vẻ, mỗi người một hoàn cảnh xuất thân, một cá tính thẩm mỹ; kẻ sớm người muộn bước vào văn đàn, đều để lại những tác phẩm đáng mặt là những chàng trai sinh trưởng nơi mảnh đất ngàn năm văn vật… 
Chúng ta đã quen với lối viết bảng lảng sương khói, thâm trầm, giàu trí tuệ, có lúc quyết liệt của chú linh cẩu Vũ Ngọc Tiến với những Khói mây Yên Tử, Rồng đá, Gà ô tử mỵ, Vị phồn thực… đặc biệt là Chù Mìn Phủ và tôi - một truyện ngắn đặc sắc về cuộc chiến Việt - Trung tháng 2/1979. Nếu đem so sánh nó với Ma chiến hữu của Mạc Ngôn thì chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào, nhưng số phận hai tác phẩm lại trái ngược đến phi lý mà năm 2008 ai ai cũng rõ!? Ngay cả khi anh viết sex thì cái sex ấy luôn được tiết chế và chứa đựng một tư tưởng. Ai không tin hãy đọc lại truyện ngắn Rồng đá thì khắc biết. Rồng đá là biểu tượng của quyền uy, thế mà trên cơ thể nó, chỗ nào, kể cả cái mặt rồng nếu được lũ trẻ con trong làng cởi truồng trèo lên, tụt xuống, gí chim chịn bướm vào là chỗ đó sáng lên, còn không thì mốc thếch, nhện chăng rêu bám… Hay như trong truyện ngắn Vị phồn thực, chị vợ viên trung tá VNCH vạch vú đang cương sữa nhét vào miệng anh lính VC đang bị thương sắp chết và kêu khát. Anh vừa sợ vừa ngượng, nhả vú ra, lắc đầu quầy quậy làm chị nổi cáu tát cho một cái và quát: “Đang đêm giữa rừng, tìm đâu ra nước, muốn chết hay muốn sống, hử?!...” Đọc “Sóng hận sông Lô” tôi hơi tiếc vì cái phong vị quen thuộc ấy của tác giả dường như bị cất giấu đi nhiều để anh thử nghiệm cái gọi là “Tiểu thuyết giáo trình”. Duy chỉ có cái “vị tham” - tham kiến thức, vốn vừa là  ưu điểm vừa là nhược điểm của Vũ Ngọc Tiến là còn hiện rõ. Cái đó phù hợp với loại “Tiểu thuyết giáo trình“ chăng? Tôi không biết nữa! Thôi thì cái phần lý luận văn học về chủ nghĩa này, trường phái nọ trong tiểu thuyết hãy nhường lời cho các nhà phê bình, tôi chỉ muốn bàn sâu về một vài mạch truyện làm nên tư tưởng tác giả xuyên suốt trong cuốn sách này mà thôi.
Trong “Sóng hận sông Lô”, tác giả muốn kể ta nghe về cái chết tức tưởi oan khuất của đại công thần Trần Nguyên Hãn. Nhưng sao anh lại kể rộng thế? Nhiều sự kiện thế? Nhiều nhân vật chính thế? Nhiều kiến thức về địa lý, sử học, triết học, tôn giáo thế?... Phải chăng tác giả muốn chứng minh và giảng bài cho ngài Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thấy anh thực sự lo lắng cho thực trạng:
Dân ta chẳng biết sử ta
Lại cứ vanh vách nói ra sử Tàu!
Thực trạng dạy và học lớt phớt bộ môn lịch sử trong các trường Phổ thông và Đại học đã khiến Vũ Ngọc Tiến âm thầm suy ngẫm, luận giải về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, chia nó thành 3 giai đoạn Phòng ngự (1418- 1423), Cầm cự (1423- 1426) và Tổng tiến công (1426- 1428) để tôn vinh vai trò của đội ngũ trí thức - là một phát hiện độc đáo chưa có trong các giáo trình và sách giáo khoa.
Phải chăng khi viết “Sóng hận sông Lô”, trong tâm thế tác giả sôi lên niềm tự hào về nhà Trần 3 lần thắng giặc Nguyên - Mông, giữ vững nền độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ suốt 175 năm.  Còn chiến thắng quân sự lẫy lừng đời Lê kết hợp với chiến thắng của lòng nhân ái (Hội thề Đông Quan) đã dập tắt nguy cơ Bắc thuộc lần thứ hai: “Trẫm lâu nay vẫn giữ kín với cháu một điều, trong câu chuyện về giấc mộng lạ kỳ trên núi Sóc ở huyện Vĩnh Lộc, quê của Trịnh Khả. Hôm đó vua Lê Đại Hành đã báo mộng rằng, 100 năm sau cơ nghiệp họ Lê tưởng chừng bị mất, may nhờ ở chân núi Sóc xuất hiện nhân tài họ Trịnh đứng ra phò giúp vua Lê lấy lại kinh đô, kiến tạo nên triều Lê Trung Hưng kéo dài thêm 250 năm nữa” (trang 326). Vậy nếu cộng thêm 66 năm nội chiến Lê - Mạc thì triều Lê tổng cộng kéo dài hơn 400 năm. Thật là bài học sâu sắc, đáng giá.
Phải chăng qua “Sóng hận sông Lô”, tác giả cũng ngầm trao đổi với ta một cách nhìn mới về tài- đức của bậc lãnh tụ. Người bình thường như chúng ta tài- đức được phân biệt rạch ròi, có hồng  và có chuyên. Nhưng đối với một bậc quân vương thì tài và đức cũng như anh hùng và gian hùng hòa lẫn với nhau khó tách biệt. Phải chăng thế mà một Lê Lợi thô tục, đầy rẫy thói hư tật xấu, thậm chí đa nghi, nham hiểm, nhưng ông quá tài, quá giỏi trong tầm nhìn chiến lược, thuật dùng người, tự tin và quyết đoán nên ông làm xong đại nghiệp, xứng đáng là bậc quân vương, một anh hùng dân tộc. Hiểu được Lê Lợi như thế sẽ biết cái chết của Trần Nguyên Hãn và nhiều công thần trong giới trí thức là không tránh khỏi khi đất nước đã thanh bình, “giảo thỏ hết thì cung tên xếp xó”. Có lẽ vì vậy nên tác giả không dựng truyện xoay quanh nhân vật chính Trần Nguyên Hãn theo lối dựng truyện thông thường, khai thác sâu giai đoạn thơ ấu ở chùa Thiên Ân hay 12 năm đi bán dầu, vướng phải mối tình éo le với cô chủ Hồng… Giá được như thế, tiểu thuyết sẽ lung linh, hấp dẫn hơn chăng? Tác giả chỉ muốn tập trung lý giải nguyên nhân vụ án Trần Nguyên Hãn bằng việc viết lại “giáo trình” về một phân kỳ lịch sử thời Lê sơ. Do vậy tiểu thuyết có lúc hơi khô chăng?...
Tôi đặc biệt xúc động và đồng cảm với Vũ Ngọc Tiến khi anh dành nhiều trang trong tiểu thuyết mô tả khá cụ thể, chân thực về âm mưu phá nát nội bộ triều Lê, làm suy yếu nước Đại Việt bằng cả một mạng lưới gián điệp quy mô phủ khắp từ triều đình ra xã hội, từ miền xuôi lên miền ngược. Và tôi có cảm giác “Sóng hận sông Lô” đang dội đến Trường Sa. Tôi đọc và liên tưởng đến hình ảnh tác giả cùng các nhà văn Huệ Chi, Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên hay cùng các nhân sĩ Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Đăng Quang, Nguyễn Văn Khải năm 2011 xuống đường phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo nước ta. Tôi chợt nhớ tới hình ảnh Vũ Ngọc Tiến một mình cô độc đi bụi giữa Tây Nguyên, lang thang đến từng buôn làng, mỏ quặng Bauxite để viết bài tâm huyết “Tây Nguyên du ký”, làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước. Anh thường tâm sự với bạn bè rằng, dân tộc Hán là một dân tộc ghê gớm lắm. Sức sống và sức đồng hóa của nó đạt tới mức ma quái. Lô gic thông thường: Người chiến thắng sẽ đồng hóa kẻ chiến bại. Hơn 200 năm phát triển của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, người da đỏ bản xứ ngày nay trở thành thiểu số yếu hèn, ăn nhờ ở đậu ngay trên mảnh đất thiêng của mình. Nhưng đối với dân tộc Hán thì khác đấy. Vào thế kỷ XIII, vó ngựa quân Mông Cổ tung hoành khắp lục địa Á- Âu, chiếm đất và nhanh chóng thống trị Trung Hoa, nhưng rồi chính họ lại bị người Hán đồng hóa thành triều đại nhà Nguyên. Có phải vì nỗi lo này không mà ta thấy trong “Sóng hận sông Lô”, tác giả dụng công mô tả rất nhiều thủ đoạn thâm hiểm của giặc Minh thời hậu chiến để cảnh báo cho hôm nay và mai sau? Đọc đến đâu, nghĩ tới vụ việc xảy ra hôm nay, tôi cứ giật mình thon thót:
“Ta sẽ xin với Tuyên Tông hoàng đế lập một vài phân đội thủy binh, cải trang thành hải tặc chuyên săn lùng thuyền của ngư dân và khách buôn nước Nam Man đáng ghét này mà cướp giết thật tàn bạo, khiến chúng khiếp vía không dám ra khơi. Ta tin chỉ trong vài năm, cả một vùng biển bao la, giàu có của Nam Man sẽ thành lãnh hải của Đại Minh.” (trang 109). Hôm nay, một vài phân đội thủy binh của Trịnh Hòa năm xưa đã biến thành hạm đội Nam Hải có đủ phi cơ, tàu ngầm, hàng không mẫu hạm… trang bị hiện đại đang làm mưa làm gió ở biển Đông đấy thôi! Chúng tôi đọc anh mà nhói lòng nghĩ tới thân phận các ngư dân ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) bị giặc Tàu xả súng giết hoặc bắt người, cướp thuyền và ngư cụ. Lại nữa: “Thoạt đầu hắn sẽ làm cỏ nước Nam Man cho bõ tức, sau đó lần lượt nuốt chửng hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp. Đến lúc đó toàn bộ biển Đông sẽ thành biển Nam Trung Hoa”… “Ta sẽ dùng thủy binh của Trịnh Hòa chiếm nốt Xiêm La, rồi từ Xiêm La nuốt chửng luôn Ai Lao, Man Miến…” (trang 131). Khiếp quá! Đây chính là ý đồ bành trướng của bọn theo chủ nghĩa sô vanh Đại Hán thời nay rồi còn gì! Nó chỉ mới thè cái lưỡi bò ra đã chiếm tới 80% diện tích biển Đông.
Thế còn trên đất liền thì sao? “Chu Đại đang neo thuyền buôn ở bến sông làng Hiến, được cấp rất nhiều ngân lượng, lên bờ cắm chốt, lấy vợ bản địa, mua đất mở cửa hàng…” Đến hôm nay ông bạn láng giềng phương Bắc đã lập được bao nhiêu phố Tầu sau khi trúng thầu giá rẻ ở các công trình thế kỷ của nước Việt ta nhỉ? Chúng thuê được bao nhiêu héc ta rừng? Ngày xưa chúng chỉ cho người tràn sang thu mua vàng bạc, quế, hồi, sa nhân chứ bây giờ thu mua cả đỉa, lá điều khô, móng ngựa, chân trâu… thì thật đểu cáng, thâm hiểm gấp mấy các hoàng đế nhà Minh!... Rồi nữa: “Lang Mỵ, Hưng Khánh có mỏ sắt lớn ta đã cho đào bới, thăm dò”… “ Sát vùng biên giới có rất nhiều mỏ đồng, chì, vàng, bạc, thiếc…” (trang 194). Tôi chợt giật mình tự hỏi, ở đấy có mỏ bauxite không nhỉ? Giờ mỏ nào đã được liên doanh ngầm để móc khoáng sản thô chở lậu qua biên giới?  Lại nữa: “Mụ chủ lầu xanh Lệ Hoa cũng đã được cấp ngân lượng mua đất, mở vài cao lâu, tửu quán… tuyển thêm gái đẹp, thạo ngón nghề quyến rũ đàn ông…” hay “Nay ta đã mở rộng thành mạng lưới giăng kín xứ này gồm các thương nhân, đạo sĩ, thầy lang, thầy bói…” (trang 111). Tất cả đều là điệp viên cả đấy - toàn cỡ điệp viên 007, khiếp! Kinh khủng nhất là bàn tay phá hoại của giặc Minh thọc sâu vào tận cung đình, can dự vào công việc của Khu mật viện - một cơ quan có vai trò gần giống như Ban Tổ chức Cán bộ bây giờ. Bọn gián điệp đã gian manh tạo ra sự kiện lễ tế thần sông Cả, ở bến Triều Khẩu (ngày rằm tháng 6 năm Ất Tỵ - 1425) nhằm can thiệp sắp xếp nhân sự cao cấp nhất của triều đại nhà Lê sau này. (Loại bỏ bằng được nhóm trí thức tài năng Trãi- Hãn- Xảo- Chú- Tư Tề và ngầm ủng hộ nhóm vô học, tham lam, ngu ngốc Sát- Ngân- Vấn- Hoành- Nguyên Long.)  Tổng lực đến thế! Táo tợn và nham hiểm đến thế! “Sóng hận sông Lô” năm xưa đã dội đến Trường Sa hôm nay…
“Sóng hận sông Lô” là cuốn sách có hồn. Cái hồn đó nhắc bảo chúng ta: Không có một dân tộc nào trên trái đất này được phép tự coi mình là siêu đẳng, là duy nhất, còn xung quanh chỉ là Man- Di- Mọi- Rợ. Tất cả các dân tộc sinh ra đều bình đẳng. Chỉ một phút lãng quên điều đó, Hít-le và dân tộc Giéc- manh đã phải nhận hậu quả bi thảm. Cái hồn đó nhắc bảo chúng ta: Sức sống, sức đồng hóa của dân tộc Hán thật ma quái, nhưng sức chống đồng hóa của dân tộc Việt cũng thật phi phàm. Trải qua 1000 năm Bắc thuộc mà người Việt vẫn mãi là người Việt. Nó trở thành liều vắc-xin phòng chống Hán hóa hiệu quả mà không thế lực nào có thể phủ nhận hoặc hèn hạ từ bỏ. Có phải thế chăng mà khi đọc xong cuốn “Sóng hận sông Lô”, tận thẳm sâu trong tôi bỗng ngân lên những câu thơ hào sảng của đại thi hào Nguyễn Trãi:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc- Nam cũng khác…”

                                                                                               Hà Nội 4/8/2013
                                                                                                        Lê Mai  
-->đọc tiếp...

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

GIÁO SƯ Y HỌC NGUYỄN VĂN TUẤN MỔ XẺ ĐỘI NGŨ TÁC GIA VĂN HỌC VIỆT NAM

Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam"
Việt Nam có bao nhiêu tác gia?
Nguyễn Văn Tuấn 

Tác giả bài viết: GS. Y khoa Nguyễn Văn Tuấn (trái)
Gặp lại một bài cũ (đã đăng trên Tạp chí Việt hơn 10 năm trước), nhưng chưa có dịp giới thiệu các bạn trong nước. Đọc lại vẫn thấy có ích. Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam", tôi thử đếm xem VN có bao nhiêu tác gia, họ sống thọ bao lâu, quê quán ở đâu, v.v. Nhìn sơ qua con số thì thấy dân Thanh Nghệ Tĩnh hơn hẳn Tràng An!
Gần đây, có một số ý kiến cho rằng nền văn học Việt Nam thời Trung đại, nhất là từ đầu thế kỉ 18 trở về trước, rất yếu kém, vì sáng tác của các tác gia thời đó còn rất khiêm tốn (xem, chẳng hạn như, Tạp san Việt với chủ đề "Văn học Việt Nam bước vào thế kỉ 21" [1]). Tuy nhiên, phần lớn những nhận xét như thế thường mang tính định chất và có khi dựa vào quan điểm chủ quan của tác giả. Thực vậy, cho đến nay, chưa có một phân tích định lượng một cách có hệ thống nào để cho thấy nhận xét trên có cơ sở hay không. Một câu hỏi hiển nhiên là tại sao mức độ sáng tác của những người làm văn nghệ thời trước lại kém. Ngoài vài nguyên nhân khả dĩ liên quan đến đề tài sáng tác, một giả thuyết có thể đặt ra ngay là số lượng người làm nghề sáng tác trong các thế kỉ trước chưa nhiều.
Giả thuyết đó nảy sinh ra vài câu hỏi khác mang tính định lượng mà tôi hằng thắc mắc là: có bao nhiêu tác gia Việt Nam trong thời kỳ lập quốc cho tới nay, thân thế họ ra sao, có bao nhiêu người là nữ, họ đã sáng tác và để lại được bao nhiêu tác phẩm lớn, v.v.. Thật là khó mà trả lời một cách chính xác cho những câu hỏi như thế, vì một phần nó nằm ngoài chuyên môn của tôi, và một phần sử liệu về văn học của nước ta chưa được soạn thảo một cách có hệ thống. Nhưng may thay, mới đây, soạn giả Lại Nguyên Ân cùng với Bùi Văn Trọng Cường đã sưu tầm tiểu sử và sáng tác của một số tác gia tiêu biểu từ nguồn gốc đến thế kỉ 19, và hệ thống hoá trong cuốn sách Từ điển Văn học Việt Nam (TĐVHVN) [2]. Những tác gia này được xem như là những người đã đặt nền móng cho nền văn học nước nhà trước thế kỉ 20. Thực ra, TĐVHVN không những trình bày tiểu sử của các tác gia, mà còn có nhiều thông tin liên hệ đến các tác phẩm cùng các hiện tượng đáng chú ý của tiến trình văn học dân tộc. Sách còn có những mục từ giải thích các thể loại thơ, văn, hát.
Vì thấy sách cung cấp những thông tin có thể dùng để trả lời những tò mò trên của tôi, nên tôi đã thử làm một vài phân tích thống kê về các dữ kiện trên [3]. Bài viết này chỉ nhằm tóm lại kết quả của phân tích đó nhằm cống hiến cho độc giả có một cái nhìn định lượng, nhưng tổng quan, về các tác gia và tác phẩm Việt Nam thời trước thế kỉ 20.
Số lượng
Theo TĐVHVN, tính từ đầu thế kỉ 1 đến cuối thế kỉ 19, Việt Nam có 276 tác gia [4]. Số lượng tác gia tăng dần theo thời gian. Trong những thế kỉ 2 đến 12, mỗi thế kỉ chỉ thấy có 1 đến 5 tác gia. Vào thế kỉ 13 đến thế kỉ 17, có 111 tác gia (tức là 40% trong tổng số tác gia). Sau thời kỳ này, số lượng tác gia tăng lên đến 71 người vào thế kỉ 18 và 78 người vào thế kỉ 19; như vậy, chỉ trong hai thế kỉ này số lượng tác gia chiếm gần 54% tổng số kể từ ngày khởi lập.
Tính theo niên đại, người mở đầu cho nền văn học Việt Nam là quan Thái thú người Trung Hoa, Sĩ Nhiếp, sinh năm 137 và mất năm 226. Sĩ Nhiếp có công truyền bá việc học chữ Hán và do đó Nho học vào nước ta vào thời Bắc thuộc. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu sử học có khi không đồng ý về ý nghĩa việc làm của ông. Có người cho là ông việc làm của ông là nhằm vào việc duy trì nền đô hộ của đế chế Hán, nên không được xét đến trong tiến trình lịch sử và văn hoá Việt Nam. Nhưng cũng có người suy tôn ông là "Nam bang học tổ", tức là "Ông tổ việc học ở nước Nam". Gần đây, tài liệu nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam cho thấy Sĩ Nhiếp là một ông quan cai trị tốt ("hương lại"), và việc làm của ông nên được ghi nhận như là một nghĩa cử cho nền văn học nước nhà.
Suốt từ thế kỉ 3 đến thế kỉ 6, sách không liệt kê một tác gia nào. Thế kỉ 7 có một tác gia, nguyên là một nhà sư, hiệu là Đại Thừa Đăng, không rõ tên thật cùng năm sinh, nhưng chỉ biết ông mất nào năm 601. Ông là một nhà sư đi chu du nhiều nơi, qua các nước Trung Hoa, Sư Tử (Sri Lanka ngày nay), Ấn Độ, v.v... và qua đó quen biết nhiều bạn bè trong Phật giáo. Một trong những người bạn thân của ông là Đạo Hy, một nhà sư Trung Hoa. Khi Đạo Hy qua đời, Đại Thừa Đăng có viết một bài thơ chữ Hán để khóc bạn có tựa đề là Điếu Đạo Hy. Theo giới nghiên cứu văn học Việt Nam, đây có thể là sáng tác văn học sớm nhất của người Việt mà hiện nay còn được biết.
Thế kỉ 8 và 9 có một tác gia tên là Khương Công Phụ, người gốc Thanh Hoá, không rõ năm sinh và năm qua đời, chỉ biết ông sống vào thời kỳ đất nước ta chịu sự cai trị của Nhà Đường (tức thế kỉ 8 và 9). Ông theo nho học, sang Trường An (kinh đô Nhà Đường) ứng thi và đỗ đầu khoa Hiền Lương Phương Chính năm Canh Thân (780) đời Đường Đức Tông. Sau này ông làm quan cho Tàu đến chức Gián nghị Đại phu, Đồng trung Thư môn Hạ bình chương. Về sau, ông bị truất phế làm Biệt giá ở Tuyên Châu, đến đời Thuận Tông lại được bổ làm Thứ sử ở Cát Châu, rồi mang bệnh và chết tại Tuân Hoá, Khâm Châu; tại đây còn có đền thờ. Tác phẩm duy nhất của Khương Công Phụ là Bạch vân chiếu xuân hải phú (bài phú Mây trắng chiếu biển xuân) chữ Hán. Tác phẩm này được Lê Quý Đôn nhận xét là "lời văn đẹp đẽ". Đây là một trong số rất ít những tác phẩm thành văn vào loại xưa nhất của tác gia người Việt hiện còn giữ được.
Từ thế kỉ 10 đến thế kỉ 12, số lượng tác gia vẫn chưa nhiều: chỉ 13 người. Trong số này có Ngô Chân Lưu (tức Khuông Việt, 933 - 1011), Nguyễn Vạn Hạnh (? - 1018), vua Lý Thái Tổ (974 - 1028), Mai Trực (tức Viên Chiếu, 999 - 1091), Lý Thường Kiệt (1019 - 1105, Lý Trường (Mãn Giác, 1052 - 1096), Từ Lộ (Đạo Hạnh, ? - 1117), Lê Thị Ỷ Lan (? - 1117), Pháp Bảo (thế kỉ 12), Dương Không Lộ (? - 1119), Nguyễn Công Bật (sống vào thế kỉ 11 hay 12), vua Lý Nhân Tông (1066 - 1128), và Nguyễn Nguyên Ức (tức Viên Thông, 1080 - 1151).
Sau thời kỳ này, số lượng tác gia Việt Nam vượt lên con số 16 (thế kỉ 13), 21 người (thế kỉ 14), 36 người (thế kỉ 15), 19 người (thế kỉ 16), 19 người (thế kỉ 17). Trong thế kỉ 18, con số các tác gia tăng lên 71 người và đạt mức cao nhất vào thế kỉ 19 với 78 tác gia.
Giới tính
Trong số 276 tác gia, chỉ có 11 người là nữ. Những vị này là: Lê Thị Ỷ Lan, Ngô Chi Lan (? - 1401), Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), Lê Ngọc Hân (1770 - 1799), Hồ Xuân Hương (Thế kỉ 18-19), Nguyễn Thị Hinh (tức Bà Huyện Thanh Quan, (Thế kỉ 19), Công chúa Nguyễn Tĩnh Hoà (1829 - 1882), Công chúa Nguyễn Vĩnh Trinh (1824 - 1892), Công chúa Nguyễn Trinh Thận (1826 - 1904), Nguyễn Nhược Thị Bích (1830 - 1909), và một nhà sư hiệu là Pháp Tính (? - 1701).
Trong danh sách nhỏ này, ngoài Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Thị Hinh, và Lê Ngọc Hân ra, các tác giả khác còn ít được biết đến trong công chúng. Ngô Chi Lan là một nhà thơ, nguyên quán ở làng Phù Lỗ, huyện Kim Hoa (nay là Kim Anh), tỉnh Phúc Yên. Có sách chép rằng bà là con nuôi của Nguyễn Thị Lộ (vợ lẽ của Nguyễn Trãi). Bà sống vào thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), thuở nhỏ thông minh, đọc nhiều, và khi trưởng thành có tiếng là người làm thơ hay. Bà thường được vua Lê Thánh Tông vời vào cung hầu thơ, và còn được phong chức Phù gia Học sĩ, tức chuyên lo chuyện lễ nghi, văn chương cho các cung nữ trong triều đình. Tác phẩm của Ngô Chi Lan còn sót lại cho đến thế kỉ 15 (nhưng nay đã thất lạc) là tập thơ chữ Hán Mai trang tập, gồm 7 bài thơ vịnh cảnh, vịnh sử. Bà được coi là một nhà thơ nữ đầu tiên có những đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà thời xưa.
Lê Thị Ỷ Lan (không rõ tên thật) nguyên quán làng Thổ Lỗi, lộ Bắc Giang (nay là ngoại thành Hà Nội), nguyên phi của Lý Thánh Tông, và mẹ của Lý Nhân Tông. Theo truyền thuyết, khi vua Lý Thánh Tông kinh du qua làng Thổ Lỗi, các cô thôn nữ đang hái dâu tràn ra đường xem xe vua, nhưng chỉ riêng có một cô gái đứng bên gốc lan mà hát, không màn đến việc diện kiến nhà vua. Vua Lý Thái Tông cho là người có bản lĩnh, nên đưa về cung lập làm phu nhân, đặt tên Ỷ Lan (có nghĩa là "dựa gốc lan"). Một số sách vở và tài liệu cho thấy bà có tham gia vào việc triều chính, khuyên vua ban hành chính sách cấm giết trâu bò bừa bãi. Khi vua đi đánh giặc, bà là người đứng ra lo việc nội chính rất vững vàng. Bà là người sùng đạo Phật. Tác phẩm của bà để lại là một bài kệ ngắn luận bàn về hai phạm trù "sắc" và "không" trong đạo Phật.
Công chúa Nguyễn Tĩnh Hoà là con gái thứ 34 của vua Minh Mệnh, em ruột Tùng thiện vương Miên Thẩm và công chúa Mai Am Nguyễn Trinh Thận. Bà có năng khiếu thơ văn trong giới cung đình, và còn rành cả nhã nhạc. Bà còn để lại một tập thơ Huệ Phố thi tập, gồm 260 bài thơ tức cảnh, đề vịnh, cảm hoài. Thơ của bà được anh trai (Tùng thiện vương) khen là "lời gọn gàng, ý lưu loát, văn trôi chảy, điệu mạnh mẽ."
Chị của Nguyễn Tĩnh Hoà là Nguyễn Trinh Thận, con gái thứ 25 của vua Minh Mệnh. Bà học giỏi, đọc nhiều, và có tiếng là làm thơ vừa thanh, vừa khoẻ, tự nhiên mà trau chuốt. Tác phẩm bà còn để lại là Diệu liên tập, in hai lần vào năm 1867 và 1883. Tập thơ này gồm 227 bài thơ viết bằng chữ Hán, cũng chủ yếu và vịnh cảnh vật, sử, cảm tác, xướng hoạ, khóc anh chị em trong triều đình ...
Nguyễn Nhược Thị Bích (còn có tên là Nguyễn Thị Bích), nguyên quán ở Ninh Thuận (tức Bình Thuận ngày nay), từng được vời vào cung và được phong chức Thượng nghi viện sự, "tài nhân", "mỹ nhân", "quý nhân", "tiệp dư" dưới thời của vua Tự Đức. Bà là người dạy học cho Kiến Phúc và Đồng Khánh (khi hai người này chưa lên ngôi vua). Bà còn tham gia biên soạn sắc dụ cho bà Từ Dũ (tức mẹ của vua Tự Đức) và bà Trang Ý (vợ vua Tự Đức). Sáng tác đáng kể và còn lưu lại đời sau của Nguyễn Nhược Thị Bích là Hành thục ca, gồm 1018 câu lục bát, chữ Nôm, nội dung kể lại các sự kiện ở triều đình Huế từ khi người Pháp vào Việt Nam.
Bà Hương Chân (sống vào thế kỉ 17), phật danh là Pháp Tính, có thể là người soạn cuốn Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, tức là Từ điển Hán Nôm đầu tiên ở nước ta. Thực ra, có bằng chứng cho thấy quyển này đã có từ đời Sĩ Nhiếp, nhưng mãi đến thế kỉ 17 mới được Pháp Tính chọn từ và sắp xếp lại cho có hệ thống như một cuốn từ điển.
Tuổi thọ
Trong số 188 tác gia có thể xác định được năm sinh và năm qua đời, tuổi thọ trung bình của 188 tác gia này là 62 tuổi. Khoảng 25% (trong số 188) tác gia có tuổi thọ dưới 50 tuổi, và 25% tác gia thọ trên 72 tuổi. Người có tuổi thọ ngắn nhất là Ngô Thì Ức, sinh năm 1709 và mất năm 1736, tức chỉ thọ 27 tuổi. Người có tuổi thọ cao nhất là Huỳnh Quỳ, sinh năm 1828 và mất năm 1926, tức thọ 98 tuổi. Huỳnh Quỳ, còn có danh hiệu là Tú Quỳ, là một nhà thơ sống vào đời vua Minh Mệnh, quê quán ở Quảng Nam, nhưng tổ tiên di cư từ Hà Tĩnh. Ông là tác gia của khoảng 300 đơn vị tác phẩm, gồm những bài văn tế và phú, và thơ vịnh thuộc loại trào lộng.
Điều tương đối thú vị là những tác gia nguyên quán ở Nghệ An, Huế, và Nam Định có tuổi thọ trung bình thấp hơn (khoảng 56-59 tuổi) những đồng nghiệp của họ thuộc các vùng khác của đất nước như Hà Nội (63 tuổi), Bắc Ninh (64), Hưng Yên (63), và Thanh Hoá (64).
Quê quán và quốc tịch
Phần lớn các tác gia có nguyên quán ngoài Bắc (166 người). Miền Trung có 75 tác gia, và miền Nam có 13 tác gia. Số còn lại không xác định được nguyên quán. Tuy đến từ nhiều vùng khác nhau trong nước, nhưng nguyên quán của phần đông các tác gia tập trung ở một số tỉnh như sau: ở miền Bắc có Hà Nội (34 người), Hải Dương (26), Bắc Ninh (25 người), Hà Tây (25), Nam Định (21), và Hưng Yên (13); ở miền Trung: Thanh Hoá (21), Nghệ An (17), Hà Tĩnh (13), và Huế (13); ở miền Nam: Gia Định (6).
Thực ra, nói là 276 "tác gia Việt Nam" cũng không hẳn chính xác, vì trong số này có 3 tác gia có quốc tịch nước ngoài: Girolarmo Majorica (1591 - 1656), Alexandre de Rhodes (1591 - 1660), và Sĩ Nhiếp (137 - 226).
Dòng họ
Trong số các tác gia, có tất cả 51 họ. Trong số này, họ Nguyễn chiếm đa số, với 80 (tức 29%) tác gia. Tiếp theo là các thường gặp phải là: Trần (19 tác gia, hay 7%), Lê (18 tác gia, hay 6.5%), Ngô (16 tác gia, hay 6%), Phạm (14 tác gia, hay 5.1%), Vũ (12 tác gia, hay 4.3%), Phan (10 tác gia, hay 3.6%), và Đặng (3.6%).
Một số tác gia xuất phát từ một dòng họ như họ Phan Huy có đến 4 người trong từ điển. Đứng đầu họ này là Phan Huy Ích (1751- 1822), con cả của Tiến sĩ Phan Huy Cận (1751 - 1822). Những người trong dòng họ Phan Huy khác là: Phan Huy Thực (1778 - 1844) và Phan Huy Chú (1782 - 1840), là hai con của Phan Huy Ích; và Phan Huy Vịnh (1800 - 1870), con của Phan Huy Thực.
Ngoài giòng họ Phan Huy, một họ khác có nhiều người nổi tiếng hơn là họ Ngô Thì. Người đứng đầu trong danh sách họ này là Ngô Thì Ức (1709 - 1736). Người thứ hai là Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780), con của Ngô Thì Ức. Ngô Thì Sĩ cũng là bố vợ của Phan Huy Ích. Người thứ ba và có lẽ là người nổi tiếng nhất trong họ này là Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803), con của Ngô Thì Sĩ. Em của Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Chí (1753 - 1788) và Ngô Thì Trí (1766 - ?) cũng là những danh sĩ nổi tiếng có tên trong Từ Điển. Ngoài ra, còn có Ngô Thì Hương (1774 - 1821) là con thứ của Ngô Thì Sĩ; Ngô Thì Du (1772 - 1840), cháu gọi Ngô Thì Sĩ bằng bác; và Ngô Thì Hiệu (1791 - 1830), không rõ quan hệ với các Ngô Thì Sĩ ra sao.
Trong các vị vua Việt Nam, có lẽ vua Minh Mệnh là người có nhiều con nhất, và họ cũng có mặt khá đông trong hàng ngũ tác gia. Trong nhóm con trai có Nguyễn Miên Thẩm (1819 - 1870, con thứ 10), Nguyễn Miên Trinh (1820 - 1897, con thứ 11), Nguyễn Miên Bửu (1820 - 1854, con thứ 12); và trong nhóm nữ, có Nguyễn Trinh Thận (con gái thứ 25) và em là Công chúa Nguyễn Tĩnh Hoà (con gái thứ 34) là những nhà thơ được chú ý.
Tất nhiên, sách không thể thiếu hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi, và hai cha con Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu Dật, cũng là những tác gia nổi tiếng trong nền văn học cổ Việt Nam. Ngoài ra, trong gia phả của Nguyễn Du, ngoài ông ra, còn có Nguyễn Nghiễm (thân phụ, 1708 - 1775) và Nguyễn Hành (cháu gọi Nguyễn Du bằng chú, 1771 - 1824).
Nghề nghiệp
Trong tổng số tác gia, có 271 người có thể xác định nghề nghiệp. Và trong số 271 tác gia này, có đến 69% (hay 187) là quan chức. Phần còn lại là: nhà sư (7% người); nhà thơ ( trên dưới 7% người); vua, chúa (5%), và một số ngành nghề khác như nhà văn, nhà khảo cứu, tướng lãnh, thầy giáo, v.v.
Trong số các tác gia mà nghề nghiệp chính là tu sĩ gồm có Đại Thừa Đăng (? - 601), Ngô Chân Lưu (933 - 1011), Nguyễn Vạn Hạnh (? - 1018), Mai Trực (999 - 1091), Lý Trường, tức Mãn Giác (1052 - 1096), Pháp Bảo (? - 1111), Nguyễn Nguyên Ức (1080 - 1151), Dương Không Lộ (? - 1119), Trần Tung, tức Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 - 1291), Đồng Kiên Cương (1284 - 1330), Thường Chiếu (? - 1203), Lý Đạo Tài (1254 - 1320), Pháp Tính (? - 1701), và Hương Hải Thiền sư (1769 - 1832).
Một số khác là linh mục như Philip Bỉnh (1759 – 1832), Alexandre de Rhodes, và Lữ Y Đoan (? – 1678). Trong nhóm sau này, ngoài tác gia nổi tiếng là Alexandre de Rhodes, hai tác gia Philip Bỉnh và Lữ Y Đoan rất ít được nhắc đến, tuy công của họ không phải là nhỏ. Linh mục Philip Bỉnh (không rõ họ), nguyên quán Hải Dương, theo dòng Tên, và khi dòng này bị Toà thánh La Mã bỏ rơi, ông đã bỏ sang sống ở Bồ Đào Nha và sau này chết ở đó. Về văn học, có thể nói Philip Bỉnh là tác gia đầu tiên để lại tác phẩm bằng chữ Quốc Ngữ. Ông là người viết cuốn Sách sổ sang chép các việc, Chuyện Anam Đàng Ngoài, và Chuyện Anam Đàng Trong. Lữ Y Đoan (không rõ họ), còn có tên là Louis Đoan, người quê Quảng Ngãi, thụ phong linh mục năm 1676, lúc đã ngoài 60 tuổi. Ông là tác giả của Sấm truyền ca (1670), một tập thơ lục bát viết bằng chữ Nôm, nhưng là một phóng tác 5 quyển đầu của Kinh Thánh.
Trong số 13 tác gia có gốc vua, chúa, có đến 6 người thuộc nhà Trần: Trần Thái Tông (1218 - 1277), Trần Thánh Tông (1240 - 1290), Trần Nhân Tông (1258 - 1308), Trần Anh Tông (1276 - 1320), Trần Minh Tông (1300 - 1357), và Trần Nghệ Tông (1321 - 1395). Đời Nhà Lý có hai vị vua là tác gia: Lý Thái Tổ (974 - 1028) và Lý Nhân Tông (1066 - 1128). Phần còn lại là các vị thuộc nhà Lê, nhà Nguyễn, và Chúa Trịnh: Lê Thánh Tông (1442 - 1497), Nguyễn Hồng Nhậm hay Tự Đức (1829 - 1883), Trịnh Doanh (1720 - 1767), và Trịnh Sâm (1737 - 1782).
Trong số các tướng lãnh kiêm tác gia gồm có: Lý Thường Kiệt (1019-1105), Trần Quốc Tuấn (1232 - 1300), Trần Quang Khải (1241 - 1291), Phạm Ngũ Lão (1256 - 1320), Nguyễn Hữu Dật (1604 - 1681), và Nguyễn Hữu Hào (1647 - 1718). Trong danh sách này, có lẽ hai người sau được ít người biết đến. Nguyễn Hữu Hào là con của Nguyễn Hữu Dật, người làng Gia Miêu, huyện Tăng Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Cả hai cha con đều là võ tướng Đàng Trong của chúa Nguyễn, và từng đánh thắng quân Trịnh nhiều lần. Về sáng tác, Nguyễn Hữu Hào viết nhiều hơn cha. Tác phẩm của Nguyễn Hữu Hào còn lưu lại [và chỉ tình cờ được phát hiện đầu thế kỉ 20] là truyện thơ nôm Song tinh truyện. Thực ra, đây chỉ là một bản diễn Nôm của truyện Định tình nhân của một tác giả người Trung Hoa. Điểm đáng chú ý của Song tin truyện là những diễn tả hồn nhiên về mối quan hệt thầm kín trong đời sống vợ chồng, một điều được xem là cấm kỵ thời đó. Nó cũng là một chứng tích về sự phát triển của văn học ở Đàng Trong.
Trong số các tác gia được xếp vào nhóm "Nhà thơ" và "Nhà văn", phần lớn là các nhà thơ (19 người), và chỉ có 4 người có thể cho là nhà văn. Trong nhóm nhà thơ "chuyên nghiệp" gồm có (xếp theo niên đại): Lê Cảnh Tuân (? – 1416), Lê Đức Mao (1462 – 1529), Ngô Chi Lan (thế kỉ 15), Ngô Thì Ức (1709 – 1736), Ngô Thế Lân (1726 - ?), Hồ Xuân Hương (? - 1801), Nguyễn Hành (1771 – 1824), Phạm Thái (1777 – 1813), Nguyễn Huy Hổ (1783 – 1841), Nguyễn Miên Thẩm (1819 – 1870), Nguyễn Miên Bửu (1820 – 1854), Nguyễn Miên Trinh (1820 – 1897), Huỳnh Quỳ (1828 – 1926), Nguyễn Văn Lạc (1842 – 1915), Trần Cao Vân (1866 – 1916), Trần Tế Xương (1870 – 1907), Nguyễn Hàng (thế kỉ 16), Bà Huyện Thanh Quan (tức Nguyễn Thị Hinh), và Vũ Quốc Trân (thế kỉ 19). Những người được liệt kê là nhà văn gồm có: Trần Thế Pháp (thế kỉ 14), Linh mục Lữ Y Đoan (? - 1678), Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898), và Nguyễn Văn Cẩm (tức Kỳ Đồng, 1875 - 1926). Cần phải nói thêm rằng, như thấy trong danh sách này, do không xác định được chính xác năm sinh và nghề nghiệp chính, nên có thể một số người không sống bằng nghề chính là văn chương, mà có thể là quan chức hay hưởng bổng lộc triều đình (nếu là người thuộc hoàng tộc). Có thể nói trong danh sách này, không một ai sống bằng nghề chữ nghĩa cả.
Tác phẩm
Trong suốt từ năm 1101 đến cuối thế kỉ 19, các tác gia Việt Nam đã sáng tác hay biên soạn được 132 tác phẩm [5]. Tuy nhiên, chỉ riêng thế kỉ 19, có đến 68 tác phẩm (tức 51%); trước đó, số lượng rất khiêm tốn, như thế kỉ 18 có 22 tác phẩm, thế kỉ 16 và 17 có 14 tác phẩm, và phần còn lại (28 tác phẩm) trong suốt từ thế kỉ 12 đến thế kỉ 15.
Trong số 132 tác phẩm này, có 63 (hay 48%) được viết bằng chữ Hán, phần còn lại là chữ Nôm (62 tác phẩm, hay khoảng 47%) và Quốc ngữ (7 tác phẩm, hay 5.3%). Phần lớn tác phẩm viết bằng chữ Nôm chỉ xuất hiện khá nhiều kể từ thế kỉ 16 trở đi. Chẳng hạn như trong thời gian hai thế kỉ 16 và 17, có 14 tác phẩm (tức 64%), nhưng 9 được viết bằng chữ Nôm; tỷ lệ này giảm xuống còn 41% trong thế kỉ 18, nhưng tăng lên 63% trong thế kỉ 19.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng văn học chữ Nôm đã xuất hiện từ thế kỉ 13 hoặc sớm hơn nữa. Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An … là những tác gia dùng chữ Nôm đầu tiên, nhưng sáng tác tác của họ không còn lại bao nhiêu. Tác phẩm chữ Nôm xưa nhất của Việt Nam còn tồn tại cho đến ngày nay là Quốc Âm Thi Tập (1442, đời Lê) của Nguyễn Trãi. Tác phẩm này gồm có 254 bài thơ, trong đó có những câu thơ 6 chữ xen lẫn 7 chữ khá phổ biến. Cũng trong thế kỉ 15, Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập là một thi phẩm khác còn tồn tại cho đến ngày nay. Thi phẩm này do vua Lê Thánh Tông và một số quan văn biên soạn. Sách gồm có 283 bài thơ, phần lớn được viết theo thể 7 và 8 chữ (thất ngôn bát cú), vịnh cảnh Tàu và Việt Nam, và ca ngợi triều đình.
Về các sáng tác bằng chữ Quốc Ngữ, trong thế kỉ 17, chỉ có một tác phẩm duy nhất, Phép giảng tám ngày (1651). Trong khi thế kỉ 18 vắng bóng tác phẩm Quốc Ngữ, thế kỉ 19 là giai đoạn "cực thịnh", với 6 tác phẩm được viết bằng chữ Quốc Ngữ: Sách sổ sang chép các việc (1822), Chuyện nước An Nam Đàng Ngoài chí Đàng Trong (1822), Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi 1876 (1881), Thầy Larazo Phiền (1887), và Đại Nam quốc âm tự vị (1895-1896). Trong phần này còn phải kể đến tờ báo Gia Định báo (1865 – 1909) và tạp chí Thông loại khoá trình (1888-1889), có ảnh hưởng lớn đến văn chương chữ Quốc ngữ trong thế kỉ 19, nhất là nhất là tờ Gia Định báo. Cả hai ấn phẩm đều do Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) khởi xướng và làm chủ bút, riêng Gia Định báo cóthời do Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Một vài nhận xét
Đi tìm nguồn gốc tác phẩm và tiểu sử tác gia là một việc làm khó khăn, đòi hỏi người biên soạn phải am tường lịch sử và có sự hiểu biết sâu sắc về văn học. Để soạn cuốn TĐVHVN, soạn giả đã tham khảo các nguồn tài liệu chính như sách Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn; Văn tịch chú, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm; các tác phẩm nghiên cứu của Trần Văn Giáp, Đỗ Đức Hiểu, Trần Nghĩa; và các tạp chí nghiên cứu văn học, văn hoá, Hán nôm ... ở trong nước từ năm 1960 đến 1997. Qua cách viết và trình bày trong Từ điển, tôi cảm thấy soạn giả là những người cẩn thận và có một sự dè dặt cố hữu của người làm khoa học.
Phải nói ngay rằng cuốn Từ điển Văn học này không phải là một công trình hệ thống tất cả các tác gia và tác phẩm trước thế kỉ 20; nó chỉ là một tác phẩm mang tính giáo khoa (được ấn hành bởi Nhà xuất bản Giáo dục), mà đối tượng chủ yếu là sinh viên và học sinh. Vì thế, những tác gia và tác phẩm của họ được trình bày trong Từ điển này là kết quả của một sự lựa chọn có hệ thống, tức là soạn giả chỉ chọn những tác gia quen thuộc nhất mà thôi. Thực vậy, qua trao đổi cá nhân, nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc có cho tôi biết nếu căn cứ vào cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ 10 đến giữa thế kỉ 18 của tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, và Mai Cao Chương (Nhà xuất bản Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978), chỉ riêng đời Nhà Lý (thế kỉ 11) đã có hơn 40 nhà sư làm thơ; đời Nhà Trần và Hồ (thế kỉ 13-14), có hơn 60 tác giả ... Ngoài ra, theo cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập I, do Trần Văn Giáp chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971), tổng cộng từ thế kỉ 11 đến cuối thế kỉ 19, có đến 735 tác gia sáng tác bằng chữ Hán và Nôm.
Tuy nhiên, dù các thông tin và dữ kiện trong TĐVHVN chưa đầy đủ, và có thể là chưa hoàn hảo, nhưng chúng cũng có thể cung cấp một bức tranh tổng quát về số lượng tác gia và tác phẩm thời trước thế kỉ 20 ở Việt Nam, nhất là những con số tương đối.
Nhưng dù không đầy đủ, một điều mà ai cũng có thể ghi nhận là số lượng tác gia Việt Nam, dù là 1000 người đi nữa, trong suốt 2000 năm lập quốc là một con số rất khiêm tốn. Thực ra, số lượng tác gia chỉ đông đảo kể từ thế kỉ 16 trở đi, chiếm khoảng 60% trong tổng số. Trong số này, phần đông là quan chức, vua chúa, tướng lãnh, và nhà sư . Ngay cả một số ít tuy mang danh hiệu là "Nhà thơ", nhưng trong thực tế chưa chắc là những người sống bằng nghề làm thơ, mà có thể là những quan chức hay ẩn sĩ. Chẳng hạn như ba anh em Nguyễn Miên Thẩm, Nguyễn Miên Trinh, và Nguyễn Miên Bửu, tuy danh hiệu là Nhà thơ, nhưng họ sống vì bổng lộc của triều đình, không phải bằng chữ nghĩa. Ngay cả Trương Vĩnh Ký, có lẽ là một người tận tụy nhất với chữ nghĩa thời thế kỉ 19, nhưng trước khi dấn thân vào viết sách báo, ông cũng từng làm thông ngôn, dạy học, và làm quan để sống.
Một lực lượng làm nghề văn chương bán chuyên nghiệp như thế có thể giải thích con số khiêm tốn về số lượng tác phẩm (132) của Việt Nam trong thời trước thế kỉ 20. Tính trung bình, mỗi thế kỉ cả nước chỉ có khoảng 7 tác phẩm. Và nếu tính theo số lượng cho mỗi tác gia, có thể nói năng suất còn quá thấp! "Năng suất" sáng tác cũng rất thấp. Suốt từ thế kỉ 12 đến 18, cứ 10 tác gia, Việt Nam có khoảng 3 tác phẩm. Tuy nhiên, đến thế kỉ 19, Việt Nam 78 tác gia và sáng tác được 68 tác phẩm đủ loại; tức là, năng suất có phần tiến bộ hơn các thế kỉ trước đó.
Nhìn qua nội dung các tác phẩm văn chương trong các thế kỉ trước, có thể nói là phần lớn những sáng tác chỉ nhắm vào ca ngợi thiên nhiên, quê hương, tình yêu, đạo đức làm người, tạp ghi, trào phúng, v.v. chứ chưa có những tác phẩm nào mang tính khai phá, hay đề xuất một tư tưởng mới. Về thể loại, phần lớn những sáng tác là thơ, rất ít sáng tác văn xuôi. Và phần lớn những sáng tác này cũng rất ngắn. Chưa có một tác phẩm nào của Việt Nam thời trước thế kỉ 20 với hàng chục ngàn câu thơ, mà phần đông chỉ là những bài thơ trung bình độ năm chục chữ. Tiểu thuyết trong thế kỉ 19 cũng chỉ gói gọn trong khoảng hai hay ba trăm trang.
Ngoài ra, mức độ lưu truyền các tác phẩm thời trước thế kỉ 20 chắc chắn là rất hạn chế, bởi vì số người biết đọc chữ Hán hay Nôm lúc đó chắc không nhiều. Chưa ai làm thống kê để biết có bao người biết đọc và viết chữ Hán hay Nôm thời đó, nhưng dựa vào khuynh hướng số người biết đọc và viết trong những năm đầu thế kỉ 20, có thể nói con số người thạo chữ Hán hay Nôm trước thế kỉ 20 chỉ khoảng 5% [6]. Vì thế, có thể nói rằng phần lớn những tác phẩm thời trước chỉ lưu truyền trong giới biết chữ. Những số liệu này cũng xác nhận những nhận xét của Nguyễn Hưng Quốc [7] rằng thời trước thế kỉ 20, văn học Việt Nam chủ yếu là một nền văn học tài tử.
Đại đa số các tác gia là nam giới, và điều này chắc cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì, vào các thế kỉ trước, nam giới được xã hội ưu tiên và do đó có cơ hội phát triển tài năng. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng ngay từ thế kỉ 12 và 13, nữ giới đã có mặt trên văn đàn Việt Nam qua sự đóng góp của Lê Thị Ỷ Lan và Ngô Chi Lan. Tất nhiên, trong các thế kỉ sau này, không thể nào không kể đến những Lê Ngọc Hân, Hồ Xuân Hương, và Bà Huyện Thanh Quan.
Những số liệu tác gia trong bài này còn cho thấy một số định kiến người ta thường hay nghĩ có thể không chính xác. Chẳng hạn như Hà Nội thường được xem là thủ đô của ngàn năm văn vật, nhưng nếu tính theo số lượng các tác gia thì sự xưng tụng này không hẳn đúng. Thật vậy, chí tính trong số 276 tác gia trong Từ điển, chỉ có 12% là nguyên quán ở Hà Nội, thấp hơn con số của vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh (Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh) cộng lại. Nam Định cũng từng nổi tiếng là một vùng đất của văn học, nhưng trong thực tế, số lượng tác gia từ Nam Định còn thấp hơn các vùng đất khác như Hải Dương, Bắc Ninh, và Hà Tây.
Tuổi thọ trung bình của dân số Tây Âu vào các thế kỉ 12 đến 17 thường dưới 50 tuổi, thậm chí dưới 40 tuổi [8]. Tuy nhiên phần đông các tác gia Việt Nam thời trước thế kỉ 20 có tuổi thọ khá cao (trung bình 62 tuổi). Ngay từ thế kỉ 10 và 11, tuổi thọ trung bình của các tác gia là 72 tuổi! Điều này cho thấy các tác gia Việt Nam thời trước thuộc thành phần trung lưu và có thể hưởng nhiều đặc ân trong xã hội thời đó.
Tóm lại, trong suốt 2000 năm hiện diện cùng thế giới, Việt Nam có một lực lượng tác gia rất khiêm tốn. Trong số này, phần lớn là quan chức nam giới, thuộc giai cấp trung lưu, và quan trọng hơn, nghề nghiệp chính của họ không phải là hoạt động văn học. Những yếu tố này có lẽ là một lời giải thích về số lượng sáng tác rất nhỏ và phẩm chất cũng không mấy cao trong các thế kỉ trước. Cho nên, có thể nói rằng nền văn học Việt Nam trước thế kỉ 20 là một nền văn học vừa nghèo nàn, vừa mang tính nghiệp dư.
N.V.T 
Chú thích và tài liệu tham khảo:
1. Tạp san Việt, số 6, năm 2000.
2. Từ điển Văn học Việt Nam, do Lại Nguyên Ân biên soạn, có sự cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường. Hà Nội: Nhà Xuất bản Giáo dục, 1999. Sách gồm 800 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm.
3. Cũng như hầu hết các phân tích định lượng, trước hết tất cả các tác gia và các thông tin liên quan đến giới tính, quê quán, năm sinh và năm qua đời được đưa vào máy vi tính. Việc làm này (data entry) được kiểm tra một cách cẩn thận. 
4. "Tác gia" ở đây là cụm từ dùng để chỉ những người viết văn, thơ, hay tác phẩm nghệ thuật.
5. "Tác phẩm" ở đây chỉ kể những công trình sáng tác được in ấn thành tập. Do đó, số lượng tác phẩm dùng để phân tích trong bài viết này không kể đến những bài thơ rải rác, dù còn lưu lại và biết đến sau này. Chẳng hạn như bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, hay những bài thơ tương tự của nhiều tác gia khác không kể đến như là những đơn vị tính toán trong bài phân tích này. Những tác tác phẩm của sáng tác dân gian như An Dương Vương, Cây khế, Chàng Lía, Chu Mãi Thần, Đam Săn, Đẻ đất đẻ nước, Kim Nham, Liễu Hạnh, Ông Giống, Man Nương, Sọ Dừa, Sơn Tinh Thủy Tinh, Tấm Cám, Trạng Quỳnh, Trầu Cau, và Tuần Ty Đào Quế cũng không dùng trong bảng thống kê.
6. Xem bài "Một nền văn học nghiệp dư" in trong cuốn Văn Học Việt Nam, Từ Điểm Nhìn H(ậu H)iện Đại của Nguyễn Hưng Quốc, nxb Văn Nghệ, California, 2001, tr. 323-344.
7. Xem bài “Văn học trong một nước mù chữ” của Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 267-284. 
8. Theo Clinics in Geriatric Medicine, số đặc biệt về tuổi thọ và quá trình lão hoá (Aging process), số 1, năm 1985, trang 15-29.


Nguồn: FB Nguyen Tuan

-->đọc tiếp...