Blogger Widgets
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Kiến Giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Kiến Giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

THẾ ĐẢNG, NHÌN QUA NHỮNG ĐÁM TANG

Thế đảng, nhìn qua những đám tang 
J.B Nguyễn Hữu Vinh 
 Theo  nguyenhuuvinh's blog 
.
Có những nhân vật lịch sử gắn liền với một giai đoạn lịch sử. Họ hoặc là những người góp phần làm nên, hoặc là nạn nhân, hoặc nhiều khi là người chứng kiến giai đoạn lịch sử đó. Có những con người, vừa kết hợp cả ba vai trò nói trên. 

Sẽ là oai hùng, vinh hoa cho những người làm nên và hưởng thành quả và cũng sẽ là đau đớn cho các nạn nhân của từng giai đoạn lịch sử. Đặc biệt, giai đoạn lịch sử Việt Nam thời Cộng sản, lịch sử sẽ ghi lại nhiều câu chuyện hiếm có. Ở đó có nhiều nhân vật, nhiều con người đã từng là những trụ cột làm nên triều đại Cộng sản, rồi chính họ trở thành nạn nhân của chế độ đó cho đến khi lìa đời. 

Thậm chí, thông thường, lẽ đời thì chết là hết, song với chế độ Cộng sản, chết chưa phải là kết thúc. Tôi đã được đọc, nghe nói nhiều về những nhân vật như vậy, song gặp gỡ chưa được bao nhiêu. 

Thật may mắn cho thời đại ngày nay, khi internet đã lan tràn mọi ngõ ngách, xóm làng thì các thông tin dù bưng bít kỹ đến đâu cũng không thể tuyệt đối. Và do đó, tôi có dịp hiểu nhiều hơn về những số phận, những con người trong chế độ này. Có thể không phải khi họ đang sống, mà khi họ đã lìa đời.

Từ tiếng vỗ tay trong đám tang cụ Trần Độ

Hơn 11 năm trước, khi Internet chưa phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam như hôm nay, tôi đọc được bài viết về một đám tang lạ, đám tang Trung Tướng Trần Độ vào ngày 14-8-2002. 

Đám tang Trung tướng Trần Độ Đám tang Trung tướng Trần Độ 

Ở đám tang đó có nhiều điều lạ. Đó là đám tang không được có chữ “Vô cùng thương tiếc”, không có chữ “Trung Tướng” là quân hàm ông Trần Độ đã được phong tặng sau khi góp công sức, xương máu cho Đảng bao nhiêu năm, không được tự do đến viếng, chia buồn hay đưa tiễn. Ở đó, có bản cáo trạng đọc trong lễ truy điệu kể lể những “tội” của người đã chết… Hẳn nhiên, đám tang đó vẫn được tiến hành trong sự quan sát, kiềm tỏa của lực lượng an ninh, công an. Nhưng, chi tiết cả đám tang đông đúc đồng loạt vỗ tay, khi người nhà cụ Trần Độ đã khảng khái khước từ bản “điếu văn kể tội” trước vong linh người đã mất do Vũ Mão thực hiện đã có tiếng vang rất xa và tiếng vọng rất lớn. 

Và cụ Trần Độ cũng đã về với đất mẹ 11 năm qua, thời gian càng qua đi, thì những nội dung câu chuyện trên càng được chứng minh là hiện thực. Cụ đã về với đất mẹ, nhưng dư âm đám tang của cụ thì còn mãi với dân tộc Việt Nam như một điển hình của một thời khắc lịch sử đau thương của đất nước: Thời đại Cộng sản.

Ở thời đại đó, người ta không chỉ đểu với nhau khi sống, ác độc với nhau khi là đồng chí, hãm hại nhau khi là anh em mà ngay cả khi đã biến thành ma, đã về với cát bụi. Quả là mẫu hình của sự thù hận của con người được phát huy triệt để.

Tất cả tội ác, sự đểu cáng, sự táng tận lương tâm đó được giải thích là do “lệnh trên”, kể cả gần đây, Vũ Mão đã có thư phân trần về bản điếu văn là do “lệnh trên” chứ ông ta không muốn thế, ông ta đã đề nghị thay đổi nhưng “lệnh trên” là để nguyên.

Lệnh trên là cái gì? Là những tội ác được ngang nhiên thực hiện, bất chấp các nguyên tắc pháp luật, lương tâm, đạo đức làm người… trong những thời điểm nhất định.

Trên là ai? Thì đã bao năm nay, kể từ những cuộc thanh trừng trắng trợn trong Cải Cách ruộng đất, rồi Nhân văn giai phẩm, Cải tạo tư sản, cải tạo tù binh Việt Nam Cộng hòa, các sai lầm nặng nề về kinh tế, ngoại giao và nội trị đầy những sai lầm, tội ác, tham nhũng, phá hoại… Nhưng chẳng ai dám chỉ mặt, vạch tên nó ra cho thiên hạ biết mặt mũi cái “Trên” nó là cái gì mà gớm ghiếc, bất nhân, bất nghĩa đến vậy.

Những chiếc camera và cảnh sát, an ninh ở đám tang cụ Hoàng Minh Chính 

Viếng cụ Hoàng Minh Chính

Cụ Hoàng Minh Chính, một cựu quan chức công thần Cộng sản, đã từng là Chủ nhiệm Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, Tổng thư ký Đảng Dân Chủ Việt Nam. Chính cụ cũng là người tuyên bố phục hoạt Đảng Dân Chủ Việt Nam thế kỷ 21. Mùa rét mướt năm 2008 đã ra đi sau một thời gian dài chịu khá nhiều sự khủng bố trắng trợn và cay đắng. 

Tối 15/2/2008, chúng tôi đến nhà lạnh của Bệnh viện Thanh Nhàn vì có một cụ già người thân chết và được đưa vào đó. Khi vào đó, tôi nhận ra bức di ảnh cụ Hoàng Minh Chính trên bàn thờ. Chúng tôi thắp cho cụ nén hương lên đó để tiễn biệt một con người đã nghe đến nhiều nhưng chưa lần nào gặp mặt thì cụ đã ra đi, khi gặp nhau lại là nơi lạnh lẽo này.

Bước ra khỏi nhà xác, dù trời đã khá khuya, chúng tôi vẫn rất ngạc nhiên mà một đội quân cứ lầm lũi bắc thang, rải dây và gắn các thiết bị lên nhà tang lễ Thanh Nhàn. Chúng tôi chú ý mới biết họ chuẩn bị cho đám tang ngày mai của ông Hoàng Minh Chính. 

 
Ngày 16/2/2008, lễ tang cụ Hoàng Minh Chính được tổ chức tại nhà tang lễ bệnh viện Thanh Nhàn sau khi có những cuộc giằng co giữa gia đình và nhà nước. Nhưng gia đình đã quyết định giành chủ động việc tự tổ chức lễ tang. Khi chúng tôi đến, đông đúc lực lượng công an, an ninh với đủ loại sắc phục… đã tề tựu đông đủ và có phần hùng hậu, lạnh lùng. Ngoài hệ thống camera bí mật mà tôi đã thấy tối qua, các Cameraman hùng hậu cầm máy quay chĩa vào mặt nhiều người hăm dọa, hùng hổ. Một vài nhân vật từ xa xôi đến dự lễ tang bị đã bị một vài người gây sự tạo nên vài việc lộn xộn nho nhỏ. Nhưng, nói chung không đến mức căng thẳng và có sự can thiệp tàn bạo như đám tang cụ Trần Độ mà tôi đã được nghe.

Khung cảnh đám tang cụ Hoàng Minh Chính

Đám tang cụ Hoàng Minh Chính chỉ cách đám tang cụ Trần Độ hơn 5 năm, nhưng có nhiều khác biệt. Trong đám tang, tôi nhận ra nhiều người tranh đấu cho dân chủ, nhiều trí thức, nhân sĩ và nhiều người kính trọng cụ đến tiễn biệt người đã khuất. Tuy nhiên họ đến, họ tiễn biệt cụ và ra về âm thầm.

Đến đám tang ông Nguyễn Kiến Giang

Ông Nguyễn Kiến Giang, tên thật là Nguyễn Thanh Huyên, ra đi khi 83 tuổi. Cuộc đời ông là cuộc đời sớm tham gia mặt trận Việt Minh và khi 14 tuổi đã là đảng viên Cộng sản. Là một người theo đảng từ tấm bé, lớn lên nhiệt thành, thông minh và năng lực tràn đầy, để rồi ông trở thành nạn nhân của Đảng chính vì sự thông minh, can đảm của mình. Cuộc đời ông cũng như bao nạn nhân khác trong nhà nước Cộng sản, ông được “tặng” 6 năm tù không án và một số năm quản chế sau đó.
 
Cuộc đời bị cầm tù, bị quản chế về thể xác, bị ngược đãi trả cho công lao của ông, nhưng ông đã chứng tỏ ý chí của mình và được nhiều người kính phục. Ngày 2/12/2013, ông từ biệt thế giới này. Chúng tôi đến đám tang của ông vào chiều ngày 4/12/2013 tại nhà tang lễ Phùng Hưng. 

 
Khi chúng tôi đến, nhà tang lễ Phùng Hưng đang chật cứng người trong ngoài đến viếng ông. Không chỉ các cơ quan nhà nước, mà các bạn bè, nhân sĩ, trí thức đều đến viếng ông với lòng kính cẩn và ngưỡng mộ. Không chỉ những người đang phấn đấu cho nước nhà có nền dân chủ thật sự, mà ngay cả cơ quan công an, những người đã trực tiếp và gián tiếp tạo nên những đau đớn của cuộc đời ông, cũng đến viếng ông. 

Chứng kiến cảnh từng đoàn người đông đúc vào viếng một người đã từng có thời là “tên phản động của đảng” chúng ta mới thấy thực sự tầm vóc của ông ra sao.

Nếu như, trước đó không lâu, cả đất nước đã lên đồng trong một đám tang một thần tượng được bắt nguồn và là sản phẩm của truyền thông Cộng sản. Đám người trong cơn lên đồng đó do sự kích động của tuyên truyền, của truyền thông một chiều, thì đoàn người ở đây đến viếng ông với những nhịp đập của chính trái tim mình và bằng lý trí cảm phục nhân cách một con người đã từng là nạn nhân nhưng anh dũng, kiên cường vượt lên mọi gian lao, trở ngại để giữ vững khí tiết của mình.

Vị thế của đảng

Nếu như với cụ Trần Độ, thì ông Vũ Mão đương chức ở quốc hội làm Trưởng ban lễ tang, để rồi có bài “điếu văn kết án bất hủ”, thì ở đám tang cụ Hoàng Minh Chính, gia đình đã kiên quyết giành thế chủ động đế tổ chức. Và đến đám tang ông Nguyễn Kiến Giang, thì chuyện gia đình tổ chức lễ tang, truy điệu hẳn nhiên là vậy không cần bàn cãi mà đảng không thể thò bàn tay vào điều khiển theo ý của mình.

Đoàn đại diện Diễn Đàn Xã hội Dân sự viếng ông Nguyễn Kiến Giang

Nếu như ở đám tang cụ Trần Độ, lực lượng công an, an ninh ngang nhiên chặn, xét, cắt, xé băng rôn, ngay cả chữ “Vô cùng thương tiếc” có sẵn trong tường nhà tang lễ cũng bị gỡ đi, trên các băng tang bị cắt đi để thể hiện đến mức cao nhất sự hèn hạ, bủn xỉn đến độc ác của đảng đối với đồng đội và ân nhân mình, thì ở đám tang cụ Hoàng Minh Chính, điều đó chỉ là vài vụ lộn xộn nho nhỏ và nhanh chóng được giải tỏa. Và đến đám tang ông Nguyễn Kiến Giang, mọi sự diễn ra bình thường trong sự tiếc thương kính phục của bạn bè, anh em. 

Nếu như ở đám tang cụ Trần Độ, những người đến viếng là những lão thành, những người từng có công với đảng, với chế độ nên có thể hiện diện mà khộng ngại va chạm, không sợ bị dòm ngó dọa dẫm… Thì ở đám tang cụ Hoàng Minh Chính, lực lượng anh em trẻ, những người đấu tranh cho nền dân chủ nước nhà đã có mặt, dù không rầm rộ. Rồi đến đám tang ông Nguyễn Kiến Giang, đầy đủ mọi thành phần đến tiên đưa ông mà không hề e ngại những cặp mắt, cái nhìn dòm ngó, không có những chiếc camera gí vào mặt người khác dọa dẫm hung hăng.

Thậm chí, đoàn đại diện của Cục An ninh chính trị nội bộ A83 – Bộ Công an cũng đến viếng ông Nguyễn Kiến Giang. Khi nhìn thấy đoàn người này vào viếng, một vài người tỏ ý ngạc nhiên: “Lẽ nào, bây giờ lại có chuyện con sói thương tiếc cụ thỏ?” Một người giải thích: “Theo các nhà khoa học, con cá sấu sau khi ăn xong con mồi vẫn có nhu cầu thải các chất muối trong cơ thể nó vừa hấp thụ qua hai lỗ trên hốc mắt và người ta cứ tưởng là nước mắt của cá sấu”.
 
Những thay đổi đó, chắc hẳn không phải vì “đảng ta” đã thay đổi thái độ đối với các “nguyên đồng chí” của mình. Với bản chất bạo lực đấu tranhh giai cấp, điều đó vẫn chỉ là câu chuyện huyễn hoặc. 

Thực tế thì vẫn chưa có thay đổi kể cả trong nhận thức của “Trên”. Song điều kiện ngày nay, khi mọi thông tin đều gần như không thể giấu kín, mọi hành động bạo tàn, nhẫn tâm và bất chấp đạo đức, luật pháp càng không thể dễ dàng giấu kín. Do vậy, những bàn tay hành động cũng phải rón rén hơn. 

Vào thời điểm đám tang cụ Trần Độ, nhiều người vẫn còn nghi ngờ rằng: Có lẽ nào một người có công lao to lớn như thế với đảng mà đảng để đàn em đối xử tệ bạc đến vậy? Chắc chỉ là bọn phản động thù địch bịa ra mà thôi. Còn nếu không do thù địch gây ra, thì hẳn nhiên là ông Trần Độ đã gây ra tội trạng nặng nề và xứng đáng bị như vậy, việc công an vây đám tang gây sự là hiển nhiên. Bởi lúc bấy giờ vị thế của đảng trong lòng dân còn chút gì đó là sự hăm dọa, hãi hùng, là bí hiểm bởi những thông tin thực chưa hề đến với dân chúng, dư âm món bánh vẽ còn đâu đó trong cuộc sống hàng ngày.

Thế rồi, qua đám tang cụ Hoàng Minh Chính đến đám tang ông Nguyễn Kiến Giang hôm nay, sự chủ động của gia đình, anh em bạn bè cũng như những người khát khao sự công chính, sự tiến bộ cho đất nước, cho dân tộc đã có thể bước đàng hoàng, vượt qua sự sợ hãi vô lý.

Cũng trong quá trình 11 năm giữa hai đám tang, “đảng ta” từ một tổ chức tự nhận là “đạo đức, văn minh, lương tâm thời đại” chuyển thành nơi chứa “một bầy sâu”. 

Cho đến hôm nay, thì ngay cả Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải thừa nhận: “Tham nhũng đã thành đường dây có tổ chức”.

Như vậy, có thể nói, đã thành một quy luật: Khi đảng càng suy yếu, thế đảng càng xuống dốc, thì những hành động độc ác càng bị hạn chế và xã hội ngày càng dễ thở hơn. 

Liên tiếp mấy hôm nay thông tin về việc các đảng viên công khai từ bỏ đảng Cộng sản đã làm nóng cộng đồng mạng xã hội. 

Như vậy là vẫn có những con người dù đã là đảng viên, vẫn còn lòng tự trọng và sự tỉnh táo cần thiết.

Và, người ta có quyền mơ đến một ngày người dân giành lấy quyền làm người tối thiểu của mình đã bị cướp đoạt hơn nửa thế kỷ qua.

Hà Nội, ngày 7/12/2013
Đăng lại từ Quê Choa
-->đọc tiếp...

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

NHÂN SĨ TRÍ THỨC TIỄN BIỆT HỌC GIẢ NGUYỄN KIẾN GIANG VỀ CÕI VĨNH HẰNG

Thành kính phân ưu cùng gia đình nhà văn hóa

tài danh Nguyễn Kiến Giang

.



Được tin học giả NGUYỄN KIẾN GIANG vừa tạ thế sáng 2-12-2013, thọ 83 tuổi, hết thảy trí thức ưu tư trước thời cuộc khắp từ Bắc đến Nam đều choáng váng, đau buồn.

Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Sự thật, trải qua một khóa học cao cấp không trọn vẹn ở Liên Xô, Ông Nguyễn Kiến Giang có trong mình một học vấn toàn diện, cả triết học phương Tây lẫn triết học Mác xít, lại được thụ hưởng từ trong gia đình cũng như trong nhà trường Pháp Việt vốn liếng thâm hậu của cả hai nền văn hóa Tây và Đông. Nhưng cũng như một số ít con người thuộc tầng lớp tinh hoa thức thời đi theo cách mạng từ sớm và về sau đã phản tỉnh, bấy nhiêu kiến thức trang bị hệ thống đó lọc qua đầu óc tư duy sắc bén của Ông đã giúp Ông phân tích thực tế thời cuộc nhanh nhạy và có tầm nhìn vượt lên trước rất xa, từ gần năm thập niên trước đã đoạn tuyệt với học thuyết CNXH giáo điều, đề xuất những kiến giải sáng suốt về một con đường xã hội dân chủ như là cái đích phải tới của những người mác xít chân chính.

Tuy chỉ là một học giả xây dựng lý thuyết bằng trí tuệ cộng với tâm cảm chân thành chứ không hành động, nhưng trước sau Ông đã phải trả giá đắt cho những phát kiến tài năng của mình. Mặc dù thế, sự suy nghĩ độc sáng của Ông đã xuyên qua nhiều lớp sương mù và thấm đến tầng lớp trí thức, lay động dần đầu óc họ, ở cái thuở chân lý tưởng chừng như chưa có gì phải phân vân bàn cãi. Chứng bệnh nan y mắc phải sau thời gian ra tù buộc Ông lùi vào bóng tối nhiều năm, song các công trình, tiểu luận sáng giá của ông cũng như hình ảnh hào sảng của Ông trong những buổi thuyết trình hẹp ở các viện nghiên cứu và trường đại học vẫn lồng lộng trong nhiều tâm trí, khiến người đã một lần nghe Ông, đọc Ông đều phải kính nể, mặt khác có sức kích thích, vẫy gọi người ta tìm tòi, suy ngẫm, không được phép tin vào những “khuôn vàng thước ngọc” bất di bất dịch từ bao giờ đã đóng đinh vào đầu óc mình.

Ông là người cuối cùng của một thế hệ lý thuyết gia tài năng và tỉnh táo đã ra đi. Một khoảng trống rất lớn cho người ở lại. Xin được bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn đến gia đình Ông, và cầu chúc hương hồn Ông thảnh thơi nơi Cực Lạc.

Bauxite Việt Nam 
CÙNG CÁC BẠN BÈ CHIẾN HỮU, 
NGƯỜI HÂM MỘ ĐỒNG KÝ TÊN KÍNH VIẾNG:
1. Trần Đĩnh
2. Phan Thế Vấn
3. Hoàng Hưng
4. Lê Phú Khải
5. Dương Tường
6. Phạm Toàn
7. Nguyễn Xuân Khánh
8. Nguyên Ngọc
9. Hà Sĩ Phu
10. Bùi Minh Quốc
11. Tống Văn Công
12. Chu Hảo
13. Nguyễn Ngọc Giao
14. Lưu Trọng Văn
15. Phạm Xuân Nguyên
16. Đặng Thị Hảo
17. Nguyễn Quang A
18. Trần Tiến Đức
19. Nguyễn Xuân Diện
20. Hoàng Dũng
21. Phan Hoàng Oanh
22. Nguyễn Huệ Chi


CÁC NHÂN SĨ TRÍ THỨC ĐẾN VIẾNG TANG NHÀ VĂN HÓA NGUYỄN KIẾN GIANG CHIỀU 4-12-2013 TẠI NHÀ TANG LỄ PHÙNG HƯNG

Phóng sự ảnh J.B. Nguyễn Hữu Vinh

Những gương mặt quen thuộc lại có dịp gặp nhau.
.
Chụp ảnh chung bên ngoài Nhà lễ tang trong lúc chờ mọi người đến đông đủ. 
Dịch giả Phạm Nguyên Trường từ Vũng Tàu cũng có mặt. 



GS Nguyễn Huệ Chi dẫn đầu đoàn trí thức nhân sĩ vào viếng.

clip_image008
 
 
 

 

Diễn đàn XHDS đưa tin:

Diễn đàn Xã hội Dân sự kính viếng Học giả Nguyễn Kiến Giang 

Giới thiệu: Một tang lễ trang nghiêm cho sự ra đi của một nhân vật có thể được coi như bậc “tiền bối” trong hàng ngũ tranh đấu cho dân chủ. Không những không bị lực lượng “chức năng” gây sự như với đám tang Tướng Trần Độ năm nào, mà còn có hẳn đoàn đại diện của Cục An ninh Chính trị Nội bộ A83 – Bộ Công an, tiếp sau đoàn đại diện cho Diễn đàn Xã hội Dân sự ít phút. 

GS Huệ Chi đã ghi vào Sổ tang:

“Chúng tôi, những nhân sĩ trí thức trong Diễn đàn Xã hội Dân sự
Xin thành kính kính viếng hương hồn một nhà văn hóa, học giả tài danh, đã đóng góp vào kho tàng lý luận những vấn đề có tầm nhìn xa về con đường dân chủ hóa cho đất nước Việt Nam: Ông Nguyễn Kiến Giang”.

Nhà thơ Hoàng Hưng cho biết: Tại nghĩa trang Vĩnh Hằng, sau khi hạ huyệt, trước mộ ông Nguyễn Kiến Giang, con gái ông là KTS Nguyễn Hồng Thục đã trân trọng đọc bài phân ưu của Bauxite Việt Nam, cùng tên 22 người đồng kính viếng.

Nguồn: BVN & Diễn Đàn XHDS



Đưa tiễn Người về miền Đà Giang Tản Lĩnh
Lâm Khang 

Một đoàn xe lặng lẽ bỏ lại kinh thành sau lưng
bỏ lại tất cả mọi thị phi, đau buồn
Không chấp!
Như đã bao năm nay vẫn thế
Tha thứ và bao dung hết thảy
lặng lẽ....đoàn xe tiến về phía Tây
nơi ấy hoàng hôn đỏ rực cuối trời
của miền Tản Lĩnh - Đà Giang oai linh và thơ mộng

Và miền đất thiêng Non Tản đang chờ Người
Để lặng lẽ ôm lấy Người, trong đêm đầu tiên hòa vào Đất Mẹ

Một cuộc ra đi trong hoàng hôn Xứ Đoài thầm lặng
Một cuộc chia tay trong chập choạng của ngày

Con cháu thì có thể ko muốn thời khắc hạ huyệt lúc ấy
Nhưng đây là thời khắc của Âm Dương Vĩnh Quyết
của tử biệt sinh ly

Màn đêm đang cố che giấu đi nước mắt thương nhớ của đàn con cháu Cụ
Màn đêm như đang vỗ về yên ủi cả người ở lại, cả người ra đi

Hay màn đêm đang đánh đồng cả thị phi đen trắng trong một phút giây hỗn độn?
Để cười cợt nhân gian?

Người dứt áo ra đi, 
thanh thản
Trong hoàng hôn xứ Đoài thầm lặng
Núi cao, đèo thẳm, sông dài…
Ngược gềnh ngược thác
Cưỡi gió trèo mây

Chống gậy trúc thăm đền đài cổ tích
Vỗ tay reo gọi hạc mời trăng..

Phất áo, Người đi
Về miền quá khứ
Về miền miên viễn xa xôi…
trong mưa lệ trần gian bạn hữu cháu con Người
....




-->đọc tiếp...

Khánh Trâm: VĨNH BIỆT NGƯỜI CON YÊU DẤU CỦA DÒNG KIẾN GIANG

VĨNH BIỆT NGƯỜI CON YÊU DẤU CỦA DÒNG KIẾN GIANG
Nguyễn Thị Khánh Trâm*
Tên ông là Nguyễn Kiến Giang , tên một con sông của đất Quảng Bình và con sông ấy lại chảy ngang chính ngôi làng nơi ông sinh ra nhưng tôi lại gọi ông là chú Kiên Giang giống như cách gọi của bố chồng mình.Tôi cũng không hiểu tại sao ông lại gọi như vậy nhưng tôi đoán rằng chữ “Kiên” là kiên cường và chữ “Giang” có nghĩa là con sông, dòng sông. Và, theo cách hiểu của tôi thì chú là một dòng sông kiên cường đúng như tính cách con người chú. Sáng nay ngày 2/12/2013 chú đã về nơi chín suối và đầu giờ chiều tôi mới biết tin-một cái tin không ai muốn nhận dẫu vẫn biết rằng sự sống thì vĩnh hằng còn đời người thì hữu hạn.
 
Chú Kiên Giang kính yêu ơi! Chiều nay từ đất phương Nam cách xa đất Bắc cả vạn dặm cháu ngồi nhớ lại những lần chú cháu gặp nhau. Lần cuối cùng là hè 2012 ở bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội rồi trước đó là những cuộc thăm viếng ngắn ngủi để cháu được nghe chú kể về những tháng năm đau buồn hay những niềm vui nho nhỏ của một đời cầm bút. Chính những năm tháng này đã tạc nên một “dòng sông kiên cường”- Kiên Giang. Lần nào ngồi bên chú cháu cũng học được nhiều điều. Cháu đã được đọc những trang viết của chú từ những năm tháng chưa có Internet, mọi người phải dấm dúi truyền tay nhau, phải tính toán xem những “tài liệu phản động” ấy đưa cho nhau lúc nào (và ở đâu) thì an toàn…Đọc những kiến thức về văn hóa, chính trị, tôn giáo…mà cứ vụng vụng trộm trộm, mắt nhìn lấm la lấm lét không khác gì phường trộm cắp xấu xa ( có đời thủa nhà ai lại vô lý và khổ sở như thế hả chú?) Một người công dân trẻ tuổi như cháu ngày ấy chưa hiểu biết gì về chính trị như bây giờ thế nhưng cháu cứ say sưa đọc “ Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Mác Lê Nin vào Việt Nam”, “ Khủng hoảng và lối ra”, “ Từ duy tân đến đổi mới”, “Công bằng xã hội và kinh tế”, “ Một cuộc chiến chống lại “phi lý tính”, “ Nhìn nhận thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay”, “ Một quan niệm về hiện đại hóa ở Việt Nam”, “ Đi tìm cách tiếp cận bản tính gốc người Việt”, “ Đời sống tâm linh và ý thức tôn giáo”…Chú đã cho cháu hiểu thế nào là sự thụt lùi của lịch sử với những dẫn chứng sinh động từ bài viết về phong trào Duy Tân với nhận xét đầy giá trị: “ Tuy nhiên, dứng trên bình diện lịch sử mà xét, chỉ riêng việc các nhà nho Duy Tân đề xướng dân chủ, văn minh, dân giàu nước mạnh…giữa một thế giới cạnh tranh quyết liệt, “mạnh được yếu thua”, cũng đủ để coi sự nghiệp của các cụ là một cống hiến vô giá cho công cuộc giải phóng dân tộc và hiện đại hóa đất nước. Cái hay nhất, cái sáng suốt nhất của các cụ chính là ở chỗ kết hợp hai mặt ấy với nhau thành một quá trình thống nhất. Nói cách khác các cụ đã đặt ra được một hệ vấn đề đúng. Và hệ vấn đề ấy vẫn đang đặt ra với chúng ta, sau gần một thế kỷ ”. 
Con người chú từ chỗ say sưa với CNCS để rồi từ bỏ chủ nghĩa ấy với bao ĐỚN ĐAU. Chỉ có những người trong cuộc thì may ra mới hiểu hết được sự “đớn đau” này. Những người như cháu nếu có “đau” thì chỉ đau ngoài da, còn cái đau của chú là cái đau cấu từng thớ thịt, cấu nát con tim…bởi thế chú mới chia sẻ “ Đó là một cuộc tự lột xác, không phải không đau đớn. Bởi vì khi tôi viết xong để mình từ giã chủ nghĩa xã hội khoa học thì gần như không ăn, uống thì có, vì nó mệt quá…Bởi vì đây là một niềm tin, một cái gì đó rất thiêng liêng, mà tự mình phải lột bỏ đi. Cái đó là một sự đau đớn ghê gớm”.

Chú Kiên Giang ơi, kể từ ngày hôm nay chú không còn phải chịu thêm cái “đau” nào nữa như nhà triết gia kiêm sử gia trứ danh Phùng Hữu Lan đã nói: Hải khoát thiên không ngã tự phi / biển rộng trời cao ta vút bay. Thật lạ kỳ, hai học giả là chú và Phùng Hữu Lan cùng có cuộc đời đầy oan nghiệt. Viết những dòng chữ này cháu nhòe nước mắt. Hình ảnh chú lại hiện về. Cháu xin gửi tặng chú những dòng ghi chép về những cuộc gặp mặt trong quá khứ coi như đây là những lời cuối cùng của chú cháu mình chú nhé. Cho cháu gửi những lời thì thầm trong gió này để nhờ gió cuốn đi đến nơi chú nằm.

CÂU CHUYỆN NĂM 2009

Cuối năm 2009 chú Kiên Giang lại hành phương Nam. Lần này đi với chú có cả cô Lan, người đã nâng khăn sửa túi cho chú hơn nửa thế kỷ. Năm nay chú cũng cao tuổi nên đem theo cả chị giúp việc người Thái Bình.

Biết tin chú vô mình không bất ngờ vì hồi tháng 6 mình có đến thăm chú ở HN. Chú bảo : “Cuối năm chú sẽ đi Sài Gòn chơi và ở nhà Tú”. Mỗi lần nhắc đến Tú mình thấy mắt chú lại sáng lên và không quên nhắc lại lời nhận xét chú đã nói với mình nhiều lần: “ Tú thông minh lắm ”. Thấy chú vui mình rất thích.

Sáng 12/12 mình nhận tin nhắn của Phượng, thư ký của NNC Cao Tự Thanh anh cũng sẽ cùng đi thăm chú Kiên Giang. Lần này Tú chuyển nhà mới mình phải điện thoại hỏi anh Tuấn. Anh lại nhắn lộn địa chỉ, thay vì 10/12 anh lại nhắn 12/10 thế là mấy anh em cứ đi lòng vòng tìm mệt nghỉ, cuối cùng cũng đến nơi.

Khách và chủ thấy nhau đều rất vui. (Bốn người khách là Trâm, Hải , Cao Tự Thanh, Phượng.) Trông chú khỏe hơn hồi hè nhưng tiếng nói vẫn yếu phải ngồi sát bên mới nghe được. Chú nói chậm, thỉnh thoảng lại cười. Chú nhắc đến một số bạn bè ở Sài gòn, Đà Lạt và nhờ mình liên lạc : “ Trâm nhắn BMQ và LP đến chơi với chú nhé ”. Chú vừa nói vừa nhìn mình, ánh mắt gửi gắm tin cậy. Ngồi một lúc chú lại nhớ ra: “ Không biết cô Hợp có còn ở SG không ? ” Mình hỏi: “ Bích Hợp tâm lý dân tộc hả chú? ”. Chú gật đầu và lại bảo mình tìm cách nào liên lạc được với chị giúp chú….Mình thì lại không quen chị Hợp. Cô Lan cũng theo dõi câu chuyện nên bảo: “ Nghe nói Bích Hợp đi Mỹ rồi thì phải ”.

Thấy chú nói nhỏ và hơi khó nghe, anh Cao Tự Thanh đến ngồi bên. Hai người chuyện qua lại đầy thân tình. Chú giải thích cho bút danh “ Lương Dân” sau một số bài viết. Chú vừa cười vừa nói: “ Lương Dân có nghĩa là dân trả lương.” Ý nghĩa ghê. Đã lâu không gặp lại người thân, chuyện tíu tít. Nói đủ thứ chuyện rồi chú lại trầm ngâm: “ Chú nhớ bố cháu quá.” Nói xong chú nhận xét: “ Hải giống ông Độ ghê, nhìn Hải lại nhớ ông Độ.” Nghe chú nói cô Lan cũng đồng tình : “ Giống thật đấy ”.

Mình biết chú và bố là hai người bạn tri âm tri kỷ. Quãng đời 10 năm ( từ 1992 – 2002 ) đầy gắn bó, đầy kỷ niệm. Hàng năm bố vô Sài Gòn khoảng 3 tháng, ngoài thời gian này (theo bố và chú kể lại ) thì tuần nào cũng vậy, cứ mỗi thứ sáu vào lúc 9h sáng là chú lại đạp xe đến chơi với bố. Khi đi chú mang theo một cái túi trong chẳng có gì và lúc vể nếu bố có sách vở hay tài liệu gì chú cần mượn đọc thì mới sử dụng đến cái túi này.( Câu chuyện cái túi của chú có một tình tiết rất hay. Hồi hè mình gặp chú ở Hà Nội, chú kể: “ Ngày bố cháu bị an ninh theo dõi ngày đêm, có một lần chú đến chơi. Trước khi vào nhà, tay an ninh chặn lại hỏi giấy tờ và đòi xem cái túi, chú đưa ra, cậu ta thấy cái túi trống không mặt tiu nghỉu, đành trả lại chú…”. Chú vừa kể, vừa cười làm người nghe cũng thích thú.)

Về tuổi tác chú nhỏ hơn bố 7 tuổi. Bố tuổi hợi, chú tuổi ngọ. Năm nay chú 79 tuổi ( tính theo AL) cái tuổi “ xưa nay hiếm”. Nhớ lại lần gặp trước, năm 2004 hai năm sau ngày bố mất, chú vô Nam cũng ở nhà Tú, nhưng là nhà cũ bên quận Gò Vấp. Thế là đã 5 năm trôi qua, nhanh quá, như một cái chớp mắt. Nhớ lại ngày ấy chú vào đến nơi là điện cho mình biết ngay và hẹn đến chú chơi. Đó cũng là một kỷ niệm không thể nào quên. Hôm ấy là thứ sáu, ngày 14/5/2004 hai chú cháu hẹn nhau khoảng 15h chiều. Đúng hẹn, Hải chở mình ra chợ Hoàng Hoa Thám mua ít quà. Xong việc này trong đầu mình chỉ mong sớm được gặp chú. Thế rồi trên đường đi mình bị giật túi ( đó là chiếc túi nhỏ màu nâu trong chỉ có vài trăm ngàn và chiếc điện thoại di động. Câu chuyện ly kỳ này mình sẽ kể kỹ trong một dịp khác). Bị cướp giật bất ngờ, nhưng mình hiểu vấn đề và trấn tĩnh rất nhanh. Sau khi trình báo công an xong xuôi, hai vợ chồng mình lại tiếp tục đến nhà thăm chú. Đến trễ 30 phút, mình xin lỗi và nêu rõ lý do “ bất ngờ bị giật túi ” ba chú cháu cùng cười….

Thế mà đã 5 năm. Chuyện mình bị giật túi ngày nào tưởng chú đã quên. Mình thử chú: “ Lần trước chú vô là năm nào nhỉ? ”, chú bảo: “ 2004 ”. À thế là mình hiểu. Ở đời có nhiều thứ khiến người ta gắn bó với nhau, trong đó chắc chắn có một thứ, đó là TÌNH NGƯỜI.

MỘT LẦN ĐẾN THĂM CHÚ KIÊN GIANG
(5/2004).

Thế là sau một năm lại gặp chú vào Sài Gòn. Chú ở nhà Tú, mới chân ướt chân ráo vô thăm con lại bị ngã một cú từ trên giường lăn xuống đất. Thấy chú ngồi dậy khó khăn, mình đỡ một tay. Chú bảo: “ May phúc ông bà lớn nên chỉ bị đau ở xương cổ đôi chút nhưng cũng là cản trở về sức khỏe, không cho phép đi chơi ĐBSCL như đã định”.

Chú vô được ít hôm là điện cho biết ngay để hẹn vợ chồng mình đến chú chơi. Bữa đó vừa đi làm về mình nhận được điện thoại. Nhận ra giọng chú bên kia đầu dây, mình mừng lắm. Sau mấy câu thăm hỏi hai chú cháu hẹn nhau ngày thứ sáu 14/5 khoảng 3h chiều mình sẽ có mặt ở nhà Tú. Từ nhà mình đến chú mất khoảng 30 phút. Chiều hôm đó đúng 14h15 Hải chở mình ghé chợ gần nhà mua ít quà rồi từ đó đi luôn. Đến ngã tư Hoàng Hoa Thám – Cộng Hòa thì quẹo phải. Vừa đi được vài trăm mét, từ phía sau một xe áp sát mình rồi nhanh như cắt chiếc túi trên người mình không cánh mà bay. Sự việc xảy ra quá bất ngờ. Là người có phản xạ nhanh, mình túm được cái dây túi cố giằng lại, miệng ú ớ không nói thành lời khiến Hải không hiểu chuyện gì đang diễn ra ở phía sau nên giảm tốc độ lại. Lúc này dây túi đứt, mình ngẩn ngơ nhìn theo bóng hai thanh niên phóng vút đi. Vì cố giằng nhau với kẻ cướp nên ngón tay trái út của mình bị rách cả da. Sau mấy giây định thần, vợ chồng mình nhận định và hiểu được vấn đề (cũng may lúc đi mình quyết định không đem theo thứ gì ngoài vài trăm ngàn và chiếc điện thoại di động.) Chẳng kịp buồn Hải nghĩ ngay đến việc quay về nhà lấy hợp đồng điện thoại đi tạm cắt thuê bao kẻo kẻ cướp sử dụng gọi chùa thì “ đau hào” lắm ( trong trường hợp đó là “kẻ cướp” thật.) Có hợp đồng trong tay, hai đứa đến một cửa hàng điện thoại di động trên đường CMT8. Trong lúc ngồi chờ làm thủ tục thì Hải nhận được điện thoại từ nhà gọi đến. Đó là chị T, cô giáo dậy vẽ của con gái mình. Chị bảo công an gọi điện đến nhà thông báo cho biết đã bắt được tụi cướp cạn, trong lúc đang đi tuần bắt gặp quả tang nên đã đuổi theo tụi cướp và lấy lại tài sản cho Trâm. Mời Trâm đến công an phường 4 Quận Tân Bình nhận lại tài sản. Nghe thấy vậy, mình hối hả đến đồn công an. Sau khi nhận được chiếc túi, tiền và điện thoại Hải lại chở mình tiếp tục đi thăm chú Kiên Giang. ( Việc bị cướp này, khoảng vài tháng sau mình nhận được giấy mời của tòa án mời đến tham dự phiên tòa xét xử…nhưng mình không đi).

Việc bị giật túi bất ngờ nên giờ hẹn trễ mất nửa tiếng. Chú đón mình với tin nóng hổi. Nghe xong chú tủm tỉm cười. Cái cười của một người đầy trải nghiệm. Mình được nhìn thấy chú cười nhiều lần, nhưng lần này thật đặc biệt…Thế rồi ba chú cháu quên ngay chuyện này để bắt đầu những câu chuyện khác.

So với lần gặp trước, chú gầy và yếu nhiều. Mình thấy vậy nhưng không dám nhận xét. Mình chỉ nói: “ Chú phải khỏe đấy. Khỏe cũng là nhiệm vụ chú ạ ”. Sau một thời gian dài mới gặp lại chú nên mình mừng lắm. Quả là nhân duyên. Bố mình vẫn bảo: “Chú là một nhà lý luận hàng đầu Việt Nam”. Như thường lệ, chú nói chuyện nhỏ nhẹ, thân tình. Lần nào cũng vậy, nói chuyện với vợ chồng mình chú đều nhắc đến bố Độ. Hai ông bạn già này có rất nhiều tâm đầu ý hợp. Có những chuyện mình được nghe cả từ bố và chú. Hôm nay chẳng có bố Độ nhưng được nói chuyện với chú cứ như đang có bố trước mặt. Chú cứ tiếc là hai anh em có ý định sẽ một lúc nào đó cùng nhau đi Sài Gòn một chuyến thăm bạn bè phương Nam…vậy mà bố đi xa trước nên lời hẹn không thành. Mình nghe tâm sự của chú buồn quá, lòng bâng khuâng nhớ bố, không nói được câu nào. ( Thay vào đó hình ảnh đám tang lại tràn về, những cái cảnh úp mặt phải bức trướng vào tường để không ai đọc được, cảnh giật bỏ băng tang trên vòng hoa, cảnh kiểm duyệt câu chữ của người đến viếng…không thể nói gì hơn là nhân quyền bị chà đạp.) Bố có nhiều bạn, nhưng người hiểu bố và chia sẻ được rất nhiều điều thì không ai khác ngoài chú Kiên Giang.

Chuyện trò một lúc thì Tú đi làm về. Tú thay đồ rồi ngồi với khách .Tú là con gái của chú, lần đầu gặp mình đã thấy dễ gần. Thêm người, thêm chuyện. Nào chuyện xã hội, chuyện nhân tình thế thái, chuyện làm ăn…cứ thế trôi ào ào ( cả vui lẫn buồn). Chú cho biết lần này sẽ ở Sài Gòn khá lâu. Mình định hỏi chú một vài chuyện với tư cách là người trong cuộc nhưng thấy chú mệt và biết chú còn ở chơi lâu nên để dịp khác. Ấn tượng hôm nay của mình là chú rất vui. Chú nói: “ Ngồi với Trâm Hải hôm nay là lâu nhất so với ngày mới vào đây, vì chú bị mệt cứ phải vừa tiếp bạn ( chú Vấn) vừa nằm. Hôm nay vui quá ngồi được lâu ghê ”. Nghe chú nhắc đến chú Vấn, mình lại bùi ngùi. Chú là BS Vấn, người cũng có tên trong danh sách “ xét lại chống Đảng ” ngày nào. Bây giờ thì đã ba năm rõ mười. Đảng nhận sai lầm nhưng cuộc đời của các chú đã bị vùi dập. Những con người bị đánh cắp tương lai….

Bên ngoài trời chạng vạng tối, mình xin phép chú ra về mặc dù rất muốn ngồi thêm vì còn cả bụng chuyện chưa nói hết. Trước khi chia tay, mình hẹn chú và Tú thu xếp một buổi đến mình chơi và chú đã nhận lời.

CUỘC ĐỜI NGHIỆT NGÃ

Hôm qua, chủ nhật ngày 23/5/2004 mình vừa đi Mỹ Tho về Tú gọi điện thoại hẹn đưa chú Kiên Giang lại nhà thăm nơi ở cũ của bố Độ và thăm gia đình Trâm Hải. Mừng quá, Hải và mình chạy vội lên khách sạn Equatorial mua bánh mì đen và bánh ngọt, trên đường về mua thêm Jambon, chả lụa, ít trái cây. Chuẩn bị xong xuôi thì vừa lúc gia đình Tú ( ông xã và cậu con trai ) cùng chú vừa đến nơi. Vừa bước vô nhà, chú hỏi mình: “ Trước đây bố cháu ở đâu ?”. Mình dẫn chú bước chậm rãi về phía cuối căn nhà. Đây nhà phòng của bố Độ mỗi lần bố vô Nam. Căn phòng đơn sơ với chiếc giường đơn rộng 1,2 m. Phía đầu giường là cái giá đầy ắp sách, kế bên là chiếc bàn gỗ trên để đèn bàn vì bố thường hay ngồi viết ban đêm. Sát lối vào có đặt bộ bàn ghế nhỏ chỉ đủ chỗ cho hai người, là nơi bố thường ngồi đọc sách và uống trà. Chú lặng lẽ nhìn căn phòng còn mình lại nhìn chú, trong đầu nhớ đến câu chú nói với mình hôm bố mất: “ Xúc động thì vô ngôn ”.

Từ hôm bị ngã, chú đi lại rất khó khăn, ngồi lâu cũng mệt. Ngồi ở phòng ăn không tiện, mình dọn đồ ăn ra phòng khách nơi có bộ salon dựa lưng khá êm. Chú ngồi đó mình mới yên tâm. Vợ chồng mình quý chú nên chủ và khách không mầu mè khách sáo. Chú ngồi chơi, ăn ngon cứ nói: “ Định không ăn uống gì cuối cùng lại ăn no quá…” ( chẳng là Tú cốt ý không báo trước, chỉ điện thoại hẹn đến chơi rồi về, không cho mình bày vẽ gì cả). Vừa ăn mọi người vừa nhắc đến cái thời bao cấp. Ngày ấy không mấy khi được ăn no. Ai ai cũng thiếu ăn, ai ai cũng lo toan. Rồi thì thiếu điện, thiếu nước. Thiếu điện thì dùng đèn dầu, thiếu nước thì đêm đêm phải hứng từng giọt. Nói đến đây mấy chú cháu đều nhớ đến câu nói rất phổ biến thởi ấy mà ai cũng biết: “ Cả nước lo việc nhà, nhà nhà lo việc nước ”. Câu chuyện trở nên rôm rả nhất là bàn đến cái ăn. Ngày nay cũng vẫn chủ đề ăn này, hầu hết các bà nội trợ lại thường bảo nhau: “ Không biết ăn cái gì? ”

Chuyện xưa, chuyện nay đan xen nhau. Cuối bữa ăn chú kể về những ngày đi tù. Chuyện này có liên quan đến vấn đề “ Xét lại chống Đảng ” mà chú là một trong những người nằm trong cái bản danh sách oan nghiệt ấy. Mình lắng nghe mà tim cứ đập thình thịch. Chú nói chậm rãi về cái quá khứ như ta xem lại một cuốn phim. Họ bắt chú ngày 18/10/1967. Đó là một ngày định mệnh. Chú được thả năm 1976. Rất trớ trêu là khi bắt thì có lệnh, nhưng khi thả thì chẳng hề có một thứ giấy tờ gì. Đúng ngày bắt chú, ông Lê Đức Thọ còn gặp chú và nói rằng: “ Đảng không bỏ tù các anh đâu ” vậy mà chỉ một tiếng sau đó chú bị đưa lên xe và chuyến “ không bỏ tù” ấy dài đằng đẵng hàng chín năm trời… Những ngày trong tù chú bảo đói khổ chú không sợ, mà sợ nhất là quá thừa thời gian, nhưng chú đã biết sử dụng khoảng thời gian ấy để đọc và học thuộc lòng cuốn Bách Khoa Toàn Thư bằng tiếng Nga từ A đến Z. Ngoài ra chú còn dặn gia đình mang cho chú sách toán, lý để chú luyện trí óc: “ Buổi sáng lấy toán ra học, đọc bài toán đố, sau đó suy nghĩ cách giải. Đến chiều giở sách ra so sánh kết quả…cứ như vậy để thời gian trôi nhanh”. Mình nghe phục chú quá và còn tự dặn mình phải ghi nhớ kinh nghiệm này để viết lại phổ biến cho nhiều người nghe mà chẳng may thời cuộc đưa đẩy “ được” đi tù. Có chi tiết này chú kể nghe thật khôi hài. Đó là có lần chú yêu cầu giám thị nhắn gia đình gửi cho bộ truyện “ Chiến Tranh và Hòa Bình ”. Họ chẳng hiểu đó là một bộ tiểu thuyết sử thi nên không cho nhận mà còn khuyên chú: “ Dính đến chiến tranh và hòa bình phức tạp lắm, anh đừng nên đọc làm gì…” như vậy có những thứ sách họ cho nhận, có thứ không. Kể lại thời đau buồn đầy ẫu trĩ đó chú tâm sự: “ Tuy một số anh em có những bất đồng chính kiến, nhưng tất cả không ai đầu hàng hay hóa điên. Đó là tốt lắm rồi! ”. Nhắc đến cuốn sách viết gần đây của Vũ Thư Hiên “Đêm Giữa Ban Ngày” chú nói: “ Thằng Hiên nó viết ban ngày nhưng đã bao giờ có ban ngày đâu?”. Chú nói xong là cười liền. Thế rồi tiếp luôn: “ Chú đang viết cuốn trải và nghiệm , viết được 200 tr rồi khi nào xong sẽ cho Trâm.”

Chuyện đời chú đầy nước mắt. Nhưng những người được biết về cái thời “ oan nghiệt và cay đắng ” này không nhiều. Lý do là bị bưng bít thông tin. Mặc dù gây ra ( cái này phải gọi là tội ác) nhưng Đảng chỉ nhận là “sai lầm” và hình như cũng chưa chính thức xin lỗi các nạn nhân. Thế là không sòng phẳng. Nếu kể theo trình tự thời gian tính từ ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc 1954 cho đến cuối thế kỷ 20 thì cái tội ác này lần lượt sẽ là: Cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, Xét lại chống Đảng, hậu Nhân văn ( tiêu biểu là vụ án “Về Kinh Bắc”), đàn áp và trừng trị các thành viên của CLB những người kháng chiến cũ ( một thời là các đồng chí của Đảng, trong đó nhiều người có chức vụ cao)… Không ai nói ra nhưng trong đầu mỗi người thì đầy rẫy những câu hỏi “ Tại sao? ” và mình lại nhớ đến câu than thở của bố: “ Bây giờ chẳng có lý tưởng gì nữa mà chỉ còn ước mơ thôi! ”. Vâng, ông là tác giả của bài viết cho thanh niên lừng danh một thời: “ Lý tưởng, ước mơ và nghĩa vụ ” bây giờ chỉ còn một vế…

Người lớn thì tâm sự chuyện đời, trẻ con thì vô tư nô đùa. Bữa cơm hôm nay có đủ ba thế hệ. Chủ yếu mình nghe chuyện đời chú và tận tai chứng kiến cái thời đen tối nhất của một con người. Chẳng biết nói gì hơn là thốt lên hai từ ĐAU ĐỚN! ( bởi đó là cái thời trẻ trung, xung mãn nhất của một đời người). Đang chuyện buồn thế rồi thoát ra lúc nào không hay. Chú kể chuyện sinh hoạt. Hàng ngày chú vẫn làm việc hai buổi, mỗi buổi 45 phút. Mình chỉ mong sao chú thật khỏe để chứng kiến ngày lịch sử thay đổi, trả lại công bằng cho mọi người, cho những người như các chú. Theo dõi thời sự hàng ngày, chú rất buồn là vừa qua nhà nước làm lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ ( 1954 – 2004), họ chẳng nói gì đến tướng Lê Liêm, tướng Đặng Kim Giang. Hai vị tướng trong bộ tư lệnh chiến dịch cùng với tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Hoàng Văn Thái. Chú hay so sánh bố Độ với Tướng Lê Liêm. Chú nhận xét nhiều nhưng mình nhớ nhất là họ có nhiều nét giống nhau: thẳng thắn, chân tình.

Hai người, bố và chú bắt đầu thân nhau từ 1992 và gắn bó suốt 10 năm trời. Hàng tuần cứ thứ sáu chú lại đạp xe đến chơi với bố, ngày nắng cũng như ngày mưa. Đó là những năm tháng chú có nhiều kỷ niệm với bố. Chú bảo: “ Trong hàng ngũ lão thành chỉ có bố cháu là vượt được cái ngưỡng, từ bỏ được CNCS…”

Thưa chú Kiên Giang, chú đã mang tên một dòng sông- một DÒNG SÔNG KIÊN CƯỜNG. Tên tuổi và những đóng góp của chú sẽ được lịch sử mãi mãi khắc ghi. Chú là một DÒNG SÔNG TRI THỨC. Cũng như “ Tất cả những dòng sông đều chảy ” dòng sông Kiên Giang sẽ mãi mãi không bao giờ ngừng trôi, nguồn tri thức vô giá mà chú để lại cho đời sẽ đi bốn phương trời, sẽ vượt đại dương còn dòng sông Kiến Giang mãi mãi chảy qua ngôi làng của chú ở huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình, nơi có con người thuộc số tri thức hàng đầu Việt Nam đã dâng hiến hết mình để khai sáng và làm gương cho các thế hệ tri thức Việt hôm nay và mai sau.

Vĩnh biệt chú, người con yêu của đất Quảng Bình và của Mẹ Việt Nam.

“ Biển rộng trời cao ta vút bay ” chú nhé !
N.T.K.T
___________

*Tác giả là nhà nghiên cứu văn hóa, và là con dâu của Tướng Trần Độ.
-->đọc tiếp...

HỌC GIẢ NGUYỄN KIẾN GIANG LUẬN VỀ CÁI CHẾT, ĐÁM TANG VÀ CÕI ÂM

.
Rồi ai cũng về cõi âm 
Nguyễn Kiến Giang


Ðầu năm 1993, tôi gặp anh Trần Văn Thủy ở nhà anh Trần Ðộ. Chúng tôi nói chuyên lan man với nhau, chẳng hiểu thế nào lại đụng tới chuyện đời sống tâm linh, và từ đó lại đụng tới chuyện cái chết. Thủy mượn bài “Con người và cái chết” của tôi. Ðọc xong, Thủy liền đề nghị tôi giúp làm một cuốn phim về chủ đề này. Tôi nhận lời. Tôi không biết viết kịch bản phim. Sản phẩm của tôi cuối cùng chỉ là bài bút ký này, trong đó có nhiều ý lấy từ bài viết kia. Hình như nó cũng gợi ý phần nào cho Thủy làm phim Một cõi tâm linh.
 

*
Gần như đã thành một thói quen, đến nơi nào lạ, tôi thường đến viếng nghĩa trang nơi đó. (Nếu chợ là nơi phản chiếu phần nào đời sống vật chất thì nghĩa trang là nơi phản chiếu một phần văn hóa tâm linh của một địa phương). Có lẽ ít có đất nước nào lại có “sưu tập” nghĩa trang phong phú như nước ta. Những nghĩa trang có từ lâu đời đến những nghĩa trang mới tụ. Những nghĩa trang của nhiều tộc người khác nhau, mồ mả chôn cất kiên cố hay bị “bỏ” đi. Những nghĩa trang của người chết “thông thường” hay trong chiến tranh ác liệt. Những nghĩa trang của thường dân và của các bậc quyền cao chức trọng. Những nghĩa trang hiu hắt vài chục ngôi mộ và những nghĩa trang hàng nghìn mồ mả đến rợn người. Những nghĩa trang Trường Sơn kia, ai biết được hết những cung bậc tình cảm của người đến viếng...
 
Cảm giác khi đứng trước những nghĩa trang ấy cũng thật khác nhau. Những nấm mồ gây ấm lòng và những nấm mồ khiến buồn tê tái. Những nghĩa trang như nối dài cuộc sống bình thường và những nghĩa trang như sự kết thúc khủng khiếp của đời người.
 
Tôi quen một người đàn bà đã lớn tuổi. Gần hai mươi năm trời bà đi tìm mộ con, đứa con trai độc nhất, một trong vô vàn những chàng trai đã ngã xuốg trên chiến trường B, không tăm tích. Những bà mẹ của lính Mỹ chết trận tại Việt Nam, hai mươi năm sau họ còn lên tiếng đòi đưa thi hài con mình về nước. Họ nói với quốc hội Mỹ, họ nói qua báo chí, họ đòi con mình quyết liệt. Tôi chia sẻ tình cảm của họ, thật chân thành. Vậy là, tuy không có văn bản nào ghi cả, quyền đòi thi hài những đứa con chết trận đã thành một quyền con người thật sự. Người đàn bà đi tìm con gần hai mươi năm ấy, người mẹ Việt Nam ấy, không lên tiếng đòi gì cả, nhưng hãy nhìn những dấu chân bà - theo sau những dấu chân người lính - lần theo những địa chỉ không chỉ cái gì rõ ràng... Một dòng thư của bạn con bà báo về cái chết của thằng con trai một của bà, không thể vắn tắt hơn. Cái tên A La, nơi con bà chết ấy, không hề có trên bản đồ, cũng chưa có trong ký ức người dân. Nhưng bà vẫn đi tìm, từ nghĩa trang này đến nghĩa trang khác ở một vùng vô danh. Cho đến mùa hè năm nay, bà vẫn đi tìm con như bao năm trước... hết hy vọng đến vô vọng. Không biết có bà mẹ Mỹ nào âm thầm tìm kiếm dấu vết con mình như bà? Mà ở Việt Nam, đâu chỉ có một mình bà? Một con số có lẽ tất cả chúng ta đều cần biết: khoảng ba mươi vạn người mất tích trong cuộc chiến. Còn con số liệt sĩ được biết là khoảng một triệu...
 
Ở đất nước này, chúng ta mặc niệm những người ngã xuống trong chiến đấu với tiếng nhạc Hồn tử sĩ rất đỗi thân quen. Vâng, họ chính là những tử sĩ mà hồn tạo nên những luồng linh khí bay lượn trong cõi vô cùng, như một câu thơ trong Chinh phụ ngâm: “Hồn tử sĩ gió ù ù thổi...”
 
*
 
Mồ mả... Trên mặt đất, đâu chẳng có mồ mả. Tôi không nghĩ rằng chỉ người Việt mới tôn trọng mồ mả cha ông. Nhưng sự tôn trọng này ở người Việt quả là có một sắc thái riêng. Mồ mả là chốn thiêng liêng nhất trong tâm thức người Việt. Mồ yên mả đẹp bao giờ cũng là phần thưởng lớn nhất và cũng là cuối cùng của một đời người. Vì thế, xúc phạm mồ mả bao giờ cũng bị coi là một trọng tội, hơn nữa, một tội ác tày trời, không tội ác nào sánh tày. Ðối với người Việt, một dân tộc trải qua nhiều cuộc chiến đấu chống xâm lăng mà các nhà sử học coi đó là nét chủ đạo của toàn bộ lịch sử dân tộc, tội ác gì là ghê gớm nhất của những kẻ phản dân hại nước vậy? Ðó chính là tội “rước voi về dày mả tổ”. Ðúng thế, xúc phạm đến mồ mả chững người đã khuất là một tội ác “trời không dung, đất không tha”. Ngày xưa là thế, ngày nay cũng thế.
 
Vậy mà, trong khi những bà mẹ héo hắt đi tìm dấu vết con mình, như bà mẹ trên đây, lại có những kẻ đang tâm phá mồ mả. Ðể lấy của (có thật hay tưởng tượng), họ phá các lăng mộ của vua chúa, phá cả nơi yên nghỉ của các nhân vật lịch sử. Một chuyện mới xẩy ra, đụng tới Nguyễn Phi Khanh. Nguyễn Phi Khanh - thân phụ Nguyễn Trãi, vị anh hùng cứu nước, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế kỷ XV- bị quân Minh bắt về Trung Quốc. Ông mất ở đó. Sau khi thất bại, tướng nhà Minh là Vương Thông không quên ơn Nguyễn Trãi tha tội chết cho cả đạo quân xâm lược thua trận, khi về nước đã tìm mộ Nguyễn Phi Khanh và cho đưa hài cốt ông về Việt Nam. Nguyễn Trãi chôn cất cha mình trên núi Yên Tử, giữa những đám mây mù bảng lảng. Mấy trăm năm, Nguyễn Phi Khanh nằm trên núi cao vòi vọi, giữa thiên nhiên trường cửu. Nhưng ngôi mộ Nguyễn ấy đã bị đào bới...
 
Cũng mới đây, ở Quảng Trị, vùng đất lửa trong chiến tranh, một chuyện kinh khủng xẩy ra, làm nhức nhối lòng người cả nước. Một lũ người làm hàng nghìn ngôi mộ liệt sĩ giả để bỏ túi hàng trăm triệu đồng kinh phí Nhà nước cấp cho để tìm kiếm, qui tập và xây dựng nghĩa trang liệt sĩ. Xương súc vật được dùng thay xương người. Một bộ hài cốt chia ra, mỗi ngôi mộ một ít... 
Những kẻ đầu têu bị lãnh án đích đáng: tử hình.
 
Những chuyện khốn kiếp ấy, may thay, không nhiều và bị ngăn chặn kiên quyết. Nhắc lại những chuyện này cũng là điều bất đắc dĩ.
 
*
 
Mồ mả ở các vùng quê Việt Nam từ xa xưa đã trở thành một bộ phận thân thuộc của cảnh quan. Trừ các thành phố và một số nơi có nghĩa trang tập trung, nói chung ở nông thôn, con cháu cày cấy bên cạnh mồ mả cha ông nằm rải rác trên đồng ruộng. Người đang sống và người đã chết vẫn liền kề nhau, dù ở hai cõi âm - dương khác nhau. Ðó là thể hiện cách hiểu âm - dương không phải là hai cõi cách biệt trong tâm thức dân gian, hay đó là sự cố gắng để cho cõi âm không xa lánh hẳn cõi dương? Không thể trả lời rành mạch được. Chỉ có điều là trong tâm thức người Việt, sự cách biệt âm - dương không bao giờ là tuyệt đối.
 
Bạn hãy nhìn dãy núi xanh lam kia (xin nói thêm: gần như ở nơi nào trên đất nước Việt Nam người ta cũng có thể nhìn thấy núi ở phía trời Tây, trừ đồng bằng Nam Bộ). Người Việt hay dùng mấy chữ “khuất núi” để chỉ sự ra đi của một con người. Khuất núi nghĩa là vẫn ở trên mặt đất này nhưng ở bên kia núi: sự xa cách được rút gần lại. Núi ở Việt Nam nói chung cũng là ở phía trời Tây, mà theo tín ngưỡng từ thời rất xa xưa, không rõ bắt nguồn từ đạo Phật hay từ đạo Lão, những tôn giáo này coi phương Tây là hướng thiêng liêng nhất, là tượng trưng cho sự bất tử và cõi cực lạc. ở miền Trung quê tôi, người ta chôn cất người chết đầu quay về núi, có lẽ vì thế. Núi là nơi kết tụ linh khí đất nước, giữ vị trí chủ đạo trong cảnh quan.
 
Ở đây chúng ta bắt gặp thêm một nét quan trọng trong tâm thức người Việt: cõi âm là cõi thân thuộc, cõi vĩnh hằng của con người. Không phải đi sang cõi âm mà là “về” cõi âm. Về - từ này hàm ý một sự trở về lại nơi cũ. Về cõi âm có nghĩa là về lại nơi gốc gác của con người. “Sống gửi thác về” - dù quan niệm về nơi cư trú của con người sau khi chết là ở đâu đi nữa, người Việt bao giờ cũng dùng từ “về” để chỉ sự trở về của con người sau khi sự sống kết thúc: về trời hay về cõi âm là cùng một ý. Hồi nhỏ, đi theo những đám tang, lòng tôi không ngớt nao nao vì một câu hò tiễn biệt:

Hò đưa linh, (là) hò đưa linh
Vong linh nay đã về trời
Chèo ba (ơi mà) nhịp bảy
Ðưa người (xa) cách xa...

Một con thuyền vỗ sóng, mái chèo đưa đẩy nhịp nhàng, con thuyền lướt nhẹ trên mặt đất về nơi an nghỉ của người vừa mất, về nơi phần mộ được dành cho. Về không chỉ là có cái gì đó tiếp nối sự sống sau khi chết, đó còn hơn là một sự tiếp nối đơn thuần, đó là sự tồn tại vĩnh hằng, là sự trở lại mãi mãi với cõi thiên đường, hay cõi Niết bàn, hay một cõi mung lung nào đó, nhưng chắc chắn không phải đi sang cõi địa ngục.

 

*
 

Trong tín ngưỡng của người Việt, không có chỗ dành cho địa ngục chăng? Có, người Việt cũng có ý niệm về địa ngục như sự trừng phạt đối với cái ác của con người khi còn sống. Thuở nhỏ, lũ chúng tôi hay ra chơi ở chùa làng. Phần lớn những ngôi chùa làng đều có hai pho tượng Ông Thiện - Ông Ác, nhưng lũ chúng tôi sợ nhất là những cảnh trừng phạt của Diêm Vương dưới âm phủ. Ăn ở hiền lành, chẳng những sẽ được về trời êm thấm, mà còn tránh được những hình phạt ghê gớm sau khi chết: bỏ vào vạc dầu đun sôi, cưa thân hình làm đôi, bắt qua cầu có hàng đống rắn rết ngóc lên chực mổ vào người...
 

Nhiều thế hệ ngày xưa có lẽ một phần vì sợ hãi trước những cảnh trừng phạt khủng khiếp nơi địa ngục kia nên tránh được điều ác khi còn sống chăng? Tôi không muốn sa vào câu chuyện đạo đức thiện - ác ở đây, tôi chỉ muốn nói rằng con người ngày xưa thường tính tới những gì xẩy tới sau khi chết, họ biết trù tính cho mình một cuộc đời sau khi chết. Nghĩa là họ tin chắc chắn rằng chết không phải là hết...
 

Chết không phải là hết. Niềm tin ấy có còn cần thiết nữa không, có cần phải được chứng minh theo lối duy lý không, hãy để những câu hỏi ấy cho các nhà triết học trả lời. Riêng tôi, bằng một sự cảm nhận trực giác nào đó, tôi nghĩ rằng cha ông ta đã hoàn toàn đúng khi tin chắc rằng chết không phải là hết. Chết là bước sang một cuộc đời khác, và ở đó người ta thụ lĩnh hậu quả tốt hoặc xấu của cuộc đời tước đó. Và bây giờ, bạn thử tưởng tượng xem người ta sẽ dễ dàng phạm tội ác như thế nào nếu không hề băn khoăn chút nào về những gì đón đợi mình sau khi chết. Phải chăng đó là mảnh đất nuôi dưỡng mọi thứ tôn giáo trên thế giới này? Và dù không theo hẳn một tôn giáo nào, tôi vẫn cho rằng niềm tin “chết không phải là hết” ít nhiều mang màu sắc tôn giáo ấy giúp cho người ta sống tử tế hơn nhiều. Vâng, tôi không theo một tôn giáo nào cả, nhưng cứ mỗt lần nghe những lời tụng niệm nguyện cầu cho người chết về nơi vĩnh hằng, tôi càng cảm nhận rõ hơn, sâu sắc hơn rằng “chết không phải là hết”.
 

*
       

Ai chết đó, nhạc sầu chi lắm thế,
Chiều mồ côi đời rét mướt ngoài đường...
(Huy Cận)


Chết là nỗi buồn, nỗi đau lớn nhất của con người. Hoài vọng về sự bất tử không thể nào che lấp sự mất mát cuộc đời hiện hữu. “Chết không phải là hết” - điều đó không bao giờ bù đắp trọn vẹn cho cảm giác đáng sợ “chết là hết”. Sự tiễn đưa cuối cùng nào cũng để lại một sự trống vắng trong tâm hồn. Vì thế, lễ tang là lễ trọng đại nhất trong cuộc đời mỗi người. Sinh ra là một thời điểm trọng đại. Lớn lên, lấy vợ lấy chồng cũng là một thời điểm trọng đại. Về già, lên lão, lại là một thời điểm trọng đại khác nữa. Mỗi thời điểm ấy đều được đánh dấu bằng những nghi thức trang trọng hay đơn sơ tùy ý. Nhưng không có nghi thức nào ở người Việt được cử hành trang trọng như lễ tang. “Nghĩa tử là nghĩa tận” - chúng ta không tự cho phép mình sơ xuất đối với lễ tang một người thân, một người bạn.

 

Những đám tang ngày ngày hiện lên trước mắt. Những đám tang hết sức khác nhau ở nông thôn và thành thị, của thường dân và của người nhiều danh vọng, của tín đồ đạo Phật và đạo Kitô, hay không của đạo nào cả, của nhà nghèo và nhà giàu... Hết sức khác nhau, nhưng cũng hết sức giống nhau ở những nét mặt buồn rười rượi của bạn bè, thân thích tiễn đưa... Lòng tôi chết lặng đi trong những đám tang lặng lẽ của tin đồ Kitô giáo, không nghe thấy một tiếng khóc to. Lòng tôi bị xé trong những đám tang có tiếng khóc gào thét của mẹ khóc con, vợ khóc chồng, con khóc cha...
 

Ngày xưa làng nào cũng có sẵn một bộ lễ tang được dân làng bảo quản cẩn thận nhất. Nhưng rồi có một thời, do hiểu sai lạc, người ta muốn làm tang lễ theo “kiểu mới”, chỉ cần xúm nhau khiêng cỗ quan tài trần trụi đi chôn cất, hoặc đặt quan tài lên một cỗ xe ba gác đẩy đi. Có phần hiểu sai lạc, nhưng cũng có phần do hoàn cảnh chiến tranh. Một trận máy bay trút bom xuống là hàng chục, hàng trăm người chết, không nguyên vẹn hình hài. Chỉ có thể giành lấy những lúc tạm ngớt tiếng bom đạn để chôn cất người thân. Lấy đâu ra những nghi thức, những phương tiện cần thiết để làm một lễ tang chu tất, đàng hoàng!
 

Biết bao nhiêu thứ phong tục hỗn hợp trong một lễ tang. Có thể nhìn thấy ở đó những cái hợp lý và những cái phi lý, nhưng hãy khoan vội phán xét khi chưa biết rõ những nghi thức đó. Một điều chắc chắn là những nghi thức đó đều chứa đựng một cốt lõi không thể xóa mờ: thương xót, tiếc nuối người đã mất và đưa họ - cả thể xác lẫn linh hồn - thật yên lành, không để họ cô đơn, mất đường về với bà con thân thích. Tiễn đưa, nhưng không vĩnh biệt mãi mãi. Bạn hãy nhìn những đốm vàng mã rắc trên đường kia, đó là để đánh dấu đường về cho linh hồn người chết. Bát cơm - ân huệ đầu tiên và cuối cùng của trời đất dành cho con người. Quả trứng - biểu hiện một vòng tái sinh... Người Việt chăm sóc người chết chẳng khác mấy với chăm sóc người sống.
 

Ngôi mộ là nhà ở mới của người qua đời.Và ngôi nhà mới ấy cũng phải được chọn đất, chọn hướng cẩn thận như khi dựng một ngôi nhà ở của người đang sống, có khi còn cẩn thận hơn. Hướng phải theo thuật phong thủy, đất huyệt phải khô ráo và có màu tươi. Ðộng mồ động mả là chuyện chẳng lành, có thể đó là nguyên nhân gây ra những nỗi bất hạnh cho người đang sống.
 

Lễ tang không kết thúc ở ngôi mộ vừa đắp. Lễ tang còn kéo dài nhiều năm tháng với sự chịu tang. Những vành khăn trắng trên đầu ghi nhận nỗi thương tiếc khôn nguôi đối với người vừa mất, nhắc nhở người ta sống cho tử tế.
 

*
 

Nhưng có những người chết không có phần mộ được ngưòi thân chăm sóc cẩn thận như vậy. Ðó là những người bất hạnh, không nơi nương tựa. Khi sống họ rất cô đơn. Chết đi họ biến thành những cô hồn. Chúng ta không quên họ. Họ được mọi người thay cho người thân chăm sóc. Những kỳ tảo mộ, sau khi dẫy cỏ và vun nấm cho những ngôi mộ thuộc gia đình mình, người ta không quên sửa sang lại những nấm mồ vô chủ. Cô hồn không có ngày giỗ riêng thì mọi người dành riêng một ngày để cúng họ, ngày rằm tháng bảy âm lịch. Tiết trời lúc đó cũng như chia sẻ nỗi buồn chung. Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt... - Nguyễn Du mở đầu Văn chiêu hồn bằng trời đất mưa sầu gió thảm ấy. Không biết những linh hồn cô đơn kia có được an ủi phần nào không, nhưng lòng người đang sống quả là thêm phần thanh thản. Thôi thì ít ra lễ cúng cô hồn ấy cũng dạy cho người ta đừng quên những kẻ cô đơn. Ôi, nếu đạo lý ấy được nhớ đến, được thực hiện trong cuộc đời hiện hữu này...
 

Cũng vào dịp này, theo một phong tục xa xưa, người ta đốt vàng mã cho người thân đã mất. Mời bạn đi với tôi đến phố Hàng Mã, ngay giữa khu phố cổ của Hà Nội. Tất cả những gì người sống dùng, người chết cũng được hưởng. Nhà cửa, áo quần, xe cộ, cho đến những con chó Nhật, những máy thu hình, những đồng đô-la... tất tật, không thiếu thứ gì. Chỉ có điều là tất cả những thứ đồ cúng ấy đều làm bằng giấy để đốt đi sau khi cúng. Người ta nghĩ rằng những thứ đó sẽ đến tay người thân đã chết và không để họ thiếu một thứ gì, “trần sao âm vậy”. Một anh bạn tôi, tiến sĩ nghệ thuật hẳn hoi, cho tôi biết anh vừa đốt cho “ông cụ”, một họa sĩ nổi tiếng, cả một bộ Âu phục kèm theo một bộ “đồ ta”. Anh bạn tôi kể lại chuyện này với vẻ mặt hài lòng không cần che giấu.
 

Chuyện vàng mã chắc chắn không liên quan gì với chuyện mỹ học. Nhưnng bạn nhìn kỹ mà xem, những vật đem đốt ấy đẹp làm sao, tinh tế làm sao. Tôi không nói đó là những tác phẩm nghệ thuật, nhưng là những sản phẩm mỹ nghệ thì không thể chối cãi. Tôi chợt nghĩ: phải chăng cái đẹp cũng cần thiết cho cả những người ở cõi âm? Tại sao lại không nhỉ! Và nếu quả thật như thế, thì phải chăng khoảng cách giữa sự sống và cái chết được rút ngắn thêm phần nào?
 

Chung quanh câu chuyện vàng mã đã xẩy ra bao nhiêu sự tranh cãi, thậm chí cả những lời lên án gay gắt. Tôi không có thẩm quyền phán xét. Tôi chỉ làm công việc cảm nhận nghệ thuật vàng mã. Nếu có ai hỏi tôi: vàng mã có cần thiết không, tôi xin chịu, không trả lời được. Nhưng nếu hỏi tôi vàng mã có đẹp không, tôi trả lời không ngần ngại: đẹp!
 

*
 

Từ bao đời nay, người ta tranh cãi nhau có hồn hay không có hồn. Người Việt xưa và cả nay nữa, hầu hết đều tin là có hồn. Hồn là một tầng, và là tầng cao nhất, của mọi vật thể. Từ ngày còn ấu thơ, tôi hằng nghe nói tới “hồn sông núi”, “hồn cây cỏ”, “hồn người”... Vào cuộc đời, làm quen với nghệ thuật, lại được làm quen với những “hồn tranh”, “hồn thơ”..., với những tác phẩm được gọi là “có hồn”. Thật khó quan niệm một sự sống, một vật sống không hồn.
 

Hồn là vô hình. Nhưng hồn cũng là riêng của từng người. Người đang sống có thể gọi hồn người chết về. Có hẳn một số người - bây giờ thường gọi là những “nhà ngoại cảm” - được coi là có khả năng gọi hồn. Tin hay không tin, tùy bạn. xin mời bạn đến dự một buổi “gọi hồn”, cũng thường được gọi là “ngồi đồng”. Bạn nhìn kỹ xem những người sắp sửa lên đồng, nghĩa là sắp có hồn một người chết nhập vào họ. Những con người bình thường như mọi con người khác. nhưng khi họ lên đồng, mắt họ long lanh, mặt ửng đỏ và nói những lời không phải là của họ nữa. Họ tự giới thiệu mình là ai, từng sống và chết như thế nào, và căn dặn những người thân đang sống những lời tha thiết... Nhận ra hồn người thân mình (đúng hay không đúng) người nghe xúc động mạnh và nhiều khi khóc to lên như chưa bao giờ được khóc. Một sự “bùng nổ nước mắt” thật sự. Những cuộc lên đồng như vậy trước đây cũng như hiện nay, thường bị lên án là “mê tín dị đoan”. Có phần cũng như thế thật, nhưng có thật hoàn toàn như thế không? Riêng tôi, tôi chỉ rút ra từ đó một suy nghĩ: nếu người chết vẫn còn hồn đang sống và sống ngay chung quanh chúng ta, giữa chúng ta, hẳn chúng ta sẽ sống khác đi nhiều. Tôi chưa tin hẳn là có hồn, nhưng từ trong sâu lắng, tôi muốn, rất muốn có hồn. Lý do thật giản dị: có hồn, con người “chết không phải là hết”, hơn nữa, những mất mát lớn nhất của con người có thể được đền bù phần nào để con người sống yên hơn, mà sống yên chính là một trong những mong ước lớn nhất của mọi con người...
 

Có lẽ vì thế, người ta dùng đến cả thuật “chiêu hồn nhập cốt”. ở vùng quê tôi, từ hồi còn bé, tôi đã được dự nhưng buổi “chiêu hồn” như vậy. Nghi thức cũng đơn giản thôi. Gia đình nào có người thân chết mất xác (không tìm thấy được thi thể), thường mời một “thầy phù thủy” (pháp sư) đến làm lễ. Người ta kiếm một chiếc tiểu sành, đặt một hình nộm bằng cây dâu vào đó làm “cốt”, bên trên phủ một tấm giấy có ghi tên họ, quê quán... của người chết. Rồi thầy làm lễ mời hồn về nhập vào “cốt” và cử hành một lễ tang như thật, đưa chiếc tiểu từ nhà ra đến huyệt, có người thân mặc đồ tang đi theo. Chôn cất xong, người ta đắp lên một nấm mồ và coi nấm mồ giả ấy như một nấm mồ thật. Không biết hồn có về nhập vào cốt không, nhưng người trong gia đình đúng là có nguôi đi nỗi thương xót ít nhiều.
 

*
 

Với tất cả những thái độ và những nghi thức đối với cái chết nói trên, người Việt có phải là một tộc người có tôn giáo không? Một số nhà nghiên cứu cho rằng người Việt không có tôn giáo. Trước đây tôi cũng nghĩ như thế. Nhưng gần đây tôi thấy không hoàn toàn như thế. Không phải chỉ vì ở Việt Nam hiện có những cộng đồng tôn giáo khá lớn, nhất là của Kitô giáo và Phật giáo. Mà ngay cả ở những người Việt không theo hẳn một tôn giáo nào, theo tôi, cũng mang một niềm tin nào đó mang màu sắc tôn giáo. Không chỉ có niềm tin, còn có những nghi thức mữa. Bạn hãy vào bất cứ một ngôi nhà nào, bạn sẽ nhìn thấy ở nơi trang trọng nhất hiện ra bàn thờ tổ tiên. Tin vào sự trường tồn của tổ tiên, thờ cúng tổ tiên là một phong tục lâu đời không thể xóa bỏ được, của người Việt. (Nhân thể, xin nói rằng ngay cả những tôn giáo bài xích thờ cúng tổ tiên, nhưng để có chân đứng trên mảnh đất Việt Nam, cũng phải thừa nhận và cho phép sự thờ cúng vô cùng thiêng liêng này).
 

Ngày xưa, bàn thờ tổ tiên được bài trí rất công phu. Những khám thờ với những chiếc bài vị ghi rõ tên họ các vị tổ tiên được thờ, đặt sau chiếc lư hương nghi ngút hương trầm và những cây đèn sáng trưng, những bát hương cổ kính... Ngày lễ, ngày giỗ, con cháu quỳ lạy trước bàn thờ. Bây giờ những bàn thờ tổ tiên được bày biện như vậy không còn mấy nữa, thay vào đó là những bàn thờ bày biện đơn giản hơn, nhỏ hơn, nhưng không kém phần nghiêm túc và thiêng liêng.
 

Ðúng, thờ cúng tổ tiên không phải là một tôn giáo, nếu hiểu tôn giáo phải có giáo lý và giáo hội chặt chẽ. Nhưng nếu hiểu tôn giáo như niềm tin sâu sắc của cá nhân và cộng đồng vào một cái gì thiêng liêng, siêu việt, như một sự hướng thượng của đời sống tâm linh con người, thì tôi có thể nói chắc rằng thờ cúng tổ tiên cũng là một thứ tôn giáo. Thứ tôn giáo này không thờ một thượng đế mà thờ tổ tiên, không có giáo lý nào khác ngoài giáo lý “uống nước nhớ nguồn”, không có giáo hội nào ngoài gia đình và gia tộc. Có thể nó không cao siêu lắm nhưng không vì thế mà không sâu sắc, không đi vào tiềm thức con người. Và chắc chắn nó là một tôn giáo hoàn toàn tự nguyện đối với những ai tin theo. Nếu cần đặt tên cho tôn giáo này, có thể gọi đó là đạo Hiếu.
 

Hiếu với tổ tiên là đạo lý cao nhất của tôn giáo này. Tổ tiên vừa thiêng liêng vừa thật gần gụi. Thượng đế nằm ở ngoài ta, còn tổ tiên nằm ngay trong chính bản thân ta. Dòng máu của ta chảy từ dòng máu tổ tiên ta. (Nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại, cơ sở của sự tờ cúng tổ tiên là những hồi ức về di truyền còn được gọi là “di truyền văn hóa”).
 

Tôi không rõ việc ghi chép gia phả có phổ biến owr các nước khác không, nhưng ở Việt Nam, đó là một truyền thống lâu đời. Có thời, việc này bị coi là “tàn dư phong kiến”. Nhưng hiện nay nó được phổ biến rất rộng. Nhiều người lao mình vào cuộc đấu tranh hàng 40 - 50 năm nay, tưởng đã quên mất tổ tiên mình, chỉ còn biết những sự nghiệp lớn lao của dân tộc, của giai cấp và nhân loại, hóa ra họ đang cất công đi tìm cái cội nguồn rất cụ thể của mình trong những di sản gia đình còn sót lại, phủ đầy bụi... Gia phả bằng chữ Hán thì nhờ dịch lại, bằng chữ quốc ngữ thì ghi thêm. Tổ tiên từ nơi mơ hồ nào đó hiện rõ với những tên tuổi và hành trạng của từng người. Những người chết đang sống lại trong lòng con cháu. Nghĩa là “chết không phải là hết”. Không biết khi làm công việc sưu tầm và bổ sung gia phả này, người ta nghĩ nhiều hơn tới tổ tiên hay tới bản thân mình? Tôi cho rằng có cả hai lý do đó (mà thật ra cũng chỉ là một). Ði tìm lại dấu vết tổ tiên, nhắc nhở mọi người nhớ tới tổ tiên, đó là đạo Hiếu đối với những thế hệ đã qua. Nhưng trong khi làm công việc này, chắc hẳn người ta cũng nghĩ rằng con cháu mình mai sau vẫn sẽ nhớ tới mình, giống như mình tưởng nhớ tới cha ông... Sự sống con người hiện tại, qua quá khứ tìm thấy lại, mhư được kéo dài tới tương lai. Sự sống đã có bộ mặt trường cửu dễ nhận biết. Cái chết chỉ là một dấu ngắt trong một bài văn dài...
 

*
 

Trong mạch thời gian vừa đứt đoạn vừa liên tục ấy, sự sống và cái chết đổi chỗ lẫn nhau. Sự tôn trọng đối với người đã chết hòa chung với sự tôn trọng đối với người còn sống. Ðạo Hiếu thể hiện đối với những tổ tiên đã khuất, cũng như đối với những người lớn tuổi trong gia đình, đối với ông bà, cha mẹ. Sự thể hiện đạo Hiếu có khi cũng đi quá đà. Người ta thờ cúng cả người đang sống, hay nói đúng hơn, người đang sống tự thờ mình trong một “Sinh từ”, khiến thiên hạ đàm tiếu, chê bai. Nhưng đó chỉ là những trường hợp hi hữu. Người Việt không thờ cúng người đang sống, dù đó là bố mẹ già như ở một vài nơi châu Phi. Nhưng chúng ta chăm sóc bố mẹ già hết lòng, việc đưa bố mẹ già vào “trại dưỡng lão” là xa lạ đối với chúng ta, trừ những người không có ai để nương tựa. Ðược phụng dưỡng cha mẹ già là một niềm vui. Người già sống giữa con cái, cháu chắt quây quần chung quanh cũng là một niềm vui. Ngày nay ở các thành phố, những gia đình gồm ba thế hệ - ông bà, cha mẹ, con cái - sống chung dưới một mái nhà ngày càng ít dần, có lẽ do điều kiện nhà ở chật chội hơn là do sự lan rộng của “gia đình hạt nhân”. Ngày xưa, ở nhiều nơi, nhất là ở nông thôn, ba thế hệ sống chung nhau là khá phổ biến. Nhưng đứa con do bố mẹ đẻ ra và nuôi nấng vẫn quấn quít với ông bà, vẫn nằm trong lòng bà trên chiếc võng tre đung đưa, nghe bà kể chuyện Tấm Cám, chuyện Phạm Công Cúc Hoa, chuyện bà con hàng xóm, ngườ xa kẻ gần... Chúng bú sữa mẹ nhưng còn bú cả sữa tinh thần của bà.
 

Giữa những người thân thương như vậy, cái chết đến với người già không lạnh lùng lắm, như khi người ta đón cái chết chỉ có một mình. Thậm chí người già còn chứng kiến sự chuẩn bị cho cái chết sắp tới của mình, khá bình thản. Ðây, chiếc quan tài sắm trước đặt ngay dưới bàn thờ hay ở đầu hồi, chưa sơn quét, và còn dùng để chứa vài thùng thóc ngừa lúc giáp hạt. Trước khi được đưa xuống huyệt, nó cũng chia sẻ niềm vui nỗi buồn trong nhà, như những đồ vật thân thuộc khác.
 

Người già làm quen với cái chết như quen với những ngôi mộ gần gũi nằm giữa ruộng đồng cũng gần gũi, như quen với dãy núi xanh lam ở phương trời Tây kia. Một vòng đời đi qua, giống như một vòng đường từ nhà ra đồng, lên núi, rồi lại về nhà... Vậy đó!  
 
*
Trời chưa sáng... Tôi mơ màng một lúc trước khi tỉnh dậy hẳn. Từ phía một nhà hàng xóm vang tới tiếng kèn tang não nuột. Lại một người vừa ra đi. Một nỗi buồn không cưỡng được. Nhưng không có gì thật đáng sợ. Như một qui luật tự nhiên không muốn có, tâm thức người Việt thấm vào tôi thật sâu lắng. Cái chết bao giờ cũng là một nỗi buồn ghê gớm, nhưng ngay từ trong những nhịp sống hàng ngày hôm nay, tôi bình thản chờ nó. Nó giống như một tấm gương soi, vô hình nhưng luôn luôn hiện hữu. Một cuộc sống tử tế hẳn sẽ được thưởng bằng một cái chết tử tế. Trong sự tiễn đưa ấm áp của người thân, của bạn bè, trong sự đón nhận cũng ấm áp của đất trời...
 

Tháng tư 1993
............................................
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.
-->đọc tiếp...